Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn citation. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn citation. Hiển thị tất cả bài đăng

Danh tiếng có ảnh hưởng đến citation!

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014
Trong khoa học, tần số trích dẫn (citation) những công trình nghiên cứu là một chỉ số khá quan trọng vì qua đó mà có cơ may xin tài trợ và thăng tiến trong sự nghiệp khoa bảng. Hôm nọ, tôi chia vui với một anh bạn giáo sư toán bên Pháp có 1000 citations, một thành tích mà tiếng Anh gọi là "significant achievement". Tôi tự hỏi: sự danh tiếng (reputation) có ảnh hưởng đến citation hay không?


Tôi tìm trong Pubmed thì thấy có vài nghiên cứu trả lời câu hỏi này, ví dụ như nghiên cứu (1), và đã được University World News nhắc đến (2). Trong phân tích công bố trên PNAS (1) các nhà nghiên cứu phân tích citation của 450 nhà khoa học có trích dẫn cao, gần 84 ngàn bài báo, và 7.6 triệu citation. Họ đi đến kết luận rằng danh tiếng của tác giả là yếu tố chính có ảnh hưởng lớn đến tần số trích dẫn.

Nhưng "danh tiếng" của tác giả là cái gì? Các tác giả này cho rằng danh tiếng của tác giả là vị trí của tác giả trong cộng đồng khoa học, và vị trí này được xác định bởi số lượng và chất lượng nghiên cứu. Nói cách khác, người nào công bố càng nhiều VÀ có nhiều trích dẫn thì người đó có thể xem là "danh tiếng" (reputation).

Qua quan sát cá nhân, tôi nghĩ nhận xét này đúng, nhưng tôi muốn thêm là người mentor (người hướng dẫn) cũng quan trọng. Có cơ hội làm việc với mentor thuộc hạng đẳng cấp thế giới cũng là một lợi thế. Công bố chung với mentor như thế là một cơ hội để quảng bá tên tuổi, cũng giống như ca sĩ chưa nổi tiếng phải ra CD chung với Mr Đàm hay Mỹ Tâm hay Thanh Lam (hay ai đó có tiếng) để sau này được "thơm lây" trước khi ra CD riêng (độc lập).

Như vậy, chúng ta có thể tiên đoán số lần trích dẫn dựa vào thành tích của tác giả. Thật vậy, một phân tích khác trong ngành khoa học môi trường (3) cho thấy các yếu tố có ảnh hưởng đến citation là hệ số tác động của tập san (impact factor - IF), chỉ số H của tác giả, tổng số citation của tác giả. Trong các yếu tố đó, IF là quan trọng nhất. Công bố trên tập san có IF càng cao thì tần số trích dẫn cũng càng cao. Dĩ nhiên là qui luật này cũng có ngoại lệ, nhưng ngoại lệ không ảnh hưởng gì đến qui luật chung: IF càng cao, trích dẫn càng nhiều.
Cũng giống như người đã giàu thì dễ làm giàu thêm, vì họ có uy tín, và với uy tín, họ vay tiền dễ hơn người nghèo. Tương tự, người đã có danh tiếng sau khi đã công bố nhiều và có nhiều citation, thì trong tương lai dễ công bố bài báo hơn, và khi công bố thì được nhiều trích dẫn. Do đó, có thể nói rằng câu "the winner takes it all" là rất đúng. Dựa vào qui luật này, tôi có thể tiên đoán rằng anh bạn tôi sẽ "giàu" hơn nữa trong tương lai, và tốc độ giàu của anh ấy có thể là đường cong hàm số mũ chứ không phải đường thẳng.

Bài học ở đây là các bạn đang trên đường gập ghềnh lập nghiệp khoa học là phải cố gắng tìm nơi làm việc (affiliation) tốt để "đầu quân", sau đó cố gắng công bố trên tập san có IF càng cao càng tốt, và sau khi đã có "danh gì với núi sông" (Nguyễn Công Trứ) thì các bạn sẽ trên đường hưởng lợi từ citation.

====




(4) Ghi thêm: Đại học tôi đang làm đang có chương trình mời các visiting scholar đến làm việc một thời gian. Bạn nào nghiên cứu về bioinformatics, genetics, bone diseases, và phải có "track record" ngon lành có thể liên lạc tôi để biết thêm chi tiết. Các bạn có thể sẽ làm việc với tôi.

(5) Một bạn đọc chỉ ra một công thức ước tính chỉ số H rất đơn giản: H = 0.54*sqrt(N), N là tổng số citations của tác giả. Công thức này từ bài báo:  http://www.ams.org/notices/201409/rnoti-p1040.pdf

Trước đây cũng có một công thức tiên đoán chỉ số H công bố trên Nature:

Read more ...

Giải Nobel có làm thay đổi ảnh hưởng của người được trao giải?

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

http://thomsonreuters.com/content/corporate/images/25347/728848?view=StandardKhông nói ra ai cũng biết rằng giải thưởng Nobel được xem là một đỉnh điểm của thành tựu trong khoa học. Câu hỏi đặt ra là sau khi được trao giải Nobel, nhà khoa học có gia tăng cường độ ảnh hưởng của mình hay không? Kết quả của một vài phân tích gần đây có thể làm cho chúng ta ngạc nhiên …


Trong khoa học, mức độ ảnh hưởng được đo lường bằng tần số trích dẫn (citation). Một công trình sau khi công bố được nhiều trích dẫn là một dấu hiệu cho thấy công trình có tác động đến chuyên ngành. Nhưng tần số trích dẫn phụ thuộc vào thời gian sau khi công bố và ngành khoa học. Những ngành khoa học thực nghiệm như y khoa, hoá học, vật lí, v.v. thường có tần số trích dẫn cao hơn những ngành lí thuyết và xã hội học, kể cả kinh tế học.
Tần số trích dẫn cũng là một tín hiệu về triển vọng giải Nobel. Một phân tích của nhóm ISI (Viện thông tin khoa học) năm 1967 cho thấy trong số 50 người có tần số trích dẫn cao nhất, 6 người đã đã được trao giải Nobel, và 8 người khác được trao giải Nobel sau đó. Riêng ngành kinh tế học, trong số 50 tác giả được trích dẫn nhiều nhất trong thời gian 1966-1986, 15 người đã được trao giải Nobel, và 2 người được trao giải trong thời gian 1987-1991. 
Một câu hỏi ngược lại: nếu nhà khoa học đã được trao giải Nobel thì tần số trích dẫn của họ có tăng hay không? Bảng số liệu sau đây trình bày tần số trích dẫn mỗi năm cho các nhà khoa học được trao giải Nobel, tính 4 năm trước và 5 năm sau khi được trao giải.
Bảng 1: Tần số trích dẫn bình quân (tính trên mỗi tác giả) mỗi năm của các nhà khoa học đoạt giải Nobel
Năm
Hoá học
Kinh tế học
Vật lí
Y học
-4
10975
1604
5431
11517
-3
12583
1703
6382
11534
-2
12412
1896
7239
11247
-1
13685
1835
7650
12378
Năm trao giải
14003
2102
8368
12997
+1
16146
2607
8884
13125
+2
15998
2872
8274
12768
+3
16070
3325
8715
13352
+4
16906
3555
8870
13492
+5
17417
4031
8759
12955
% tăng trưởng
31%
76%
30%
13%
Chú thích: năm -4 có nghĩa là 4 năm trước khi được trao giải Nobel; tương tự -3 có nghĩa là 3 năm trước khi được trao giải. Năm +4 có nghĩa là 4 năm sau khi được trao giải. “% tăng trưởng” tính bằng cách lấy tổng số trích dẫn 4 năm sau khi trao giải chia cho tổng số trích dẫn 4 năm trước khi trao giải.
Tính chung, tần số trích dẫn có phần tăng sau khi các nhà khoa học được trao giải. Nhưng tỉ lệ tăng trưởng không đồng đều giữa các ngành. Các nhà kinh tế học có tần số trích dẫn tăng 76% sau khi đoạt giải Nobel. Tỉ lệ này cho các nhà hoá học là 31%, tương đương với các nhà vật lí. Riêng ngành y, tỉ lệ tăng trưởng hầu như không đáng kể (chỉ 13%). Tuy nhiên, nếu điều chỉnh cho số công trình công bố sau khi đoạt giải Nobel, tôi đoán rằng tần số trích dẫn trung bình tăng không đáng kể. Do đó, có thể nói rằng giải Nobel không làm thay đổi cường độ ảnh hưởng đáng kể.
Những dữ liệu này không làm các nhà khoa học Nobel ngạc nhiên. Giáo sư Kurt Wuthrich (Giải Nobel hoá học 2002) cho biết tần số trích dẫn của những công trình của ông tăng một thời gian sau khi ông được trao giải, nhưng sau đó thì quay về lúc trước khi được trao giải. Ông còn cho biết mỗi lần bài báo của ông nộp cho một tập san nào thì bị bình duyệt (peer review) rất cẩn thận, có khi bản bình duyệt còn dài hơn cả bài báo! Còn Giáo sư Peter Doherty có lần giảng ở Viện Garvan cho biết sau khi được trao giải Nobel y học, sự nghiệp ông chẳng có thay đổi gì, ông vẫn xin tài trợ (và vẫn bị từ chối), vẫn công bố quốc tế, nhưng ông nói đùa là còn thêm một việc: đi nói chuyện trước công chúng trên khắp thế giới. Nghe nói ông được mời nói chuyện nhiều đến nổi ông viết một cuốn sách nhỏ như là những lời khuyên cho các nhà khoa học trẻ làm sao có thể đoạt giải Nobel (“The Beginner's Guide to Winning the Nobel Prize: Advice for Young Scientists”). Tôi chưa đọc cuốn này, nhưng có vài người bạn đọc và khen lắm. Một số bài điểm sách cũng khen cuốn sách nhỏ này. Có lẽ một phần là do tác giả là nhà khoa học đẳng cấp Nobel :-).
N.V.T
Tham khảo:
Garfield E, Welljams-Dorof A. Of Nobel class: a citation perspective on high impact research authors. Theoretical Medicine 1992; 13:118-126.
Garfield E, Welljams-Dorof A. Of Nobel class: a citation perspective on high impact research authors. Theoretical Medicine 1992; 13:128-136. 
Read more ...