Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Ra toà vì không được đứng tên tác giả!

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015
Trong khoa học, tranh chấp về tác giả bài báo khoa học xảy ra rất thường xuyên, nhưng nghiêm trọng đến nỗi phải ra toà án là hơi hiếm. Ấy thế mà chuyện đã xảy ra trong một lab nghiên cứu bên Mĩ (1). Câu chuyện một lần nữa cho thấy cần phải minh bạch hơn trên các tiêu chuẩn đứng tên tác giả bài báo khoa học để tránh xảy ra những phiền phức không cần thiết.


Andrew Mallon là một nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ (postdoc) gốc Scotland được lab của John Marshall, lúc đó thuộc Đại học Brown, thu nhận. Hai người là đồng sáng chế một phương pháp điều trị Hội chứng Angelman (còn gọi là Angelman Syndrome). Hai người còn sáng lập công ti y học Ardane Therapeutic.

Năm 2011, sau khi hai người đăng kí bằng sáng chế, họ cùng viết một bài báo gửi cho tập san Neuron để công bố, nhưng Neuron từ chối bài báo. Sau đó, hai người trở nên "cơm không lành, canh không ngọt", và đường ai nấy đi. Andrew Mallon bỏ lab, ra thành lập công ti riêng có tên là Calista Therapeutic.

Năm 2013, Marshall và đồng nghiệp công bố một bài báo trên PLoS Biology (tập san thuộc hàng danh giá). Bài báo có rất nhiều đoạn y chang như bài đã nộp cho Neuron, nhưng trong danh sách tác giả không có tên của Andrew Mallon! Mallon nổi nóng và làm hồ sơ kiện Marshall (và đồng nghiệp của Marshall là Dennis Goebel) ra toà, vì loại bỏ tên của Mallon ra khỏi bài báo để công ti của Marshall hưởng lợi.

Phía Marshall thì mướn luật sư nộp hồ sơ bác bỏ vụ kiện. Họ lí giải rằng đúng là bài báo nộp cho Neuron bị từ chối (tức không công bố) nên không có vấn đề "tác quyền" ở đây. Nói cách khác, mỗi tác giả có quyền lấy chất liệu trong bài đó để sử dụng sau này khi cần. Nhưng cách giải thích này không thuyết phục được toà án.

Còn phía Mallon thì cho rằng Marshall loại bỏ Mallon khỏi bài báo là một hành động trả đũa. Hoá ra trước đây Mallon từng hợp tác với các giới chức đại học để điều tra hành vi gian lận khoa học của Marshall và một người khác tên là Cong Cao (trong lab của Marshall).

Sự việc vẫn chưa ngã ngũ. Sẽ rất thú vị để xem phán xét của toà án như thế nào. Mấu chốt của vấn đề là: Ai là người sở hữu dữ liệu? Nếu Mallon được mướn làm thí nghiệm và làm dưới sự hướng dẫn của Marshall, và khi Mallon rời lab, thì Mallon khó có thể nói dữ liệu đó là của anh ta. Đại học Brown cũng đã điều tra và họ kết luận Marshall chẳng làm gì sai. Do đó, đứng về mặt pháp lí thì Mallon khó mà thắng cuộc.

Nhưng trong khoa học, người ta thường hành xử [nói theo Trịnh Công Sơn là] tử tế với nhau, nên việc Marshall loại Mallon khỏi bài báo là một hành động không đẹp chút nào, nhất là hai người đã từng làm việc chung và cả hai cùng đứng tên trong bằng sáng chế.

Ở Việt Nam, tôi có khi được mời đánh giá thành tích khoa học của một số người, nên tôi có dịp xem qua lí lịch của một số “cây đa cây đề”. Nói chung, họ có rất ít bài báo đứng tên tác giả đầu hay tác giả chính (corresponding author), mà chỉ đứng tên chung với nhiều người khác, phần lớn là đồng nghiệp nước ngoài. Đó là hình thức “gift authorship”, tức họ chẳng có đóng góp gì cho công trình, nhưng họ là sếp nên người ta muốn để tên của họ vào bài báo để dễ làm việc sau này.

Một số em nghiên cứu sinh còn cho tôi biết rằng các em ấy thỉnh thoảng bị áp lức từ sếp phải tự nguyện rút tên mình ra và thay tên sếp vào bài báo. Lí do là sếp muốn có đủ bài báo (hay điểm) để đăng kí chức danh phó giáo sư! Chuyện nếu nói với người nước ngoài thì nghe rất hài hước, khó tin, nhưng ở VN thì hoàn toàn có thật. Khó có nơi nào trên thế giới mà một số của một tập san đăng cùng một lúc hàng loạt bài của cùng một tác giả. Chỉ có ở Việt Nam! Những sự việc như thế xảy ra một lần nữa nói lên nhu cầu về qui định tiêu chuẩn đứng tên tác giả bài báo khoa học mà tôi đã từng bàn trước đây trong sách của tôi (2).

Nhưng may phước là VN chưa có những tranh chấp như trường hợp Mallon và Marshall. Chưa chứ không phải là không có. Do đó, tôi nghĩ một cách đề phòng là VN nên có những qui định về tiêu chuẩn đứng tên bài báo khoa học để tất cả các bên đều hiểu và đồng ý trước khi bài báo được công bố.

====

(1) http://sciencecareers.sciencemag.org/career_magazine/previous_issues/articles/2015_04_24/caredit.a1500103

(2) Xem “Từ nghiên cứu đến công bố” do Nhà xuất bản Tổng Hợp xuất bản năm 2013.


Read more ...

Phát hiện gen liên quan đến loãng xương ở người Việt

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015
Tôi rất hân hạnh giới thiệu một công trình nghiên cứu mà chúng tôi rất tâm đắc, vì lần đầu tiên chúng tôi phát hiện 3 gen có liên quan đến mật độ xương ở người Việt. Đây là một nghiên cứu với chủ trương "liệu cơm gắp mắm", có nghĩa là chỉ có thể làm đến mức mà ngân sách [cực kì thấp] cho phép. Nhưng chúng tôi tự hào là với số tiền chỉ đáng tiền lẻ của những đại gia, và còn thấp hơn cái giá của một cái túi xách tay của họ, mà chúng tôi làm được một việc có ích cho cộng đồng. Trong tương lai, chúng tôi sẽ còn "mò kim đáy biển" nữa để tìm gen và qua đó nâng cao sự có mặt của VN trong thế giới nghiên cứu về gen.



Phát hiện gen liên quan đến loãng xương ở người Việt


Thông tin từ trường ĐH Tôn Đức Thắng ngày 14.3: Các nhà khoa học của trường vừa hoàn tất một công trình nghiên cứu quan trọng phát hiện 3 gen có liên quan đến loãng xương ở người Việt. Công trình đã được công bố trên “Bone”- một tạp chí hàng đầu thế giới về loãng xương và là công trình nghiên cứu về di truyền loãng xương đầu tiên ở Việt Nam.


Loãng xương là một vấn đề y tế lớn ở Việt Nam, vì gần 1/3 phụ nữ mãn kinh và 1/10 nam giới trên 60 tuổi bị loãng xương. Mỗi năm có hơn 10.000 người bị gãy cổ xương đùi, và trong số này có đến 20% tử vong sau 12 tháng bị gãy xương.

Bác sĩ Hồ Phạm Thục Lan, chủ trì công trình nghiên cứu cho biết: "Đã từ lâu, giới khoa học đã biết loãng xương là do các yếu tố di truyền chi phối, nhưng không ai biết gen nào có liên quan đến loãng xương ở người Việt.”

Trong nghiên cứu này, bác sĩ Thục Lan và cộng sự rà soát hệ gen và tập trung vào 30 gen đã được phát hiện ở người da trắng, và phân tích với mật độ xương ở người Việt. Bác sĩ Thục Lan phát hiện 3 gen, cụ thể là MBL2, SP7 and ZBTB40, có liên quan đến mật độ xương ở người Việt.

Đây là một công trình nghiên cứu về di truyền loãng xương đầu tiên ở Việt Nam. Các nhà khoa học sử dụng công nghệ phân tích di truyền hiện đại nhất của Viện nghiên cứu y khoa Garvan (Australia) để phân tích gen.

“Một trong những phát hiện thú vị từ phân tích này: Một số biến thể gen có ảnh hưởng tích cực đến mật độ xương ở người da trắng, nhưng những biến thể đó lại liên quan đến sự suy giảm mật độ xương ở người Việt”, bác sĩ Thục Lan nói. Đây là một minh chứng cho khái niệm tương tác giữa gen và di truyền mà các nhà khoa học đã từng nói đến trong nhiều năm qua. Phát hiện này cũng nhấn mạnh rằng các yếu tố môi trường có thể làm thay đổi ảnh hưởng của gen.

Giáo sư (GS) Nguyễn Văn Tuấn, đồng Trưởng nhóm nghiên cứu cơ xương - Trường ĐH Tôn Đức Thắng cho biết, 3 gen mới phát hiện có mức độ ảnh hưởng tương đối thấp. Ông nói: “Cả 3 gen chỉ “giải  thích” 3% khác biệt về mật độ xương giữa các cá nhân. Có thể xem đây là cơ hội để tiếp tục khám phá…”

Với nghiên cứu về di truyền loãng xương hơn 20 năm qua, GS Nguyễn Văn Tuấn cho biết, còn rất nhiều gen liên quan đến loãng xương ở người Việt cần khám phá. Nhóm nghiên cứu của ông đang lên kế hoạch áp dụng công nghệ phân tích trình tự hệ gen (whole genome sequencing) để phát hiện các gen kém phổ biến trong dân số. Ông hi vọng, trong tương lai Nhóm nghiên cứu cơ xương sẽ khám phá nhiều gen liên quan đến loãng xương ở người Việt.

Cũng theo GS Tuấn, phát hiện gen liên quan đến loãng xương có ý nghĩa quan trọng vì gen giúp con người tiên đoán bệnh sớm hơn và chính xác hơn. Hiểu về cơ chế ảnh hưởng của gen có thể giúp phát triển thuốc mới để điều trị loãng xương. Ngoài ra, thông tin về gen có thể giúp nhận dạng những bệnh nhân đáp ứng điều trị tốt hơn.

Read more ...

Văn hóa meeting

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

Mấy tuần trước trên chuyến bay về VN tôi có dịp đọc một bài viết thú vị về những "thói hư" trong hội họp. Tác giả cho rằng những thói hư đó phản ảnh một sự thấp kém về văn hóa meeting. Có lẽ chữ văn hoá ở đây nên hiểu là etiquette, chứ không hẳn là culture. Tôi thì thấy những thói quen không đẹp mắt gieo một ấn tượng tiêu cực trong người nước ngoài về con người và văn hóa Việt Nam, nhất là trong khoa học.


Quả thật, kinh nghiệm cá nhân của tôi trong các hội nghị khoa học ở Việt Nam cho thấy nhiều nhà khoa học hình như chưa quen với những qui ước trong meeting nên không ít người rất vô tư nói chuyện ồn ào, mở điện thoại di động nói chuyện như ở văn phòng mình (có người thậm chí còn la hét nhân viên trong điện thoại!), không để ý theo dõi diễn giả hay bài thuyết trình, ăn mặc xốc xếch, v.v. làm cho nhiều khách nước ngoài nhìn vào thấy ngao ngán. Ngoài những thói xấu trên, tôi còn ghi nhận một số thói quen khác cũng có thể liệt vào loại “thói xấu” của “phe ta”.

Thứ nhất là nói quá giờ. Trong các hội nghị khoa học, tôi thấy các diễn giả Việt Nam thường không để ý đến thời lượng cho phép, nên họ nói quá giờ, và đó là một sự mất lịch sự cho diễn giả kế tiếp. Có lần một hội nghị ở Hà Nội, có một vị “cây đa cây đề” nói quá giờ gần 10 phút mà vẫn chưa chịu ngừng, một người trong ban tổ chức nhăn nhó mặt mũi nhưng không dám ngưng ông cụ, nên chị nhắn tin điện thoại cho tôi (và tôi vẫn còn giữ làm kỉ niệm): “Không thể kiểm soát được phần phát biểu của mấy giáo sư, anh nhỉ? Rất xin lỗi anh!” Còn khách dự người ngoại quốc thì lơ đảng nhìn ra ánh nắng chói chang ở ngoài, chẳng thèm để ý đến ông cụ nói cái gì!

Thứ hai là thói xấu của các vị “cây đa cây đề” Việt Nam hay tỏ ra lên lớp diễn giả. Thông thường khi một bài thuyết trình hay bài nói chuyện xong, là đến phần câu hỏi và thảo luận với diễn giả, và theo qui ước chung là người hỏi và trả lời phải giới hạn trong nội dung bài nói chuyện và giới hạn trong vòng 1 hay 2 phút. Thế nhưng rất nhiều lần tôi thấy các vị "cây đa cây đề" không đặt câu hỏi, mà lại đứng lên lớp diễn giả, hay phát biểu quan điểm cá nhân của họ, tức chẳng ăn nhập gì với bài nói chuyện! Lại có người rất thích tấn công diễn giả bằng những bắt bẻ chi tiết chẳng quan trọng, làm mất thì giờ buổi hội thảo. Tôi có cảm giác một số người muốn sử dụng buổi họp hội như là một cơ hội để khoa trương sự cao niên của mình, hay trả đũa những xung độ cá nhân trước đó, chứ không phải là cơ hội để bàn thảo một cách khoa học.

Ở nước ngoài, tôi từng chứng kiến những “cây đa cây đề” trên 80 tuổi lắng nghe diễn giả thuộc hàng học trò, thậm chí con cháu của họ, bằng một thái độ hết sức nghiêm chỉnh. Ngay cả khi đứng dậy hỏi, các vị này vẫn phải xếp hàng chờ đến lượt mình, và lúc nào cũng lịch sự với đồng nghiệp trẻ tuổi. Có khi hai bên thầy trò bất đồng ý kiến, người ta chỉ nói nhẹ nhàng và hóm hỉnh rằng: “Chúng ta đồng ý rằng chúng ta không đồng ý với nhau” (We agree to disagree)! Đó là văn hóa meeting mà theo đó dù mình không đồng ý với diễn giả, mình vẫn cho diễn giả một cơ hội phát biểu quan điểm của họ.

Thứ ba là bỏ về nửa chừng khi hội thảo chưa xong. Một thói quen xấu trong các hội nghị ở Việt Nam mà tôi hay thấy là buổi sáng hội nghị được khai mạc hoành tráng, với hành loạt diễn văn của các quan chức, người dự đông đủ, nhưng sau lần giải lao đầu tiên, các quan chức đọc diễn đi mất hết, và số người dự giảm thấy rõ. Đến buổi chiều thì có khi chỉ còn 1/3 người dự. Lại có người đến dự hội nghị hình như không phải để học hỏi hay trao dồi kiến thức, mà chỉ để thu lấy quà cáp, ăn sáng và ăn trưa miễn phí, rồi sau đó là thản nhiên ra về! Điều này rất ngược lại so với nước ngoài, mà trong các hội nghị khoa học, người tham dự theo dõi một cách nghiêm túc những bài nói chuyện từ đầu đến cuối.

Thứ tư là thủ tục khá rườm rà. Tôi thấy nhiều hội nghị khoa học ở Việt Nam chẳng giống ai ở điểm có quá nhiều diễn văn trước khi khai mạc hội nghị. Chẳng hạn như một hội nghị tầm quốc gia thì thế nào cũng có bộ trưởng (hay người đứng đầu ngành) phát biểu vài ba câu, rồi đến chủ tịch hội, rồi chủ tịch hay đại diện địa phương, rồi ban tổ chức, rồi nhà tài trợ, v.v. làm mất một giờ đồng hồ. Có lần tôi dự một hội nghị và ngồi bên cạnh một đồng nghiệp Singapore, anh ta cứ nhấp nhỏm hỏi tôi: còn ai đọc diễn văn nữa không, sao chưa thấy vào hội nghị? Tôi thông cảm cho anh đồng nghiệp vì ở nước ngoài các hội nghi thu hút cả 5 ngàn đến 40 ngàn đại biểu, mà chỉ có một bài diễn văn khai mạc duy nhất và bài diễn văn chỉ kéo dài không đầy 5 phút, không có đại diện chính quyền, và chắc chắn chẳng có bộ trưởng nào rảnh việc để đi nói chuyện trong các hội nghị chuyên ngành như thế.

Tuy nhiên, tôi phải nói ngay rằng những thói xấu này không phải “chỉ có ở Việt Nam”, mà còn xuất hiện ở một số hội nghị ở vùng Đông Nam Á và Tàu mà tôi từng có kinh nghiệm. Tuy nhiên, vẫn theo kinh nghiệm cá nhân, tần số xảy ra ở Việt Nam có vẻ cao hơn các nước trong vùng. Ngay cả ở cộng đồng người Việt ở nước ngoài, những người đã có ít nhiều tiếp xúc với Tây phương, những thói xấu đó vẫn còn tồn tại. Văn hóa thì mang tính “truyền nhiễm” hay có thể nói là “di truyền” từ đời này sang đời khác. Có lẽ một số quan chức mang trong người cái văn hóa quan liêu từ thời bao cấp, hay văn hóa làng xã từ thời xưa nên mới có những hành xử có thể nói là thiếu tính văn hóa trong thời nay. Chắc cần phải một hay hai thế hệ nữa thì cái gen văn hóa này mới chịu đột biến và lúc đó chúng ta không còn cụm từ “chỉ có ở Việt Nam”.

Read more ...

Đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2015

Thử tưởng tượng bạn là một nhà báo. Một ngày đẹp trời, một nhà khoa học liên lạc bạn để quảng bá (PR) một công trình nghiên cứu mà nhà khoa học cho là rất quan trọng, đã được công bố trên một tập san thuộc danh mục SCI (1). Làm sao và dựa vào tiêu chí gì để bạn có thể đánh giá tầm quan trọng của công trình đó? Trả lời câu hỏi này có thể giúp phóng viên phân biệt tầm cỡ của một công trình khoa học và phân biệt được giữa dỏm với thật.


Đọc bài báo trên Dân Trí (2) mà thấy buồn buồn, vì nó phản ảnh trình độ dân trí có vấn đề, nhất là những vấn đề liên quan đến khoa học. Một công trình phân tích hệ gen của một gia đình người Việt gồm 3 người dùng công nghệ Next-generation sequencing (Illumina HiSeq 2000) được công bố trên [Tập san] Journal of Biosciences (3). Công nghệ này thực ra là của Mĩ. Tài nguyên máy tính và phân tích thì của Âu châu. VN chỉ đóng góp chất liệu là chính. Một công trình rất bình thường trên một tập san rất thấp [trong chuyên ngành]. Thật ra, nói đúng ra đó là một "exercise", chứ không phải là một "công trình nghiên cứu". Ấy thế mà báo chí VN làm "nóng" lên cứ như là một khám phá gì quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh (4-7)! Ngay cả những người phát minh ra công nghệ sequencing ở Mĩ cũng không dám tuyên bố như những gì tác giả tuyên bố trên báo chí VN. Tôi nghĩ sự việc phản ảnh một phần trình độ khoa học của VN và nhất là của giới báo chí.

Đọc những câu như "một tạp chí quốc tế trong hệ thống SCI", "Đây là tạp chí thuộc hệ thống SCI có uy tín trên thế giới với chỉ số ảnh hưởng IF là 1.93", "tuân thủ theo quy chuẩn quốc tế về y đức trong nghiên cứu", v.v. chỉ làm tôi thở dài. Đối với độc giả đại chúng hay các nhà khoa học không biết về chuyên ngành di truyền thì những câu đó có vẻ hàm ý nói công trình được công bố trên tập san đó là thuộc đỉnh cao khoa học. Nhưng những ai làm trong ngành di truyền học đều thấy những thông tin đó chỉ làm cho họ phì cười, và làm cho công trình bị đánh giá thấp, thậm chí rất thấp.

Journal of Biosciences là của Ấn Độ, tuy nó nằm trong SCI, nhưng nó không phải là tập san chuyên về di truyền học. Tập san này cũng chẳng có uy tín gì trong chuyên ngành di truyền học, vì tầm ảnh hưởng (impact factor, IF) cực kì thấp so với các tạp chí trong chuyên ngành khác. Nhà khoa học nghiêm chỉnh và có tên tuổi chẳng ai đăng công trình trên những tập san như thế. Trong chuyên ngành di truyền, các tập san có uy tín cao là Nature Genetics (IF 29.65), American Journal of Human Genetics (IF 10.99), Genome Research (13.61), PLoS Genetics (8.69), Human Genetics (IF 4.52), European Journal of Human Genetics (IF 4.22), thậm chí BMC Medical Genetics cũng có IF 2.45. Công bố được trên những tập san như Nature Genetics, Genome Research, hay American Journal of Human Genetics mới đáng được chú ý. Do đó, công trình trên Journal of Biosciences (là tập san "ngoại đạo" di truyền) chẳng có gì đáng chú ý, chứ chưa nói đến đáng để xưng tụng.

Còn nội dung của công trình thì cũng rất bình thường. Đó là một công trình mang tính mô tả, chứ hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì để tham chiếu hay chẩn đoán bệnh tật cả. Để làm giá trị tham chiếu, cần phải nghiên cứu trên nhiều người. Để có thể có giá trị chẩn đoán, cần phải có nhóm bệnh nhân và nhóm không bệnh. Xin nhắc lại là "nhóm", chứ không phải vài ba cá nhân. Công trình này không có những thông tin về bệnh, cho nên chỉ đơn giản là một công trình mô tả. [Nói nôm na] như mô tả căn nhà có bao nhiêu phòng, mỗi phòng được xây bằng bao nhiêu viên gạch và đá, gạch nặng bao nhiêu gram, v.v. Chính vì bản chất mô tả đơn giản, nên không thể nào công bố được trên các tập san có uy tín mà tôi vừa kể. Đó là chưa nói đến chất lượng trình bày và ngôn ngữ tiếng Anh trong bài báo chưa thích hợp cho các tập san có uy tín cao.

Sự việc nhắc lại một lần nữa rằng công bố quốc tế và nghiên cứu khoa học cũng có đẳng cấp. Không phải tập san khoa học nào cũng có giá trị như nhau. Không phải nghiên cứu khoa học nào cũng có giá trị giống nhau cho dù công bố trên tập san trong thư mục SCI. Những công trình khoa học phải qua thử thách của thời gian mới biết tác động ra sao. Trong khi chờ để đánh giá tác động, người ta thường nhìn vào tên tập sanimpact factor để đánh giá tiềm năng và tiên đoán tầm ảnh hưởng cũng như chất lượng của công trình nghiên cứu. Dĩ nhiên, impact factor không phải là chỉ số hoàn chỉnh (thậm chí bị nhiều người chỉ trích và lên án!) nhưng nó vẫn là cái tín hiệu mà giới khoa học và công chúng nhìn vào để có vài ý tưởng ban đầu về tầm của một nghiên cứu khoa học. Một công trình tầm cỡ cao không ai lại công bố trên những tập san làng nhàng ở một nước đang phát triển. Công bố trên những tập san có IF thấp, do đó, chỉ hạ thấp tác giả và làm thấp khoa học nước nhà.

Chúng tôi cũng thực hiện những nghiên cứu với công nghệ Next-generation sequencing và có "phenotype" lâm sàng nghiêm chỉnh trên 15 người. Nhưng chúng tôi không dám nghĩ đến -- chứ chưa nói đến -- việc công bố kết quả phân tích trên vài cá nhân, vì chúng tôi chưa xem đó là "nghiên cứu" mà mới chỉ là "exercise". Giả dụ như chúng tôi may mắn có tập san nào đó công bố, thì chúng tôi chẳng dám nhìn mặt đồng nghiệp. Không phải cái gì cũng đáng công bố, và không phải cái gì được công bố đều có giá trị như nhau và đáng được PR.

Phân tích hệ gen bằng công nghệ Next-generation sequencing (hay gọi tắt là WGS) ngày nay không phải là điều gì quá phức tạp, vì nó đã trở thành gần như một dịch vụ. Bất cứ nhà khoa học nào ở bất cứ nước nào, chỉ cần mẫu máu / DNA là có thể làm WGS. Họ chỉ cần gửi mẫu sang Úc (Viện của tôi), Âu châu, Mĩ, hay gần hơn là Bắc Kinh, nơi có những phòng thí nghiệm và máy Illumina HiSeq chuyên phân tích WGS với cái giá thường khoảng 1000 USD một cá nhân. Do đó, những nước nghèo chẳng ai đi đầu tư mua máy Illumina HiSeq, vì họ có thể sử dụng dịch vụ từ các nước trên. Làm gì với hàng triệu dữ liệu mới là điều quan trọng. Hiện nay, có nhiều trung tâm bioinformatics có dịch vụ phân tích dữ liệu với máy tính có công suất cao, nên nhà khoa học cũng chẳng cần phải tốn tiền mua máy tính để phân tích. Một nghiên cứu mà được thiết kế đơn giản thì dữ liệu, cho dù là hàng tỉ dữ liệu, chẳng giúp ích gì trong thực tế. Phân tích WGS còn mới, còn trong vòng nghiên cứu, và chưa thể dùng cho chẩn đoán bệnh. WGS nếu được áp dụng tốt có thể dẫn đến những khám phá về gen liên quan đến bệnh, nhưng các gen đó có ích gì trong việc chẩn đoán và tiên lượng bệnh thì là một vấn đề khác, đòi hỏi trình độ khoa học cao hơn. Do đó, xin đừng nói rằng VN là một trong 20 nước có thể phân tích WGS, vì nói như thế làm cho người ta cười chết. 

Tôi biết rất nhiều bạn đọc là nghiên cứu sinh ở nước ngoài rất "bức xúc" với các thông tin trên. Họ đang tiếp cận và làm việc với công nghệ di truyền học và bioinformatics. Họ biết "công trình" mà báo chí VN quảng bá rầm rộ rất tầm thường, nếu không muốn nói là rất thấp. Ngay cả giới nghiên cứu khoa học cũng biết như thế, nhưng phần lớn chỉ nói riêng với nhau chứ không có cơ hội lên tiếng.

VN chúng ta rất cần quảng bá và khuyến khích những công trình khoa học tốt và những nhà khoa học trẻ có tài. Bài báo khoa học mà báo chí VN quảng bá đáng được ghi nhận là một exercise, nhưng tôi e rằng cái exercise đó cần phải làm tốt hơn nữa và nhiều hơn nữa mới đạt được tiêu chí đáng được công bố (chứ chưa nói đến đáng được nhắc đến trên báo chí). Những xưng tụng không đúng chỉ làm phiền giới khoa học, mà còn làm cho cái tầm của khoa học VN bị đánh giá không cao.

====

(1) SCI (science citation index) là một cơ sở dữ liệu các tập san khoa học trên thế giới. Trên thế giới có hàng trăm ngàn tập san khoa học, nhưng chỉ có một số ít (khoảng 10 đến 15 ngàn) được "công nhận". Tập san có tên trong SCI có thể xem như là "được công nhận" nhưng chỉ một thời gian. Có thể xem:  http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/2014/11/tap-san-sci-chat-luong-thap-hon-scie.html

(2) http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/pho-giao-su-tre-nghien-cuu-thanh-cong-he-gen-3-ca-the-mot-gia-dinh-nguoi-viet-1036318.htm






Để biết tập san khoa học trong ngành di truyền học, có thể tham khảo danh sách dưới đây: 

http://www.scimagojr.com/journalrank.php?area=2700&category=2716&country=all&year=2013&order=sjr&min=0&min_type=cd

Journal of Biosciences không có trong danh sách. 









Read more ...