Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Đức Thảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Đức Thảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Một "phiên toà" cải cách ruộng đất

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014
Lời dẫn: Sau khi về VN, GS Trần Đức Thảo có dịp chứng kiến cuộc Cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở Vĩnh Phúc. Ông mô tả một cách sinh động "phiên toà" CCRĐ, với những dàn dựng của những kẻ đứng đằng sau mà sau này chúng ta biết là các viên "cố vấn" Tàu cộng. Tất cả những trò đấu tố, thành phần tham gia đấu tố, thậm chí câu chữ dùng đều được lên kế hoạch cẩn thận và không qua được con mắt của các viên cố vấn Tàu. Dĩ nhiên, tất cả chẳng có luật pháp gì cả, chỉ là trò đấu tố dưới danh nghĩa "đấu tranh giai cấp". Dưới đây là trích đoạn một phiên toà đấu tố trong CCRĐ trong cuốn Những lời trăn trối của ông. Đọc để biết một thời mông muội ra sao. Thật ra, cho đến ngày nay trò đấu tố này thỉnh thoảng vẫn còn xuất hiện đây đó.



=====

[...]

Sau một tuần lễ chuẩn bị, một phiên toà cải cách ruộng đất đã được tổ chức trước sân gạch lớn nhất của đình làng.

Dọc hai bên sân đình có treo la liệt biểu ngữ lên án bọn trí, phú địa hào là tàn dư của phong kiến, thực dân, là kẻ thù của giai cấp công nông, là kẻ phá hoại xã hội, là kẻ muốn nối giáo cho giặc …

Khoảng 2 giờ trưa hôm ấy, trời nắng chói chang. Từ cả tiếng đồng hồ trước, dân chúng đã được điều động tới ngồu xổm trên gạch trước sân đình, Ông già, bà già, người lớn, trẻ con, bồng bế nhau đi coi xử địa chủ! Đám đông nói cười ồn ào, trẻ con khóc inh ỏi.

Nhưng rồi từ ngoài, một cán bộ dẫn tới một toán "thanh niên và nhi đồng cải cách", sắp xếp cho toán ấy ngồi trước mặt quần chúng và bắt đầu công tác văn hoá tuyên truyền để tạo không khí cách mạng, gồm có hô khẩu hiệu và ca hát. Cứ hô vài khẩu hiệu đả đảo tàn dư phong kiến thực dân xong, lại vỗ tay làm nhịp hát một bài. Lối hát cũng đặc biệt, vì thực ra đây là một bài vè ngắn đã thuộc lòng, rồi đọc lên cho có vần, có điệu theo nhịp vỗ tay, cứ y như cùng nhau niệm kinh theo nhịp mõ trong chùa. Hỏi ra mới biết đây là kiểu hát dân dã của sắc tộc miền núi bên Trung Quốc, gọi là "sơn ca", nội dung bài hát cũng là theo phong cách "đấu tố ca" bên Trung Quốc, Thảo thấy hay nên cũng lắng tai nghe. Nghe mấy đợt rồi cũng thuộc lòng một bài, rồi cũng vỗ tay ba nhịp để hát từng câu.

Nước chảy dưới dòng sông
Ai múc lên thì uống
Cũng như là đất ruộng
Ai có công thì hưởng bốn mùa
Mấy câu ca trên đây 
Của nông dân Trung Quốc
Anh em ơi! Hãy học lấy cho thuộc!
Để vung tay phát động đấu tranh!
Nhưng nay vì quốc gia, vì đảng
Vì bước trường kì cách mạng
Nên ta còn cho chúng hướng phần tô 
Nếu chúng còn gian dối mưu mô
Thì quyết liệt. Anh em ơi! Đấu mãi!

Đám đông hát xong, một cán bộ tuyên truyền hô lớn:

- Đả đảo địa chủ, con đẻ phong kiến, thực dân!

Quần chúng cách mạng cũng hưởng ứng hô tiếp:

- Đả đảo! Đả đảo! Đả đảo!

Rồi lại hát. Rồi lại hô khẩu hiệu. Cứ như vậy khoảng hơn nửa giờ thì ngưng để bắt đầu "phiên toà án cải cách".

Bàn chủ toạ đặt phía trong đình cũng đã bắt đầu đông đủ. Trên bãi sân trước bàn ngăn cách xa với đám đông bên ngoài là một cột cờ cao 6 thước, rồi tới hàng cọc tre. Ai cũng biết mấy cọc đó dành cho những tên phản động sắp bị mang ra đấu tố. Nhưng chính mấy cọc tre đó đã làm cho đám đông hồi hộp muốn chờ xem những tội nhân bị mang ra đấu tố là ai, sẽ trừng trị như thế nào. Càng hiếu kì hơn là ngay cạnh bên trái đình, là một mô đất nâu sẫm vì mới được đắp, là một hàng cọc tre khác với một tấm bảng ghi rõ "trường bắn"!

Bổng trống cái trong đình nổi lên ba tiếng: Thùng! Thùng! Thùng!

Bên ngoài, có tiếng quát liên tiếp:

- Tránh ra! Tránh ra! Tránh ra!

Đám đông tụ tập ngồi trước đình bị sáu dân quân tự vệ cầm súng trường có gắn lưỡi lê dẹp qua hai bên để mở đường cho đoàn cán bộ, đội viên đội cải cách vào đình. Chỉ có năm đội viên cải cách được vào ngồi trước bản nhìn xuống hàng cọc tre ở bên trái, và xa hơn là dân chúng. Số cán bộ đi phát động thì được mời ngồi ở hàng ghế phía sau. Một trong những cán bộ ngồi đầu bàn bên trái, có vẻ là người nắm công việc tổ chức, lớn tiếng ra lệnh cho một dân quân:

- Nổi trống lên để làm lễ khai mạc!

Ba hồi trống rền vang dậy báo hiệu phiên toà cải cách ruộng đất sắp bắt đầu. […] Sáu dân quân cầm súng ban nãy giơ súng thẳng ra trước ngực để chào cờ. Ba dân quân khác tiến ra: một người hai tay trịnh trọng mang lá cờ còn gấp vuông vức bước tối cột cờ, theo sau là người kéo cờ và chót hết là người bắt nhịp hát:

- Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc …

Bài quốc ca được hát vang dội. Lá cờ được từ từ kéo lên tới đỉnh cột cờ lúc bài ca chấm dứt. Người dân quân lại hô:

- Tất cả! Nghỉ! Tất cả! Ngồi!

Đám đông lao xao ngồi trên guốc, dép, số còn lại thì ngồi xổm hoặc ngồi bệt xuống gạch. Cán bộ cải cách ngồi giữa trước bàn đứng dậy tuyên bố khai mạc phiên xử 6 tên ác ôn phản động gồm 5 tên đều là địa chủ, phú nông. Còn một tên là lí trưởng cũ.

Bỗng có tiếng khóc lóc. Rồi từ bên ngoài hai dân quân dẫn 6 người bị trói quật tay ra sau lưng. Cả sáu bị buộc thành một chuỗi bằng những khúc dây thừng to vòng quanh cổ, người nọ tiếp nối người kia, cách nhau khoảng 2 thước. Dân quân đi đầu đeo súng trên vai, tay cầm đoạn dây thừng kéo chuỗi 6 người bị mang ra đấu tố, dân quân thứ nhì cầm súng đi bên cạnh. Tội nhân mặc quần áo xốc xếch, có vết bùn và vết máu, có kẻ vừa đi vừa khóc lóc. Trong số đó, có một bà cụ ngoài 60 tuổi, khi đi ngang qua đám đông thì gào khóc thật to:

- Con ơi là con ơi! Con ở đâu thì về cứu mẹ với con ơi!

Dân quân đi cạnh bước tới dùng báng súng đánh ngang vào bụng bà già và quát:

- Con mụ già này có câm mồm đi không? Câm ngay đi!

Bà cụ bị báng súng phang mạnh vào bụng, ngã chúi xuống, kéo hai người đi trước và sau cùng ngã ra làm tất cả chuỗi người chùng lại suýt cùng ngã theo. Hai dân quân vội nắm cổ lôi họ đứng dậy một cách vất vả. Đám nhi đồng thấy vậy cười khúc khích. Cán bộ chủ toạ đứng dậy quát lớn:

- Các cháu nhi đồng khôbg được cười đùa!

Đám trẻ con sợ hãi, vội lấy tay bịt miệng lại cho tiếng cười khỏi bật ra. Khi chuỗi tội nhân tội nhân bị đưa tới gần hàng cột tre, hai dân quân lần lượt tháo từng khúc giây thừng ra và bắt mỗi người quì xuống, mặt hướng về bàn chủ toạ, tay bị trói chéo ra sau dính vào một cột. Bà cụ già vẫn khóc lóc, nhưng không dám khóc to tiếng, vẫn than van:

- Con ơi là con ơi! Con ở đâu thì về cứu mẹ với con ơi!

Cán bộ chủ toạ lại đứng dậy, nói thật to:

- Hôm nay toà án cải cách ruộng đất huyện ta về đây để mang ra xét xử 6 tên phản động ở các xã thôn ta, do đồng báo tố cáo. Chúng thuộc giai cấp thống trị đã nổi tiếng là những tên địa chủ, phú nông, cường hào chuyên đè đầu dân, bóc lột bần cố nông, đánh đập dân nghèo. Vậy tất cả đồng bào, ai đã bị chúng bóc lột, hành hạ thì nay đều có quyền đứng ra làm nhân chứng kể tội chúng, rồi sau đó toà sẽ xét xử theo những bằng chứng và những lời buộc tội của đồng bào. Đồng bào có nhất trí xét xử 6 tên phản động này không?
Bị hỏi bất ngờ, đám đông lao xao:

- Nhất trí!

Thấy đám đông có vẻ thụ động, cán bộ chủ toạ lại quát hỏi thật to tiếng hơn nữa:

- Đồng bào có nhất trí không?

Hiểu rõ câu hỏi là một mệnh lệnh, đám đông vung nắm tay phải lên đáp đồng thanh hơn:

- Nhất trí! Nhất trí! Nhất trí!

- Bây giờ toà bắt đầu xét xử tên phản động đầu tiên là Nguyễn Văn Minh, y đã làm lí trưởng từ 12 năm nay, tên cường hào này là đày tớ của phong kiến và thực dân, đã nhiều lần ép buộc dân làng đi phu khổ sai, để đắp đường, đào kinh, lên rừng chặt cây nộp để làm đường xe lửa, chính tên lí trưởng này đã đốc thúc nhân dân phải nộp đủ các thứ thuế, từ thuế thân, thuế gạo, thuế muối, v.v. cũng chính tên này đã đánh đập những người cùng khổ vì không đủ sức lao động khổ sai, nghèo túng không nộp thuế … Vậy nay ai đã từng bị tên lí trưởng Nguyễn Văn Minh này hành hạ, bóc lột thì cứ xung phong đứng ra làm chứng để hạch tội tên phản động này để toà căn cứ vào đó mà xét xử.

Từ nãy, đã có một toán thanh niên gồm 12 người, tuổi độ trong khoảng từ trên 20 đến 30, đứng ở hàng đầu của đám đông, bên trái, ngay cạnh đám nhi đồng, toán này luôn luôn hô hoán mạnh nhất. Khi được hỏi có ai muốn là nhân chứng hạch tội thì cả toán đồng thanh giơ tay đáp:

- Tôi! 
- Tôi! 
- Tôi!

Chủ toạ ra lệnh:

- Mời nhân chứng số một!

Một người trong toán ồn ào ấy bước tới trước bàn định nói, nhưng cán bộ chủ toạ đưa tay ra lệnh:

- Nhân chứng ra gần chỗ tên lí trưởng để hạch tội!

Khi đứng ngay trước người lí trưởng bị trói và quì ở cột đầu phía trái, nhân chứng vỗ vào ngực đề trần và nói lớn:

- Mày có biết tao là ai không? Tao là Nguyễn Văn Đê, 27 tuổi, chuyên làm mướn y như bố tao và ông nội tao. Vì vậy, tao là bần cố nông từ 3 đời nay. Thế nên tao biết rất rõ tung tích của mày, là tên lí trưởng Nguyễn Văn Minh. Vì bố mày trước cũng làm lí trưởng và cả ông nội mày cũng vậy. Cả bố mày, ông nội mày và mày đều đã được phong kiến ban thưởng hàm cửu phẩm, vì có công thay mặt thực dân, phong kiến để đốc thúc dân đi phu, đốc thúc dân đóng thuế, và chính mày mới đây thôi, đã dùng roi mày đáng đập tao đến chảy máu lưng, mang thương tích còn đến bây giờ vì tội không thu mua đủ số lượng cây gai để mày giao nộp cho quân Nhật!

Sau khi vạch lưng ra để lộ mấy đám sẹo mờ mờ, nhưng rõ ràng không phải là vết roi mây, Đê tiến tới vung tay đấm mạnh vào mồm lí trưởng, miệng nói:

- Mày đã đánh, đã chửi tao, đã hà hiếp bao nhiêu đồng bào khác, mày nhớ không?

Thấy nấm tay vung tới gần miệng, lí trưởng vội né đầu xuống tránh, nhưng nấm đấm đánh trúng vào phía mắt phải, làm bật máu chảy ròng ròng ướt cả một bên mặt.

[…]

Một người khác, cũng trong nhóm nhân chứng, bước tới lí trưởng, kể các tội thật mơ hồ và mông lung:

- … Mày có thói đánh người khi say rượu. Mày đã ép người ta phải bán mấy sào ruộng thuộc loại tốt cho mày, rồi ép phải bán cả trâu khoẻ nhất cho mày, rồi mày vu cáo người ta nấu rượu lậu, để mày tịch thu tài sản, khiến cho bao người sạt nghiệp vì mày, rồi phải đi làm thuê, mò cua, mót lúa mà nuôi gia đình … Tội của mày kể ra không thể hết! Mày có nhận tội không?

Bị cáo cuối đầu im lặng.

Kể xong tội, nhân chứng tiến tới tát vào má bên trái lí trưởng, và nói:

- Chính mày đã dùng thủ đoạn, mưu kế để cướp đoạt hết tài sản của bao gia đình, mày có nhận tội hay không? Mày còn …

Bị hạch tội vu vơ, người lí trưởng không câm nín giữ im lặng được nữa, hỏi lại:

- Người ta là ai? Bao gia đình là gia đình nào cơ?

Cán bộ chủ toạ thấy buộc tội mơ hồ quá, nên quyết định:

- Tội lỗi của tên cường hào lí trưởng này như vậy đã rõ rồi. Bây giờ xử lí tới tên địa chủ Hoàng Văn Quân. Nhân chứng đâu?

Một người gầy còm tiến tới trước tội nhan bị trói quì ở cột thứ nhì, nêu rõ tên mình rồi lớn tiếng bắt đầu kể tội:

- Mày có hơn hai mẫu ruộng, mà cả đời chân không lội bùn, tay không chạm tới hòn đất, toàn thuê mướn dân nghèo khổ phát canh cho mày thu tô. Làm xong việc thì mày chê bai để bớt tiền này công nọ. Trong nhà thì vợ mày đẻ con, mà không nuôi, toàn nuôi vú sữa, mày bắt người vú phải gửi con về nhà ông bà để nuôi nó bằng cháo trắng …

Cứ mỗi lần kể xong một tội, nhân chứng lại tát vào mặt tội nhân và hỏi:

- Có phải mày đã làm như vậy hay tao nói sai?

Lần lượt các nhân chứng tới cạnh các tội nhân để hạch tội một cách mơ hồ, toàn là những lời đồn đại. Thỉnh thoảng còn tát vào mặt các tội nhân theo cùng một cách, vì đã được huấn luyện như thế. Cả năm tội nhân đều bị đánh, và phải cúi đầu im lặng. Chỉ có tội nhân nữ là bà cụ Vũ Thị Thanh là dám cãi lại.

Hai nhân chứng chót là phụ nữ, nói xoe xoé kể tội:

- Mày có nhà gạch lớn như dinh thự nhà quan với vườn rộng mênh mông, nuôi tới 3 con chó Tây để trong nhà, có đời sống xa hoa sang trọng mà không nghĩ tới bao gia đình cùng khổ sống ở chung quanh! Mày nuôi hai đày tớ với lương rẻ mạt … Người nghèo đói đến xin ăn thì mày xua chó đuổi đi, có khi chó xông ra cắn người qua đường đến bị thương nặng, mày có nhận tội không?

Trái với 5 tội nhân đàn ông, bà già này cãi lại chứ không nhận tội:

- Nhà tôi rộng vì con tôi ở Hà Nội gửi tiền về xây cho chứ tôi không bóc lột ai! Tôi sống ăn chay, tụng kinh Phật chứ không sống xa hoa! Tôi nuôi chó giữ nhà vì đã bị kẻ trộm vào nhà nhiều lần. Ngày rằm, mồng một, tôi đi chùa vẫn bố thí cho người nghèo. Năm đói Ất Dậu, chính tôi lo nấu cháo cứu người trong làng. Mỗi khi làng có việc, tới quyên góp, tôi là người xung phong ủng hộ nhiều nhất. Khi cách mạng về, tôi đã ủng hộ tiền mua súng cho đội dân quân của làng! Cả đời tôi không bóc lột ai, con tôi hiện đang đi bộ đội đang đánh pháp ngoài chiến trường …

- Mày nói láo! Mày không bóc lột ai, nhưng con mày ở Hà Nội có cày sâu cuốc bẫm đâu mà có của cải nhiều thế? Của cải ấy, không do bóc lột thì nó trên trời rơi xuống à. Câm mồm con đĩ già ngoan cố!

Nhân chứng vừa chửi vừa tiến lại tát mạnh vào mặt bà già! Bà cụ đau quá, càng gào khóc, gọi con cầu cứu:

- Con ơi là con ơi! Nó đánh mẹ, con ơi! Con về cứu mẹ với con ơi!

Người dân quân đừng đằng sau tiến tới lấy báng súng bổ vào lưng bà già quát:

- Câm mồm ngay! Còn khóc lóc nữa là tao nhét giẻ vào mồm đấy!

Bà già sợ hãi, khóc nhỏ hẳn đi nhưng miệng vẫn rên rỉ:

- Con ơi là con ơi!

Lần đầu tiên trong đời, Thảo được chứng kiến một "phiên toà" đánh đập thô bạo đến mức khủng khiếp như vậy. Đây là một trò hề công lí, chứ có luật lệ gì đâu! Bằng chứng tội lỗi toàn là do bần cố nông kể miệng như vu oan, chứ không do một văn bản điều tra nào. Không điều luật nào được nêu ra làm căn bản buộc tội. Bởi có ai biết gì, hiểu gì về công việc xét xử của một toà án bao giờ đâu. Thế nên đầu óc Thảo bị căng thẳng, tim đập mạnh, thân thể run lên vì xúc động ...

[…]

- Bắn bỏ mẹ chúng nó đi! Bọn phản động!

- Phải diệt hết lũ Việt gian phản động này!

- Con mụ đĩ già ngoan cố! Phải tịch thu nhà cửa của nó!

Toán nhi đồng coi cảnh hạch tội như thế cũng thấy vui nên cười nói vỗ tay theo. Cán bộ chủ toạ đứng lên tuyên bố:

- Bây giờ đồng bào có quyền góp ý quyết định án phạt trừng trị tội phạm.
Đám nhân chứng bên dưới đồng thanh hô to:

- Xử tử! Xử tử! Xử tử!

- Thế còn tài sản của chúng nó?

- Tịch thu! Tịch thu! Tịch thu!

Bỗng từ ngoài, một cán bộ đứng tuổi có vẻ quan trọng, hông đeo sắc cốt và súng lục chạy vào sát cán bộ chủ toạ, ghé tai nói điều gì. Rồi hai người thì thầm bàn luận với nhau có vẻ sôi nổi khá lâu. Cuối cùng cán bộ chủ toạ đứng dậy lớn tiếng nói:

- Nay toà long trọng tuyên án: tử hình đối với các tội nhân Nguyễn Văn Minh, Trần Văn Lễ, Nguyễn Sắc, Trần Văn Bắc, Đỗ Đình Lang và Vũ Thị Thanh! Tịch thu tài sản của chúng để chia lại cho nhân dân trong xã.

Đám nhân chứng và nhi đồng vui mừng vỗ tay và hét to:

- Hoan hô! Hoan hô! Hoan hô!

Có lẽ hai tiếng "tử hình" đã làm cho phần lớn đám đông sợ hải nên họ im lặng, Rồi cán bộ chủ toạ tuyên bố tiếp:

- Tiếp theo lời buộc tội và đề nghị án trừng trị của nhân dân, và toà tuyên án. Nay vì vừa có lệnh mới nên toà tuyên bố tạm hoãn thi hành án tử hình ngay tại chỗ! Vậy xin đồng bào tự động giải tán.


Read more ...

GS Trần Đức Thảo: Chuyến đi đổi đời

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014
Lời dẫn: Sau vụ Nhân văn Giai Phẩm, GS Trần Đức Thảo bị quản chế tại gia ở Hà Nội. Ông không được dạy học, không được phép nghiên cứu gì cả. Ông li dị vợ (hay vợ li dị ông?), cuộc sống rất khó khăn, suốt ngày lẩm bẩm chuyện đâu đâu. Người ngoài nhìn vào tưởng ông điên, nhưng sau này ông nói ông chỉ đóng kịch thôi! Một hôm GS Trần Văn Giàu và ông Trần Bạch Đằng từ Nam ra thăm ông, thấy hoàn cảnh bi đát như thế nên đề nghị ông chuyển vào Sài Gòn sống. Họ nói dù sao thì Sài Gòn với cá tính Nam Bộ ông sẽ dễ thở hơn. Phải qua can thiệp vài nơi ông mới được phép chuyển vào Sài Gòn. Bài dưới đây là một trích dẫn từ cuốn "Những lời trăn trối" về cảm nhận của ông khi mới đặt chân đến Sài Gòn.
NVT 

==== 

Đang trong tình trạng mắc kẹt trong vòng cương toả của các cục "bảo vệ", "tuyên huấn", các ban "văn hoá, tư tưởng, khoa giáo trung ương" như vậy, thì Trần Văn Giàu, rồi Trần Bạch Đằng từ trong Nam ra thăm Hà Nội. Cả hai người miền Nam này đã kinh ngạc khi khám phá ra những ý tưởng mới mẻ của Tảo. Và nhất là họ thấy những điều kiện sống và làm việc quá tồi tệ như thế. Họ tính đề cập với các cấp lãnh đạo về vấn đề nên đối xử nhân đạo với Thảo. Nhưng sau khi giải phóng miền Nam, nay hầu hết các giới chức cách mạng cấp cao ở Hà Nội đều đổ vào Nam, nói là đi "công tác", nhưng thực ra là vào sống ở đó, để hưởng chiến lợi phẩm của chiến thắng. Hà Nội lúc đó chỉ là những trụ sở và chức vụ tượng trưng không có thực quyền hành động.

Cánh trí thức Nam bộ này khuyên Thảo nên tìm cách vào Sài Gòn sinh sống, vì trong đó khí hậu ấm áp hơn, đời sống cũng sung túc hơn, nên dễ có điều kiện cho phép làm việc thoải mái, cởi mở hơn. Nhưng Thảo hỏi lại:

- Các đồng chí tưởng là tôi là kẻ được tự do chọn lựa, muốn đi đâu thì đi, muốn sống ở đâu cũng được sao? Tôi đã nhiều lần xin đi dạy học trở lại, họ không cho, viện dẫn lí do là đã có lệnh cấm tôi dạy học từ thời "bác" Hồ còn sống, từ đó đến nay, tôi sống như người bị giam lỏng ở Hà Nội này. Thỉnh thoảng họ chỉ bố trí tôi được tham dự những sinh hoạt có tính tuyên truyền, cũng có lần tham gia phái đoàn đi tham quan nước ngoài. Sự có mặt của tôi trong các sinh hoạt ấy đều bị kiểm soát chặt chẽ và chỉ để đánh bóng chế độ!

[…]

Mới đặt chấn xuống cái thủ đô của miền Nam này, mọi sự đã làm tôi kinh ngạc. Qua bao nhiêu năm chiến tranh gian khổ mà sao Sài Gòn nó lại khang trang hiện đại như vậy? Tôi cứ ngỡ cả miền Nam bị đói khổ vì bị Mĩ ngụy bóc lột đến nỗi miền Bắc đã phải "cắn hạt gạo làm tư" để cứu giúp miền Nam cơ mà. Vả lại, mọi người ở đây sao mà nói năng cởi mở thoải mái quá vậy? Ngay cả những cán bộ của đảng ở đây cũng có thái độ tự do quá. Họ đãi đằng tôi, họ giễu cợt tôi, coi tôi như anh mán, anh mường ở rừng mới được về thành phố.

Trịnh Công Sơn

Phải nói thẳng ra là có một điều của Sài Gòn đã làm tôi bàng hoàng đến cùng cực. Đó là những bài hát của một anh chàng nhạc sĩ trẻ của miền Nam, nói đúng hơn là của "Mĩ Nguỵ" chứ không phải của đảng. Tên anh ta là Trịnh Công Sơn, Các bài hát của anh ta mang nỗi niềm day dứt, oán trách chiến tranh. Cứ như anh ta khóc than thay cho cả chế độ ở cả hai miền Nam Bắc. Giữa những năm tháng chiến tranh một mất một còn ác liệt như thế mà sao anh ta dám cất lên tiếng kêu than như vậy. Những lời ca của những bài hát ấy đã lay động tâm hồn tôi.

Phải công nhận là trong đời tôi có hai lần bị thúc đẩy và thoát ra khỏi thái độ sợ hãi đến hèn nhát đã ngự trị trong đầu óc của bao trí thức, văn nghệ sĩ của Hà Nội. Lần thứ nhất là do nhà thơ trẻ Trần Dần, khi anh ta tới mời tôi tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm. Lần thứ nhì là khi tôi nghe mấy bài hát thấm thía của Trịnh Công Sơn!  Đấy là thứ âm nhạc phát ra từ trái tim dân tộc.

[…]

Chế độ không tồi

Không hiểu sao chính quyền miền Na lại để cho anh ta tự do sáng tác những bài ca làm mất tinh thần chiến đấu như thế? Điều này khiến tôi phải suy nghĩ trình độ dân chủ rất khác nhau giữa hai miền Nam, Bắc. Một chế độ để cho nghệ sĩ được tự do cất tiếng hát lên những nỗi niềm như thế không phải là một chế độ tồi tệ. Xét chung thì miền Nam đã có mức độ dân chủ rõ rệt. Cả giới trí thức lẫn dân chúng miền Nam đều bàn chuyện chính trị cởi mở, phê phán lãnh đạo và đảng rất tự nhiên. Ở miền Bắc thì không thể. Miền Bắc là cái lò của giáo điều, của chiến tranh. Không có chỗ cho một Trịnh Công Sơn, điều đó dễ hiểu.

Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi nghe tin Dương Văn Minh đã ra lệnh buông súng, và đã được nghe theo. Vì có lẽ dân đã thấm mệt với bao nỗi khổ, chết chóc. Tôi cám ơn miền Nam đã sinh sản được một Dương Văn Minh, một Trịnh Công Sơn. Người nhạc sĩ trẻ ấy đã góp phần vào cái giờ phút thiêng liêng buông súng, thôi bắn giết nhau. Đấy thực sự là một anh hùng của hoà bình, chính anh ta đã nêu gương cho Trần Đức Thảo này! Tôi thú thật rất cảm ơn cái lệnh buông súng ấy, vì nó đã giải thoát hàng vạn thanh niên miền Bắc ra khỏi rừng núi đầy bom và muỗi, mòng. Vì nó đã cứu hàng vạn thanh niên với số phận "sinh Bắc tử Nam". 

Chỉ tiếc rằng người cán bộ sĩ quan của "bộ đội cụ Hồ", khi tiến vào Dinh Độc Lập gặp Dương Văn Minh, thì đã tỏ thái độ thô bỉ quá kém cỏi với một lãnh đạo chính quyền miền Nam. […] Việc ứng xử thô bỉ như vậy đúng vào giây phút chiến tranh chấm dứt như thế đã làm cho sự tuyên truyền chính sách đại nhân, đại nghĩa "hoà giải, hoà hợp dân tộc" bỗng nhiên tự nó tố cáo nó là một quỉ kế để đánh lừa kẻ thù buông súng, chứ không phải là một sự giàn xếp cao thượng giữa anh em trong một nhà. Mấy anh em cách mạng miền Nam còn than phiền với tôi là có những người bộ đội miền Bắc khi tiếp quản Sài Gòn đã nhục mạ dân chúng về tội "ăn mặc lố lăng, bắt họ phải cạo sơn móng tay, bắt cắt quần ống loa". Rồi còn cảnh trả thù cả người chết bằng cách đập phá nghĩa trang của chế độ "Nguỵ" nữa! Thái độ ấy thật là thô lỗ quá trớn.


Read more ...

Trần Đức Thảo viết về người Hà Nội mới

Thứ Sáu, 10 tháng 10, 2014

Vài lời mở: Hồi xưa, khi chưa đi thăm Hà Nội, tôi chỉ biết Hà Nội qua … sách. Nhất là sách của nhóm Tự Lực Văn Đoàn (như Thạch Lam), những tác phẩm của Nguyễn Tuân, và vài tác giả khác. Đọc và cứ tưởng tượng đó là một thành phố êm đềm, dễ thương, với những con người văn minh, ăn nói nhỏ nhẹ, "dáng kiều thơm". Ôi, nghe qua đã thích. Nghe Thái Thanh ca và những những văn nghệ sĩ tài ba từ miền Bắc như Phạm Duy, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, v.v. tôi càng tin đó là cái nôi văn hoá. 



Cho đến năm 1977 hay 1978 (tôi không nhớ rõ) lần đầu tiên ra Hà Nội, tôi mới hỡi ôi. Hà Nội lúc đó tiêu điều, phụ nữ con gái toàn mặc áo trắng kiểu Tàu và cái quần đen cũn cỡn, ai cũng giông giống nhau vì cái phong cách nhà quê Tàu, đàn ông thì toàn đội nón cối dù họ không phải dân nhà binh, đường phố chỉ xe đạp là chính (nhưng nói cho ngay lúc đó đường xá còn tương đối sạch). Nói chung, tôi chẳng có ấn tượng gì đẹp về Hà Nội. Từ đó, tôi vỡ mộng về Hà Nội, và thầm trách mấy ông văn sĩ toàn viết bậy. Nhưng có lẽ họ không viết bậy, vì cái mà tôi thấy là Hà Nội đã qua 20 năm vùi dập dưới chế độ mới. Hà Nội xưa của Thạch Lam chỉ còn trong kí ức.

Xin trích tiếp một số đoạn trong "Những lời trăn trối" của GS Trần Đức Thảo viết về người "Hà Nội mới" và con người mới XHCN. Đọc qua những đoạn này tôi mới biết hoá ra hiện tượng "cơm chửi cháo mắng" ở Hà Nội đã có từ lâu chứ không phải mới đây. Đọc qua đoạn này, nếu Hồ chủ tịch có sống lại chắc ông cũng ngậm ngùi cho công trình "trồng người" XHCN mà ông từng nói đến trước đây.

=========

Con người Hà Nội cũng lột xác

Cùng với Hà Nội không còn nữa, con người thanh lịch, đài các của Hà Nội xưa cũng dần dần biến chất một cách tệ hại. Người lịch sự, đài các trở thành một mẫu loài quí hiếm, đi dần tới tuyệt chủng. Người tứ xứ nay tiến về làm chủ Hà Nội. Có những khu trước đây là của công chức cao cấp chế độ thực dân, phong kiến cũ, nay dân ngụ cư lúc nhúc ở đó đều toàn là dân "Hà Nội mới", nói giọng đặc sệt các địa phương xa xôi, không mang chính giọng và chính tả (từ cách viết đến phát âm).

Đến nỗi ở đó đã hình thành lần đầu tiên hàng loạt các hội ái hữu của các nhóm dân gốc ở tận đâu đâu! Ngay khi nói đến nét thanh lịch của người Hà Nội, thì người ta liên tưởng tới những đường phố có vỉa hè ngăn nắp, sạch sẽ, với những thiếu nữ, thiếu phụ mặc áo dài kiểu mới, kiểu "Lơ-muya", nói năng nhẹ nhàng, đi đứng thướt tha.

Còn khi nói tới Hà Nội mới thì người ta liên tưởng tới cái thời thời Hà Nội nhem nhuốc, với đường phố lúc nhúc, chen lấn, lộn xộn, nói năng ầm ĩ, lỗ mãng y như trong giữa một phiên chợ, có khi là những lời lẽ cục cằn, tục tĩu. Tại sao lại xuống cấp như thế? Tại vì qui luật sinh vật luôn luôn mang ảnh hưởng, dấu ấn của môi trường.

Con người mới XHCN

Trong thực tại, con người mới XHCN, sản phẩm của chế độ mới, là con người mưu mẹo, khéo xoay xở, biết chui lách qua qui định và luật pháp, ngoài mặt thì có vẻ nể nang chế độ, nhưng trong đầu thì chẳng sợ cái gì, chẳng sợ ai, chỉ tin vào tài tháo vát, nghĩa là chẳng nể phục một ai. Đấy có thể là con người bất mãn, mà không dám phản kháng, trăn trở mà không dám nói ra, cứ ấm ức, dồn nén đến mức phải văng một câu tục cho nó hả! Phản ảnh cái sự ấm ức không nể phục ấy là những hành động bất tuân luật lệ vụn vặt, nói năng thô lỗ, chửi chó, mắng mèo, "ba que, xỏ lá", đểu cáng. Có những bà, những cô bán hàng vừa bán vừa như xua đuổi khách:

- Chỉ có vậy thôi, mua thì mua, không mua thì cút! 
- Ông cút thì ông "đ …" mua
- Mày về mà "đ …" mẹ mầy ấy! 
- …

Trong Hà Nội mới XHCN này lần đầu tiên xuất hiện cảnh vừa bán, vừa mắng chửi, mà vẫn có người mua! Hiện tượng ấy, Thảo [Trần Đức Thảo] cho đó là một biểu hiện thô bạo, phản ánh sự bực bội của xã hội. Chứ nếu cuộc sống êm thắm, vui vẻ, bình thường thì đâu có ai lại chửi đổng bâng quơ như thế.

Hà Nội mới nay là nơi không còn chú ý đến thanh lịch, nói chi tới đức hạnh. Lịch sự, lễ phép là điều xa xỉ, lạc hậu. Một cử chỉ kính trên, nhường dưới bị coi là đã lỗi thời. Không còn ai dám nói đến nhân phẩm, đạo đức nữa. Cứ như thế, cả một nền "văn hoá đểu giả" phát triển; với thời gian đã tạo ra một xã hội tàn nhẫn đến mức thô bạo. Vậy mà chưa một ngòi bút tả thực của nhà văn nào dám đụng tới. Họ biết đụng đến đó là đụng đến chế độ. Vì ai cũng dư biết trách nhiệm đối với tình trạng thô bạo ấy là của chế độ.

[…]

Người Hà Nội mới chê lối sống cũ là truỵ lạc, cổ hủ. Còn dân Hà Nội cũ chê dân mới là "cả quỷnh", có nghĩa là vừa quê mùa, vừa rừng rú. Có lần công an đã tới hỏi cả giấy giá thú khi thấy cặp tình nhân, khoác vai nhau, ngồi ngắm trăng bên bờ hồ! Vì công an coi ngồi tình tứ với nhau như thế là "truỵ lạc"!
Trong tâm tư người Hà Nội cũ, nay chỉ còn một nỗi niềm cay đắng, tiếc nhớ âm thầm! Nhớ những tà áo dài thon thả bay lượn bên bờ hồ thanh vắng, trong gió chiều thơ mộng … Họ chỉ biết nhớ thương, nhớ tiếc cái Hà Nội lãng mạn xa xưa ấy, qua những âm điệu du dương, thầm hát trong đầu của những nhạc điệu tiền chiến! "Tiền chiến" là dư âm, là vang bóng một thời của Hà Nội nên thơ, Hà Nội đẹp, Hà Nội thanh lịch nay đã mất, đã chết!

Người Hà Nội mới hôm nay lúc nào cũng gồng mình lên để tỏ ra vẻ kiêu binh, tiên tiến của những anh hùng chiến thắng, lúc nào cũng sẵn sàng để hoan hô! Hoan hô Hà Nội cách mạng! Hoan hô Hà Nội anh hùng! Dân Hà Nội cũ cũng phải hoan hô theo, nhưng trong lòng thì u buồn, lo lắng vô cùng. Lo lắng vì trật tự mới không đúng như lời nói, lời hứa: lý luận cái gì cũng rất lý tưởng, nhưng trong việc làm thục tế thì cái gì cũng hỗn loạn, cũng tham lam, gian dối, tranh giành, ti tiện. Các khẩu hiệu vang dội từ loa, từ những chữ đỏ trên băng rôn chỉ là những trống rỗng khổng lồ. Trật tự mới kiểm soát mọi tứ, cấm cản đủ điều, nhưng cứ đút loát thì cái gì cũng thoát, cũng qua! Luật lệ cách mạng rất nghiêm minh, rất khó sống, nhưng nhờ đồng tiền khôn, biết chui, biết luồn, nên luật lệ nghiêm minh ấy cũng rất dễ qua mặt.

[…]

Sự thật là trong cái thủ đô cách mạng "tiên tiến", "anh hùng", đang sục sôi một sự tranh giành, lấn chiếm, tranh thủ, tước đạt một khoảng không gian sống, một vị trí cho riêng mình, cho gia đình mình. Hà Nội sôi sục một làn sóng vận động ngấm ngầm, rất tích cực để giành một chức vụ trong guồng máy hành chính đang được phát triển ngày càng phình ra để kiểm soát toàn xã hội và nhất là để thoả mãn những gửi gấm của các đồng chí "bên trên". Ai cũng nghĩ trong đầu: hoà bình rồi, nay là thời cơ để tranh thủ một chút địa vị, một chút của cải cho riêng mình! Chẳng lẽ chiến đấu gian khổ trong bao nhiêu năm, mà nay chiến thắng trở về tay trắng lại hoàn trắng tay? Tranh đấu để có một cái gì chứm chẳng lẽ tranh đấu để rồi không được một cái gì sao? […] Họ không phải là thứ cán bộ biến chất, họ chỉ là những con người đang bộc bạch những nhu cầu tự nhiên, bộc lộ ra cái bản chất chân thật của mình: vì ai cũng mong tìm cái no, cái ấm mà thôi.

Read more ...