Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Những lời trăn trối. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Những lời trăn trối. Hiển thị tất cả bài đăng

Một "phiên toà" cải cách ruộng đất

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014
Lời dẫn: Sau khi về VN, GS Trần Đức Thảo có dịp chứng kiến cuộc Cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở Vĩnh Phúc. Ông mô tả một cách sinh động "phiên toà" CCRĐ, với những dàn dựng của những kẻ đứng đằng sau mà sau này chúng ta biết là các viên "cố vấn" Tàu cộng. Tất cả những trò đấu tố, thành phần tham gia đấu tố, thậm chí câu chữ dùng đều được lên kế hoạch cẩn thận và không qua được con mắt của các viên cố vấn Tàu. Dĩ nhiên, tất cả chẳng có luật pháp gì cả, chỉ là trò đấu tố dưới danh nghĩa "đấu tranh giai cấp". Dưới đây là trích đoạn một phiên toà đấu tố trong CCRĐ trong cuốn Những lời trăn trối của ông. Đọc để biết một thời mông muội ra sao. Thật ra, cho đến ngày nay trò đấu tố này thỉnh thoảng vẫn còn xuất hiện đây đó.



=====

[...]

Sau một tuần lễ chuẩn bị, một phiên toà cải cách ruộng đất đã được tổ chức trước sân gạch lớn nhất của đình làng.

Dọc hai bên sân đình có treo la liệt biểu ngữ lên án bọn trí, phú địa hào là tàn dư của phong kiến, thực dân, là kẻ thù của giai cấp công nông, là kẻ phá hoại xã hội, là kẻ muốn nối giáo cho giặc …

Khoảng 2 giờ trưa hôm ấy, trời nắng chói chang. Từ cả tiếng đồng hồ trước, dân chúng đã được điều động tới ngồu xổm trên gạch trước sân đình, Ông già, bà già, người lớn, trẻ con, bồng bế nhau đi coi xử địa chủ! Đám đông nói cười ồn ào, trẻ con khóc inh ỏi.

Nhưng rồi từ ngoài, một cán bộ dẫn tới một toán "thanh niên và nhi đồng cải cách", sắp xếp cho toán ấy ngồi trước mặt quần chúng và bắt đầu công tác văn hoá tuyên truyền để tạo không khí cách mạng, gồm có hô khẩu hiệu và ca hát. Cứ hô vài khẩu hiệu đả đảo tàn dư phong kiến thực dân xong, lại vỗ tay làm nhịp hát một bài. Lối hát cũng đặc biệt, vì thực ra đây là một bài vè ngắn đã thuộc lòng, rồi đọc lên cho có vần, có điệu theo nhịp vỗ tay, cứ y như cùng nhau niệm kinh theo nhịp mõ trong chùa. Hỏi ra mới biết đây là kiểu hát dân dã của sắc tộc miền núi bên Trung Quốc, gọi là "sơn ca", nội dung bài hát cũng là theo phong cách "đấu tố ca" bên Trung Quốc, Thảo thấy hay nên cũng lắng tai nghe. Nghe mấy đợt rồi cũng thuộc lòng một bài, rồi cũng vỗ tay ba nhịp để hát từng câu.

Nước chảy dưới dòng sông
Ai múc lên thì uống
Cũng như là đất ruộng
Ai có công thì hưởng bốn mùa
Mấy câu ca trên đây 
Của nông dân Trung Quốc
Anh em ơi! Hãy học lấy cho thuộc!
Để vung tay phát động đấu tranh!
Nhưng nay vì quốc gia, vì đảng
Vì bước trường kì cách mạng
Nên ta còn cho chúng hướng phần tô 
Nếu chúng còn gian dối mưu mô
Thì quyết liệt. Anh em ơi! Đấu mãi!

Đám đông hát xong, một cán bộ tuyên truyền hô lớn:

- Đả đảo địa chủ, con đẻ phong kiến, thực dân!

Quần chúng cách mạng cũng hưởng ứng hô tiếp:

- Đả đảo! Đả đảo! Đả đảo!

Rồi lại hát. Rồi lại hô khẩu hiệu. Cứ như vậy khoảng hơn nửa giờ thì ngưng để bắt đầu "phiên toà án cải cách".

Bàn chủ toạ đặt phía trong đình cũng đã bắt đầu đông đủ. Trên bãi sân trước bàn ngăn cách xa với đám đông bên ngoài là một cột cờ cao 6 thước, rồi tới hàng cọc tre. Ai cũng biết mấy cọc đó dành cho những tên phản động sắp bị mang ra đấu tố. Nhưng chính mấy cọc tre đó đã làm cho đám đông hồi hộp muốn chờ xem những tội nhân bị mang ra đấu tố là ai, sẽ trừng trị như thế nào. Càng hiếu kì hơn là ngay cạnh bên trái đình, là một mô đất nâu sẫm vì mới được đắp, là một hàng cọc tre khác với một tấm bảng ghi rõ "trường bắn"!

Bổng trống cái trong đình nổi lên ba tiếng: Thùng! Thùng! Thùng!

Bên ngoài, có tiếng quát liên tiếp:

- Tránh ra! Tránh ra! Tránh ra!

Đám đông tụ tập ngồi trước đình bị sáu dân quân tự vệ cầm súng trường có gắn lưỡi lê dẹp qua hai bên để mở đường cho đoàn cán bộ, đội viên đội cải cách vào đình. Chỉ có năm đội viên cải cách được vào ngồi trước bản nhìn xuống hàng cọc tre ở bên trái, và xa hơn là dân chúng. Số cán bộ đi phát động thì được mời ngồi ở hàng ghế phía sau. Một trong những cán bộ ngồi đầu bàn bên trái, có vẻ là người nắm công việc tổ chức, lớn tiếng ra lệnh cho một dân quân:

- Nổi trống lên để làm lễ khai mạc!

Ba hồi trống rền vang dậy báo hiệu phiên toà cải cách ruộng đất sắp bắt đầu. […] Sáu dân quân cầm súng ban nãy giơ súng thẳng ra trước ngực để chào cờ. Ba dân quân khác tiến ra: một người hai tay trịnh trọng mang lá cờ còn gấp vuông vức bước tối cột cờ, theo sau là người kéo cờ và chót hết là người bắt nhịp hát:

- Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc …

Bài quốc ca được hát vang dội. Lá cờ được từ từ kéo lên tới đỉnh cột cờ lúc bài ca chấm dứt. Người dân quân lại hô:

- Tất cả! Nghỉ! Tất cả! Ngồi!

Đám đông lao xao ngồi trên guốc, dép, số còn lại thì ngồi xổm hoặc ngồi bệt xuống gạch. Cán bộ cải cách ngồi giữa trước bàn đứng dậy tuyên bố khai mạc phiên xử 6 tên ác ôn phản động gồm 5 tên đều là địa chủ, phú nông. Còn một tên là lí trưởng cũ.

Bỗng có tiếng khóc lóc. Rồi từ bên ngoài hai dân quân dẫn 6 người bị trói quật tay ra sau lưng. Cả sáu bị buộc thành một chuỗi bằng những khúc dây thừng to vòng quanh cổ, người nọ tiếp nối người kia, cách nhau khoảng 2 thước. Dân quân đi đầu đeo súng trên vai, tay cầm đoạn dây thừng kéo chuỗi 6 người bị mang ra đấu tố, dân quân thứ nhì cầm súng đi bên cạnh. Tội nhân mặc quần áo xốc xếch, có vết bùn và vết máu, có kẻ vừa đi vừa khóc lóc. Trong số đó, có một bà cụ ngoài 60 tuổi, khi đi ngang qua đám đông thì gào khóc thật to:

- Con ơi là con ơi! Con ở đâu thì về cứu mẹ với con ơi!

Dân quân đi cạnh bước tới dùng báng súng đánh ngang vào bụng bà già và quát:

- Con mụ già này có câm mồm đi không? Câm ngay đi!

Bà cụ bị báng súng phang mạnh vào bụng, ngã chúi xuống, kéo hai người đi trước và sau cùng ngã ra làm tất cả chuỗi người chùng lại suýt cùng ngã theo. Hai dân quân vội nắm cổ lôi họ đứng dậy một cách vất vả. Đám nhi đồng thấy vậy cười khúc khích. Cán bộ chủ toạ đứng dậy quát lớn:

- Các cháu nhi đồng khôbg được cười đùa!

Đám trẻ con sợ hãi, vội lấy tay bịt miệng lại cho tiếng cười khỏi bật ra. Khi chuỗi tội nhân tội nhân bị đưa tới gần hàng cột tre, hai dân quân lần lượt tháo từng khúc giây thừng ra và bắt mỗi người quì xuống, mặt hướng về bàn chủ toạ, tay bị trói chéo ra sau dính vào một cột. Bà cụ già vẫn khóc lóc, nhưng không dám khóc to tiếng, vẫn than van:

- Con ơi là con ơi! Con ở đâu thì về cứu mẹ với con ơi!

Cán bộ chủ toạ lại đứng dậy, nói thật to:

- Hôm nay toà án cải cách ruộng đất huyện ta về đây để mang ra xét xử 6 tên phản động ở các xã thôn ta, do đồng báo tố cáo. Chúng thuộc giai cấp thống trị đã nổi tiếng là những tên địa chủ, phú nông, cường hào chuyên đè đầu dân, bóc lột bần cố nông, đánh đập dân nghèo. Vậy tất cả đồng bào, ai đã bị chúng bóc lột, hành hạ thì nay đều có quyền đứng ra làm nhân chứng kể tội chúng, rồi sau đó toà sẽ xét xử theo những bằng chứng và những lời buộc tội của đồng bào. Đồng bào có nhất trí xét xử 6 tên phản động này không?
Bị hỏi bất ngờ, đám đông lao xao:

- Nhất trí!

Thấy đám đông có vẻ thụ động, cán bộ chủ toạ lại quát hỏi thật to tiếng hơn nữa:

- Đồng bào có nhất trí không?

Hiểu rõ câu hỏi là một mệnh lệnh, đám đông vung nắm tay phải lên đáp đồng thanh hơn:

- Nhất trí! Nhất trí! Nhất trí!

- Bây giờ toà bắt đầu xét xử tên phản động đầu tiên là Nguyễn Văn Minh, y đã làm lí trưởng từ 12 năm nay, tên cường hào này là đày tớ của phong kiến và thực dân, đã nhiều lần ép buộc dân làng đi phu khổ sai, để đắp đường, đào kinh, lên rừng chặt cây nộp để làm đường xe lửa, chính tên lí trưởng này đã đốc thúc nhân dân phải nộp đủ các thứ thuế, từ thuế thân, thuế gạo, thuế muối, v.v. cũng chính tên này đã đánh đập những người cùng khổ vì không đủ sức lao động khổ sai, nghèo túng không nộp thuế … Vậy nay ai đã từng bị tên lí trưởng Nguyễn Văn Minh này hành hạ, bóc lột thì cứ xung phong đứng ra làm chứng để hạch tội tên phản động này để toà căn cứ vào đó mà xét xử.

Từ nãy, đã có một toán thanh niên gồm 12 người, tuổi độ trong khoảng từ trên 20 đến 30, đứng ở hàng đầu của đám đông, bên trái, ngay cạnh đám nhi đồng, toán này luôn luôn hô hoán mạnh nhất. Khi được hỏi có ai muốn là nhân chứng hạch tội thì cả toán đồng thanh giơ tay đáp:

- Tôi! 
- Tôi! 
- Tôi!

Chủ toạ ra lệnh:

- Mời nhân chứng số một!

Một người trong toán ồn ào ấy bước tới trước bàn định nói, nhưng cán bộ chủ toạ đưa tay ra lệnh:

- Nhân chứng ra gần chỗ tên lí trưởng để hạch tội!

Khi đứng ngay trước người lí trưởng bị trói và quì ở cột đầu phía trái, nhân chứng vỗ vào ngực đề trần và nói lớn:

- Mày có biết tao là ai không? Tao là Nguyễn Văn Đê, 27 tuổi, chuyên làm mướn y như bố tao và ông nội tao. Vì vậy, tao là bần cố nông từ 3 đời nay. Thế nên tao biết rất rõ tung tích của mày, là tên lí trưởng Nguyễn Văn Minh. Vì bố mày trước cũng làm lí trưởng và cả ông nội mày cũng vậy. Cả bố mày, ông nội mày và mày đều đã được phong kiến ban thưởng hàm cửu phẩm, vì có công thay mặt thực dân, phong kiến để đốc thúc dân đi phu, đốc thúc dân đóng thuế, và chính mày mới đây thôi, đã dùng roi mày đáng đập tao đến chảy máu lưng, mang thương tích còn đến bây giờ vì tội không thu mua đủ số lượng cây gai để mày giao nộp cho quân Nhật!

Sau khi vạch lưng ra để lộ mấy đám sẹo mờ mờ, nhưng rõ ràng không phải là vết roi mây, Đê tiến tới vung tay đấm mạnh vào mồm lí trưởng, miệng nói:

- Mày đã đánh, đã chửi tao, đã hà hiếp bao nhiêu đồng bào khác, mày nhớ không?

Thấy nấm tay vung tới gần miệng, lí trưởng vội né đầu xuống tránh, nhưng nấm đấm đánh trúng vào phía mắt phải, làm bật máu chảy ròng ròng ướt cả một bên mặt.

[…]

Một người khác, cũng trong nhóm nhân chứng, bước tới lí trưởng, kể các tội thật mơ hồ và mông lung:

- … Mày có thói đánh người khi say rượu. Mày đã ép người ta phải bán mấy sào ruộng thuộc loại tốt cho mày, rồi ép phải bán cả trâu khoẻ nhất cho mày, rồi mày vu cáo người ta nấu rượu lậu, để mày tịch thu tài sản, khiến cho bao người sạt nghiệp vì mày, rồi phải đi làm thuê, mò cua, mót lúa mà nuôi gia đình … Tội của mày kể ra không thể hết! Mày có nhận tội không?

Bị cáo cuối đầu im lặng.

Kể xong tội, nhân chứng tiến tới tát vào má bên trái lí trưởng, và nói:

- Chính mày đã dùng thủ đoạn, mưu kế để cướp đoạt hết tài sản của bao gia đình, mày có nhận tội hay không? Mày còn …

Bị hạch tội vu vơ, người lí trưởng không câm nín giữ im lặng được nữa, hỏi lại:

- Người ta là ai? Bao gia đình là gia đình nào cơ?

Cán bộ chủ toạ thấy buộc tội mơ hồ quá, nên quyết định:

- Tội lỗi của tên cường hào lí trưởng này như vậy đã rõ rồi. Bây giờ xử lí tới tên địa chủ Hoàng Văn Quân. Nhân chứng đâu?

Một người gầy còm tiến tới trước tội nhan bị trói quì ở cột thứ nhì, nêu rõ tên mình rồi lớn tiếng bắt đầu kể tội:

- Mày có hơn hai mẫu ruộng, mà cả đời chân không lội bùn, tay không chạm tới hòn đất, toàn thuê mướn dân nghèo khổ phát canh cho mày thu tô. Làm xong việc thì mày chê bai để bớt tiền này công nọ. Trong nhà thì vợ mày đẻ con, mà không nuôi, toàn nuôi vú sữa, mày bắt người vú phải gửi con về nhà ông bà để nuôi nó bằng cháo trắng …

Cứ mỗi lần kể xong một tội, nhân chứng lại tát vào mặt tội nhân và hỏi:

- Có phải mày đã làm như vậy hay tao nói sai?

Lần lượt các nhân chứng tới cạnh các tội nhân để hạch tội một cách mơ hồ, toàn là những lời đồn đại. Thỉnh thoảng còn tát vào mặt các tội nhân theo cùng một cách, vì đã được huấn luyện như thế. Cả năm tội nhân đều bị đánh, và phải cúi đầu im lặng. Chỉ có tội nhân nữ là bà cụ Vũ Thị Thanh là dám cãi lại.

Hai nhân chứng chót là phụ nữ, nói xoe xoé kể tội:

- Mày có nhà gạch lớn như dinh thự nhà quan với vườn rộng mênh mông, nuôi tới 3 con chó Tây để trong nhà, có đời sống xa hoa sang trọng mà không nghĩ tới bao gia đình cùng khổ sống ở chung quanh! Mày nuôi hai đày tớ với lương rẻ mạt … Người nghèo đói đến xin ăn thì mày xua chó đuổi đi, có khi chó xông ra cắn người qua đường đến bị thương nặng, mày có nhận tội không?

Trái với 5 tội nhân đàn ông, bà già này cãi lại chứ không nhận tội:

- Nhà tôi rộng vì con tôi ở Hà Nội gửi tiền về xây cho chứ tôi không bóc lột ai! Tôi sống ăn chay, tụng kinh Phật chứ không sống xa hoa! Tôi nuôi chó giữ nhà vì đã bị kẻ trộm vào nhà nhiều lần. Ngày rằm, mồng một, tôi đi chùa vẫn bố thí cho người nghèo. Năm đói Ất Dậu, chính tôi lo nấu cháo cứu người trong làng. Mỗi khi làng có việc, tới quyên góp, tôi là người xung phong ủng hộ nhiều nhất. Khi cách mạng về, tôi đã ủng hộ tiền mua súng cho đội dân quân của làng! Cả đời tôi không bóc lột ai, con tôi hiện đang đi bộ đội đang đánh pháp ngoài chiến trường …

- Mày nói láo! Mày không bóc lột ai, nhưng con mày ở Hà Nội có cày sâu cuốc bẫm đâu mà có của cải nhiều thế? Của cải ấy, không do bóc lột thì nó trên trời rơi xuống à. Câm mồm con đĩ già ngoan cố!

Nhân chứng vừa chửi vừa tiến lại tát mạnh vào mặt bà già! Bà cụ đau quá, càng gào khóc, gọi con cầu cứu:

- Con ơi là con ơi! Nó đánh mẹ, con ơi! Con về cứu mẹ với con ơi!

Người dân quân đừng đằng sau tiến tới lấy báng súng bổ vào lưng bà già quát:

- Câm mồm ngay! Còn khóc lóc nữa là tao nhét giẻ vào mồm đấy!

Bà già sợ hãi, khóc nhỏ hẳn đi nhưng miệng vẫn rên rỉ:

- Con ơi là con ơi!

Lần đầu tiên trong đời, Thảo được chứng kiến một "phiên toà" đánh đập thô bạo đến mức khủng khiếp như vậy. Đây là một trò hề công lí, chứ có luật lệ gì đâu! Bằng chứng tội lỗi toàn là do bần cố nông kể miệng như vu oan, chứ không do một văn bản điều tra nào. Không điều luật nào được nêu ra làm căn bản buộc tội. Bởi có ai biết gì, hiểu gì về công việc xét xử của một toà án bao giờ đâu. Thế nên đầu óc Thảo bị căng thẳng, tim đập mạnh, thân thể run lên vì xúc động ...

[…]

- Bắn bỏ mẹ chúng nó đi! Bọn phản động!

- Phải diệt hết lũ Việt gian phản động này!

- Con mụ đĩ già ngoan cố! Phải tịch thu nhà cửa của nó!

Toán nhi đồng coi cảnh hạch tội như thế cũng thấy vui nên cười nói vỗ tay theo. Cán bộ chủ toạ đứng lên tuyên bố:

- Bây giờ đồng bào có quyền góp ý quyết định án phạt trừng trị tội phạm.
Đám nhân chứng bên dưới đồng thanh hô to:

- Xử tử! Xử tử! Xử tử!

- Thế còn tài sản của chúng nó?

- Tịch thu! Tịch thu! Tịch thu!

Bỗng từ ngoài, một cán bộ đứng tuổi có vẻ quan trọng, hông đeo sắc cốt và súng lục chạy vào sát cán bộ chủ toạ, ghé tai nói điều gì. Rồi hai người thì thầm bàn luận với nhau có vẻ sôi nổi khá lâu. Cuối cùng cán bộ chủ toạ đứng dậy lớn tiếng nói:

- Nay toà long trọng tuyên án: tử hình đối với các tội nhân Nguyễn Văn Minh, Trần Văn Lễ, Nguyễn Sắc, Trần Văn Bắc, Đỗ Đình Lang và Vũ Thị Thanh! Tịch thu tài sản của chúng để chia lại cho nhân dân trong xã.

Đám nhân chứng và nhi đồng vui mừng vỗ tay và hét to:

- Hoan hô! Hoan hô! Hoan hô!

Có lẽ hai tiếng "tử hình" đã làm cho phần lớn đám đông sợ hải nên họ im lặng, Rồi cán bộ chủ toạ tuyên bố tiếp:

- Tiếp theo lời buộc tội và đề nghị án trừng trị của nhân dân, và toà tuyên án. Nay vì vừa có lệnh mới nên toà tuyên bố tạm hoãn thi hành án tử hình ngay tại chỗ! Vậy xin đồng bào tự động giải tán.


Read more ...

GS Trần Đức Thảo và những ngày tháng ở Sài Gòn

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014
Lời dẫn: Nhắc lại câu chuyện: GS Trần Văn Giàu và ông Trần Bạch Đằng trong Nam thuyết phục GS Trần Đức Thảo nên vào Sài Gòn sinh sống vì không khí ngoài Hà Nội ngột ngạt quá. Sau vài tháng can thiệp, ông được phép vào Sài Gòn, dưới sự "quản lí" của thành uỷ. Trong thời gian ở đây, nhiều trí thức tới lui hàn huyên, và ông xuất bản được một quyển sách nhỏ. Mới phát hành sách một đợt thì có lệnh thu hồi. Đến khi "trung ương" mất kiên nhẫn với ông, vì thấy giới trí thức Nam Bộ và những người kháng chiến cũ lui tới thường xuyên, mà họ nghi là có "âm mưu" đen tối. Thế là đảng quyết định trục xuất ông khỏi Việt Nam. Như vậy ông đi từ Paris về Hà Nội, từ Hà Nội vào Sài Gòn, và từ Sài Gòn quay về Paris và chết ở Paris. Một cõi đi về.

=====

[Trích]
Tháng 3/1987, Thảo được phép vào thăm Sài Gòn và được thành uỷ cho trú ngụ tại khách sạn Bến Nghé, là một khách sạn loại bình dân dành cho cán bộ cấp thấp. Tuy vậy, giới trí thức cũng như thành uỷ Sài Gòn đã dành cho Thảo một sự tiếp đón thân tình.

- Đồng chí cứ sinh hoạt thoải mái, ở đây không có sự kiểm soát gắt gao như ở Hà Nội đâu. Còn về mặt vật chất thì thành uỷ sẽ cấp dưỡng chu đáo! Mong rằng từ đây đồng chí sẽ có cống hiến đóng góp vào sinh hoạt tư tưởng với anh em trí thức trong này.

Sự khuyến khích và giúp đỡ ấy là một thúc bách đối với Thảo: phải làm một cái gì đó để đáp lại tấm lòng tốt của anh em miền Nam, phải đáp ứng khát vọng của trí thức Sài Gòn, phải đề ra một phương hướng lí luận mới, không giáo điều, không nguỵ biện.

Được gợi hứng bởi môi trường phóng khoáng của miền Nam, Thảo viết một hơi, chỉ trong vòng 10 ngày một tập sách nhỏ ra đời. Đây là một thứ trích đoạn từ những phác thảo của cuốn sách lớn đã có sẵn trong đầu. Đoạn này phù hợp với nhu cầu của tình hình. Vì nó nêu ra sai lầm cơ bản của cách mạng là lối sùng bái lãnh tụ và lối lí luận nguỵ biện sơ cứng, không chịu nhìn nhận những giá trị sẵn có trong bản sắc, bản năng con người nói chung, không chịu coi con người là trọng tâm, là cứu cánh của mọi lí luận, mọi chính sách. Chính lối lí luận sơ cứng giáo điều, coi con người chỉ là dụng cụ này đã đưa đến bế tắc tư tưởng. Vì đã bỏ quên con người là cứu cánh. Đấy là nguyên nhân sâu xa khiến khối Liên Xô cho tới chế độ Khmer Đỏ đã bị phê phán nặng nề, đến phải lung lay, và đã sụp đỗ …

Kết quả của sự ra mắt tập sách nhỏ với nhan đề "Con người và chủ nghĩa lí luận không có con người" thật là một bất ngờ. Đây là một mốc sinh hoạt tư tưởng có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời nghiên cứu triết học của Thảo từ khi về nước. Đây là lần đầu tiên một tập sách mang tính lí luận triết học không chịu sự chi phối của đảng đã được công khai bán tại VN. Mà, tác giả của nó lại là Trần Đức Thảo, một nạn nhân, một tội đồ trong vụ "Nhân văn Giai phẩm"! Tập sách nhỏ này ra đời đúng vào lúc mọi người đang náo nức bàn luận về một xu hướng đòi hỏi phải thay đổi cả về tư duy lẫn đường lối chính sách. Cuốn sách được trí thức miền Nam đánh giá là một văn bản bác giáo điều, chống tệ nạn sùng bái cá nhân của thời đảng bao cấp, đảng thống trị.

[…]
Cuốn sách được xuất bản dễ dàng và đạt kết quả tốt. Chỉ trong 3 tháng, người ta đã phải cho tái bản vì độc giả tìm mua quá đông, mà sách không còn để bán.

Vì có những lời bình bàn vui mừng quá trớn, coi tập sách này như là một bùng phát của một tâm thức bị dồn nén đang muốn vùng dậy. Dư luận coi đó là lời tố cáo, gần như công khai, nguồn gốc của một chế độ đã có quá nhiều thủ đoạn kìm kẹp, bắt ép con người phải sùng bái một lí thuyết, sùng bái lãnh đạo … và cứ phải bưng bít sự thật, phải dối trá nguỵ biện trong lí luận để củng cố địa vị và để chạy tội.

Trước những lời bình bốc đồng như thế, Thảo lo ngại vì thấy có thể gặp phản ứng nguy hiểm, nên đã cố ý sửa lại cuốn sách trước khi cho tái bản, bằng cách đưa chương mở đầu nói về tệ nạn qui oan, tệ nạn sùng bái, vào bên trong, thành chương 8 ở cuối sách, cho nó bớt va chạm vào sự kiêu căng, tự ái của mấy ông "bảo hoàng hơn vua", của mấy ông "quan cách mạng" trong ban cục "tuyên giáo", "bảo vệ", và "tuyên huấn", "tư tưởng trung ương"... Rồi ở phần cuối thì tăng thêm vài trang nói về hiện tượng giáo điều cực đoan của chế độ … Pol Pot.

Nhưng kẹt cho thành uỷ Sài Gòn là có lệnh từ Hà Nội yêu cầu thu hồi cuốn sách và từ nay cấm phổ biến nó! Chờ cho vài tuần đi qua, thành uỷ báo cáo ra Hà Nội rằng "Rất tiếc, không thi hành lệnh thu hồi được, vì cuốn sách, cả ở lần tái bản, nay đã bán hết ra ngoài"!
Nhờ lần tái bản này với số lượng in ra nhiều hơn nên dễ mua hơn. Hậu quả là số trí thức lui tới khách sạn Bến Nghé tiếp xúc với Thảo tấp nập. Công an khu vực khách sạn được lệnh vào cuộc bằng cách lập danh sách những ai hay tới ghé thăm Thảo. Nhưng số người ghé thăm cứ tăng vọt lên khi có tin cuốn sách đã bị cấm bán. Để chấm dứt sự chiếu cố quá lộ liễu của giới trí thức và giới cựu kháng chiến của miền Nam, thành uỷ ra lệnh thay đổi chỗ ở của Thảo.

Những người bạn mới của Thảo thường ưa tới bàn chuyện chính trị đã bị cụt hứng khi tới khách sạn Bến Nghé và được nhân viên khách sạn trả lời:
- Đồng chí ấy đã trở về Hà Nội rồi!

Sự thật là Thảo đã được cấp cho một căn nhà nhỏ ở đường Đề Thám chứ không phải là đã bị đưa về Hà Nội. Nhưng người ta cũng khám phá ra địa chỉ mới của Thảo. Lần này thì có nhiều trí thức của chế độ cũ tới làm quen với Thảo.

[…]
Tới với Thảo giờ đây là cánh kháng chiến cũ của miền Nam, từng bị gạt ra bên lề chính trường ngay sau ngày chiến thắng. Giới này bao gồm hai thành phần: thành phần có uy thế văn hoá, văn chương, có bằng cấp, đã được dùng như đồ trang trí trong Phong trào hoà bình, hoà giải dân tộc trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Nay thì họ phê bình đảng một cách cay đắng vì bị lâm vào cảnh "vắt chanh bỏ vỏ". Còn thành phần đảng viên gốc miền Nam chính cống, thuộc lực lượng vũ trang, từng trực tiếp đóng góp xương máu cho sự nghiệp thống nhất, thì nay phẫn nộ ra mặt, để phản kháng chính sách phản bội anh em, đồng chí miền Nam của đảng.
[…]
Công an phường Cô Bắc đã được lệnh phải theo dõi chặt chẽ hơn, phải lập hồ sơ lí lịch những ai lui tới với Thảo. Cuối cùng thành uỷ Sài Gòn đành phải báo cáo lên trung ương về một "nguy cơ chính trị đang hình thành" do số người phức tạp đến gặp Thảo ngày càng đông. Có lúc họ ngủ lại trong nhà Thảo. Bản báo cáo này đi vòng vo rồi cũng tới tay … Sông Trường, với lời báo động của Ban tư tưởng văn hoá.

Rồi một hôm, trời tuy nắng nhưng do cuối năm nên không nóng mấy, Sông Trường tới thăm. Thảo ngạc nhiên!

- Đã lâu quá không gặp anh, nên hôm nay rảnh rỗi, tới thăm anh. Sức khoẻ anh độ này thế nào? Sao trông anh có vẻ hơi vàng vọt, bệnh gan của anh sao rồi, có thuốc men đầy đủ không? Anh có cần gì không?

- Cám ơn anh đã có lòng tới thăm tôi. Mà sao hôm nay anh lại chú ý đến sức khoẻ của tôi vậy? Sự thật là tôi chưa bao giờ cảm thấy khoẻ như lúc này. Nhưng anh tới là chuyện gì vậy anh? Giữa anh và tôi ta nên cứ thẳng thắn với nhau đi. Có phải là tại vì có nhiều người lạ đến thăm tôi? Tôi cũng thấy bị mất thời giờ với họ. Nhưng họ là những người tâm huyết của miền Nam, thấy họ tỏ ra rất trăn trở về tình hình đất nước như tôi, nên tôi không thể xua đuổi họ.
- Họ trăn trở về điều gì? Có phải họ than thở với anh về tình trạng các cán bộ miền Bắc vào đây quá đông nên đã chiếm chỗ làm của họ?

- Không phải vậy. Đấy là điều lần đầu tiên tôi được anh cho biết có tình trạng đó. Họ tới với tôi là để bàn về hiện tượng hủ hoá tràn lan của các cấp cán bộ cách mạng của ta ở trong này. Đại khái họ nêu ra những cách thức làm giàu, vơ vét của cải quá lộ liễu của các cán bộ cấp cao cũng như cấp thấp ở mọi nơi … Họ dùng quyền lực xin nhà, cấp nhà đất cho họ hàng, gia đình, thậm chí cho cả bạn bè hay người bên ngoài đảng nữa, để cấu kết với nhau kinh doanh bất hợp pháp đất đai rất trắng trợn. Xin nhà rồi thì đòi hợp thức hoá. Hợp thức hoá xong là bán cho tư nhân, rồi xin đổi đi tỉnh khác, lại xin trợ cấp vì lí do chưa có. Cứ như vậy, con cháu họ bị thuyên chuyển đi nhiều tỉnh làm việc là cuối cùng họ giàu lên quá nhanh.

Còn xin đất để phát triển công nghiệp, nhưng vừa được cấp xong là bị xẻ nhỏ ra để nhượng lại cho dân xây nhà ở. Có nơi vùng ven biển thì nhắm mắt cho phép kẻ gian lập bãi đáp cho dân đi chui di tản ra nước ngoài, chúng thu mỗi đầu người ra đi như vậy từ năm đến mười mấy "cây" vàng! Anh thử tính coi, từ bao nhiêu năm nay, có cả mấy trăm ngàn người đã bằng lòng mua bãi để được đi chui an toàn, và chúng đã thu được hằng mấy tỉ đô la Mĩ. Tôi nghe họ tính toán kinh hãi quá.

Hôm nọ, hai anh Trần Bạch Đằng và Trần Văn Giàu tới thăm tôi, hai anh ấy than là đảng và chế độ ta bị tai tiếng nhiều là do cánh tư tưởng văn hoá và cánh công an: cả hai cánh ấy đều quen thói vu khống, chụp mũ, chế tạo bằng chứng giả, sử dụng côn đồ, rồi toa rập với toà án tạo ra những án oan để đánh trí thức và làm tiền cho bọn nhà giàu, bịt miệng giới tranh đấu đòi các quyền dân chủ … Nhà nước mà tham lam, đầy thủ đoạn lộ liễu như thế thì còn gì là chính nghĩa, là công lí nữa?! Dân làm sao kính trọng một đảng, một nhà nước đầy thủ đoạn và thối nát như thế. Hai anh ấy hỏi tôi làm sao chấm dứt tình trạng này. Anh có biết gì về những tệ nạn ấy không?

- Tôi biết chứ! Đui mù cũng phải thấy chứ! Nhưng nay tệ nạn cán bộ "biến chất" tràn lan ra đều khắp, dẹp hết không nổi, mà dẹp hết thì sẽ không còn cán bộ mà sai khiến. Khó khăn, nan giải lắm, chứ không dễ thanh toán đâu.

- Thế anh có biết tại sao hiện nay cánh văn hoá tư tưởng, cánh công an cứ tự do thao túng và tệ nạn làm giàu bất hợp pháp lại trắng trợn và tràn lan như vậy không? Theo tôi là do chính quyền cứ bưng bít, không dám công khai hoá những vụ việc bất lương ấy ra trước ánh sáng dư luận. Nên bọn chúng cứ hoành hành như là vẫn được bóng tối che dấu, ít ai biết đến tội lỗi của chúng. Nhưng nhân dân đã thấy hết. Nếu cho báo chí của ta tự do khui các vụ ấy ra, thì tham nhũng sẽ phải chùn tay. Trước sau gì, muốn thắng tụi nó là phải có tự do báo chí! Tự do báo chí là để ánh sáng soi rọi vào những nơi có sai trái, tội lỗi!

- Không được! Không được đâu! Vì tự do báo chí là sẽ loạn ngay. Tụi thù địch sẽ nhảy vào lợi dụng. Chúng sẽ quậy nát chế độ ta. Vì chỗ nào mà chẳng có tham nhũng. Chúng nó sẽ dùng tự do báo chí để đẩy mạnh diễn biến hoà bình là ta sẽ sụp đổ y như Liên Xô trước đây thôi. Cái gì chứ tự do báo chí là tuyệt đối không được đâu.

- Tôi thấy sự sụp đổ ở Liên Xô là không phải do có tự do báo chí. Vì lúc đó phần lớn báo chí ở khắp nơi vẫn ở trong tay đảng kia mà! Sự sụp đổ ấy có nguyên nhân nội tại, nó đã tới từ nội bộ hoang mang, rối loạn trong đảng. Từ những sai lầm đã tích luỹ từ lâu …

- Thôi, anh đừng bận tâm về những chuyện chính trị phức tạp ấy. Nó khó giải thích lắm! Và, có lẽ là không thể giải thích được, ta nên tạm gạt nó qua một bên.

- Vậy thực sự là anh tới thăm tôi hôm nay có mục đích gì?

- Đúng như anh dự đoán, tôi tới anh với một mục đích rõ rệt đã được suy nghĩ rất kĩ. Tôi tới là để đề nghị với anh một giải pháp có lợi cho anh về mọi mặt. Tôi yêu cầu anh không trả lời ngay, mà cứ để suy nghĩ cho thật kĩ rồi hãy trả lời.

- Đề nghị gì mà ghê gớm thế?

- Tôi đề nghị anh nên trở qua Pháp nghỉ ngơi, tìm thuốc men chữa bệnh cho thật khoẻ rồi sau lại về đây. Lúc đó chúng ta sẽ tính với nhau một công tác triệt để và lâu dài. Vì tới đây, đất nước ta sẽ lột xác thành một con rồng Á châu, ít ra cũng có thể sánh với Đài Loan và Hàn Quốc. Anh cứ suy nghĩ cho thật kĩ đi, tôi biết rồi thế nào anh cũng hiểu ý tôi, để chấp thuận đề nghị này. Bởi vì nếu anh ở lại Sài Gòn hay trở lại Hà Nội, thì rồi cũng chỉ phí phạm thời gian của anh thôi. Nếu anh ra đi sẽ như đại bàng bay trở lại vùng trời cao, nó sẽ có thể thấy và làm được nhiều chuyện phi thường, khác với lúc nó bị nhốt trong chuồng, cho dù cái chuồng ấy tốt đẹp đến đâu, nhưng vẫn phải sống chung với đàn gà.
- Thật là một đề nghị quá bất ngờ đối với tôi. Như anh đã biết, trong thời gian kể từ khi về nước đến nay, đã có vài lần tôi được mời cùng phái đoàn của ta đi tham quan nước ngoài, và đã có lần chính người trong đoàn đề nghị để tôi cứ âm thầm ở lại nước ngoài để mà tiếp tục nghiên cứu y như hồi còn sinh hoạt ở Paris, nhưng tôi đã dứt khoát từ chối. Vì tôi nghĩ Thảo ngày nay y như một cây tùng đất Việt, nó chỉ có thể mọc và phát triển cho đúng là cây tùng khi nó được trồng ở đất Việt mà thôi. Ở nơi khác, nó sẽ không còn được vóc dáng của một cây tùng nước Việt! Bây giờ anh tính bứng nó đi để trồng ở một nơi khác.

- Không, tôi nghĩ bây giờ cây tùng ấy đã tăng trưởng đủ để, dù trồng ở đâu, vẫn có bản chất, vóc dáng, bóng mát của cây tùng. Anh cứ nghĩ cho thật kĩ đi rồi hay trả lời tôi. Anh chưa chán cảnh phượng hoàng phải sống chung với đàn gà à? Thôi, tôi về và chờ câu trả lời có suy nghĩ của anh.

- Anh không cần phải chờ! Tôi trả lời thẳng với anh rằng tôi không cần đi đâu cả. Anh phải biết rằng khi trở về đất nước này là tôi đã bồng bột mang theo một giấc mơ huy hoàng, một kì vọng vĩ đại là để mang con tim khối óc ra xây dựng một mô hình cách mạng mà loài người mong đợi! Nhưng khi trở về quê hương rồi, thì giấc mơ ấy, kì vọng ấy đã bị thực tại chỗ đạp cho tan tành. Rồi mãi sau, qua những trải nghiệm vất vả, tôi mới đứng dậy được, nhờ đã định ra cho mình một nghĩa vụ thiết thực hơn, nhờ đã tìm ra một kì vọng chắc chắn sẽ thành tựu, là sẽ góp ý làm cho cuộc cách mạng này có tính nhân bản, nhân đạo hơn, cho bớt tính chuyên chính độc đoán, tính hiếu chiến gây tai hoạ, để trở thành một nhà nước hoà bình, dân chủ hợp lòng dân, thực sự do dân và vì dân để mà sống còn với thời đại và thời gian. Anh không thấy, không hiểu thành tâm thiện chí và quyết tâm của tôi sao?

- Tôi rất hiểu lòng nhiệt thành của anh. Chính vì thể mà tôi muốn anh ra đi. Chúng tôi đã bố trí, đã chuẩn bị cho anh một lối thoát vừa danh dự, vừa lí tưởng, Vì anh chưa suy nghĩ thấu đáo đó thôi. Mai tôi sẽ trở lại, xin anh đừng thoái thác vội vã. Anh cứ suy nghĩ và suy nghĩ thêm đi, mai sẽ trả lời tôi. Vì tất cả đã sẵn sàng rồi, nhất định anh không thể lưu lại cái đất Sài Gòn này như vậy nữa đâu. Đảng đã quyết định, nhất định là anh phải ra đi thôi, không cưỡng lại được đâu, mà sự thật là không nên cưỡng lại, vì ra đi sẽ có lợi cho anh … Anh cứ suy nghĩ thấu đáo để thấy rõ đề nghị thực tiễn của tôi.

Sau khi Sông Trường ra về, Thảo suy nghĩ đến đau đầu. Tại sao lại có đề nghị này? Đây lại thêm một thủ đoạn để cô lập ta với những trí thức và cánh kháng chiến miền Nam. Lỗi ở ta đã không cảnh giác, cứ tưởng vào Nam là thoát cảnh bị kìm kẹp. Bây giờ họ muốn đẩy ta đi, mà ta từ chối thì chuyện gì sẽ xảy ra. Họ thì thiếu gì thủ đoạn. Chính Sông Trường đã nói thẳng ra mọi sự đã được bố trí sẵn sàng rồi là gì! Ta làm sao cưỡng lại được. Mà ra đi hay ở lại, lợi cho ai, hại cho ai? Tuổi ta đã gần đất xa trời, còn chống trả với quyền lực và thời gian được bao lâu nữa? Mà chống trả làm gì khi ta vẫn còn bị kìm kẹp và phong toả? Ta đi sẽ tới chân trời rộng mở. Ở lại là vẫn bị bao vây bởi bức tường cảnh giác và nghi kị. Vài năm nữa ta chết đi, mang vào cõi im lặng cả một khối lượng tư duy và bao công trình trải nghiệm … thế là rảnh nợ cho họ. Thôi cũng đành mang thân xác này ra gửi xứ người. Biết đâu ở bên ngoài ta lại có đủ thời gian và cơ hội để dàn trải trí óc ta lên trang giấy, trong một cuốn sách hầu lưu lại một cái gì cho hậu thế. Thôi thì nay chỉ còn một giấc mộng nhỏ, một kì vọng thật mong manh trong một cuốn sách, trước khi ta trở về với cát bụi.

[Hết trích]




Read more ...