Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn nhà khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhà khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thu hút chuyên gia nước ngoài: Tạo một môi trường làm việc thật

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014
Xin giới thiệu các bạn một vài ý kiến của tôi nhân việc Bộ KHCN ra chính sách về thu hút các nhà khoa học ở nước ngoài. Bài này tôi chỉ mới phát hiện hôm nay qua một trang điểm tin khác. Bản dưới đây là bản gốc của bài báo.


Bộ Khoa học và công nghệ đang có dự án Việt Nam thu hút các chuyên gia khoa học công nghệ từ nước ngoài. Đây là một chủ trương hợp lí trong quá trình hội nhập quốc tế. Nhưng một số khó khăn có thể thấy trước được.


Đọc lí lịch khoa học của các nhà khoa học được trao giải thưởng Nobel năm nay, chúng ta dễ dàng thấy họ là những "người quốc tế". Có một xu hướng chung ở các nhà khoa học quốc tế này: sau khi xong chương trình tiến sĩ, họ làm nghiên cứu hậu tiến sĩ trong một lab thường ở nước ngoài một thời gian. Sau giai đoạn hậu tiến sĩ họ lại chuyển sang một lab khác có thể ở nước khác một thời gian. Có nhiều người "lưu lạc" như thế cả chục năm trước khi quay về "cố quốc", nhưng cũng có người không quay về nước.

Bài học từ nước ngoài

Tiêu biểu cho trường hợp hồi hương và có đóng góp quan trọng là bà May-Britt Moser, một trong 3 người được trao giải Nobel y sinh học năm nay. Sau khi xong chương trình tiến sĩ ở Na Uy, bà sang làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ ở Anh, và trong thời gian này bà đã định hướng cho các nghiên cứu tương lai. Bà quyết định quay về Na Uy, và với sự hỗ trợ của đại học, bà thành lập một lab nghiên cứu về thần kinh. Trong thời gian ở Na Uy, bà và chồng là người phát hiện các tế bào định vị dẫn đến giải Nobel, đem lại vinh quanh cho khoa học Na Uy.

Một trường hợp "qui cố hương" khác là Giáo sư Peter Doherty. Ông là người gốc Úc, nhưng là công dân Mĩ, được trao giải Nobel y sinh học năm 1996. Sau khi tốt nghiệp cử nhân về thú y, ông sang Anh theo học chương trình tiến sĩ. Sau khi xong tiến sĩ, ông quay về Úc làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ và ở nơi đây ông làm những nghiên cứu sau này được trao giải Nobel. Sau thời gian hậu tiến sĩ, ông được một đại học Mĩ bổ nhiệm chức danh giáo sư, và đứng đầu một lab nghiên cứu. Sau khi được trao giải Nobel, ông được Chính phủ Úc mời về Úc lại.

Cần nói thêm rằng, Chính phủ Úc có chương trình followship để thu hút các nhà khoa học ưu tú của Úc ở nước ngoài về Úc làm nghiên cứu. Trong chương trình này, các nhà khoa học nước ngoài được trao chức danh "Fellow" và cung cấp tài trợ một thời gian để thành lập lab nghiên cứu, và đóng góp cho khoa học Úc. Chương trình fellowship của Úc rất thành công và được một số nước ở Á châu mô phỏng theo.
Những trường hợp trên cho thấy nghiên cứu khoa học là một hoạt động mang tính quốc tế. Bất cứ ai trên thế giới đều có ý tưởng và có thể dấn thân vào việc thực hiện ý tưởng đó. Do đó, trong bối cảnh quốc tế và toàn cầu hoá, địa điểm mà nhà khoa học làm nghiên cứu có lẽ không quan trọng bằng bản thân nhà khoa học. Dù là ở Việt Nam hay Âu châu, với phương tiện có sẵn, ai cũng có thể làm nghiên cứu về hệ gen và bệnh tật. Cái khác biệt có lẽ là uy tín và kinh nghiệm của nhà khoa học.

Thật vậy, vấn đề quan trọng nhất trong khoa học vẫn là con người và ý tưởng. Ý tưởng thường xuất phát từ các nhà nghiên cứu độc lập (thuật ngữ tiếng Anh là PI – Principal Investigator). Trong nghiên cứu khoa học, các nhà nghiên cứu độc lập đóng vai trò rất quan trọng. Đó là những người có định hướng nghiên cứu, có tên tuổi trên trường quốc tế, và có khả năng điều hành một lab nghiên cứu. Việt Nam có lẽ cần thu hút những người cấp này, chứ không đơn thuần là các nhà nghiên cứu trẻ cấp tiến sĩ hay hậu tiến sĩ như Chính phủ tuyên bố. Một khi đã có PI thì việc thu hút nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ mới có hiệu quả.

Khó khăn có thể thấy trước

Đối với Việt Nam, một đất nước tương đối khép kín, việc tuyển dụng chuyên gia quốc tế còn mới mẻ. Nhưng đối với các nước cởi mở như Singapore và các nước phương Tây, việc tuyển dụng các nhà khoa học nước ngoài là việc hết sức bình thường. Ở Viện nghiên cứu y khoa Garvan, nơi tôi công tác, và các đại học Úc, mỗi khi có vị trí trống, người ta quảng cáo trên các tập san quốc tế để tuyển người. Viện của tôi mất gần 2 năm và tốn hơn 200 ngàn USD để tuyển được một viện trưởng mới. Gần 40% các nhà khoa học làm việc ở Viện Garvan là người nước ngoài (không phải công dân Úc). Đối với đại học, việc quốc tế hoá đội ngũ giáo sư và nhà khoa học là một trong những tiêu chuẩn có lợi cho việc xếp hạng quốc tế.

Nhưng việc thu hút các nhà khoa học nước ngoài hay gốc Việt có thể gặp phải vài trở ngại có thể thấy trước được. Những khó khăn này có thể kể đến vấn đề cạnh tranh quốc tế, ổn định sự nghiệp, và nhất là vấn đề lương bổng.

Các nhà khoa học có tài thường được khắp nơi chào đón và rất khó thu hút họ. Trong môi trường cạnh tranh ác liệt hiện nay giữa các đại học trên thế giới, trường nào cũng muốn tuyển những nhà khoa học đẳng cấp quốc tế, những người mà họ nghĩ sẽ góp phần tạo tên tuổi cho trường đại học. Viện nghiên cứu nơi tôi đang làm việc năm nào cũng có kế hoạch "chiêu dụ" các nhà khoa học đang lên hay nhà khoa học xuất sắc khắp thế giới. Có những nhà khoa học chúng tôi đã gần hoàn tất thủ tục tuyển dụng, thì địa phương lại cho thêm đặc quyền và đặc lợi, và thế là chúng tôi đành bỏ cuộc.

Một lần khác, Viện tôi sắp tuyển được một nhà khoa học tầm cỡ từ Áo làm viện trưởng, nhưng khi tổng thống Áo nghe tin vị đó sắp bỏ Áo sang Úc, ông chỉ điện thoại và thuyết phục vị ấy không nên đi, và thế nào Viện chúng tôi cũng mất một cơ hội. Những trường hợp tôi vừa thuật cho thấy rất khó thu hút người có tài trên thế giới.

Tuy nhiên, đối với các nhà khoa học Việt Nam ở hải ngoại, Việt Nam có một lợi thế: đó là tình cảm quê hương. Nếu có lựa chọn giữa các nước, ví dụ như giữa Singapore và Việt Nam, tôi đoán phần lớn nhà khoa học VN sẽ chọn VN dù Singapore có thể trả lương cao hơn VN.

Đối với những người đã có sự nghiệp ổn định, đã gầy dựng một cơ sở vật chất vững vàng, họ rất ngại chuyển sang một nước khác. Đối với các nhà khoa học loại này, việc di chuyển lab sang một nước khác là một thách thức rất lớn. Vấn đề không phải chỉ là cá nhân họ và gia đình, nhưng thông thường họ còn phải chuyển cả các nghiên cứu sinh, các phụ tá lab, và chuyên gia đi cùng. Dĩ nhiên, không phải tất cả các thành viên trong lab đều di chuyển theo sếp đi đến nơi mới, nhưng ít nhất phân nửa thành viên lab di chuyển theo sếp.

Đồng lương luôn luôn là một yếu tố quan trọng. Dù yêu nước đến lí tưởng cỡ nào, người ta vẫn phải sống với thực tế, và thực tế bị chi phối bởi "cơm áo gạo tiền". Một nhà khoa học không chỉ cần có đồng lương đủ sống, mà còn phải đủ để tích luỹ cho tương lai. Một giáo sư (full professor) ở các nước phương Tây thường có lương từ 15,000 USD đến 20,000 USD mỗi tháng (tuỳ ngành và chức vụ), chưa kể đến một số phụ cấp riêng cho một số ngành. Thử tưởng tượng một giáo sư đang hưởng mức lương như thế mà chấp nhận một vị trí ở VN với mức lương 5000 USD một tháng là một thách thức rất lớn. Với tiền lương 5000 USD, tuy ở VN được xem là "lương khủng", và dù với giá sinh hoạt ở VN, đồng lương đó vẫn chưa đủ để họ tích luỹ cho gia đình trong tương lai.

Sau đồng lương, môi trường làm việc luôn là một yếu tố quan trọng. Ở Việt Nam, đã có nhiều tiến sĩ được đào tạo từ nước ngoài về đã không có được cơ hội để theo đuổi sự nghiệp khoa học, chưa nói đến cơ hội để phát huy nghề nghiệp. Hệ quả là có nhiều tiến sĩ phải sống vất vưởng ngay trên quê nhà mình, và họ phải tìm đường đi nước ngoài. Có nhiều lí do cho tình trạng này, nhưng tựu trung lại vẫn là thiếu cơ sở vật chất và văn hoá. Ai cũng biết cơ sở vật chất dành cho nghiên cứu khoa học ở Việt Nam còn rất kém, chưa đáp ứng cho những nghiên cứu chuyên sâu. Có nơi thì có cơ sở vật chất tốt nhưng lại bị tình trạng "đấp chiếu".

Nhưng đáng sợ hơn có lẽ là yếu tố văn hoá, tương tác giữa người với người. Với một nền văn minh hơn 2000 năm, Việt Nam dĩ nhiên có những giá trị văn hoá đặc thù, mặc dù đang trong quá trình hội nhập thế giới. Trong điều kiện bình thường, các nhà khoa học nước ngoài được chào đón và tạo điều kiện để nghiên cứu tốt, nhưng ở cấp quan hệ cá nhân, người Việt thường có tính đố kị, ganh tị (có thể do sự chênh lệch đồng lương), và dẫn đến tình trạng bất hợp tác. Không một nhà khoa học có tài nào có thể "sống" nổi trong một môi trường như thế.

Cá nhân nhà khoa học khi chuyển nơi công tác cũng chịu nhiều "lời ra tiếng vào". Không ít đồng nghiệp nơi nhà khoa học sắp công tác thường có cái nhìn tiêu cực. Một trong những câu hỏi lởn vởn là nếu nhà khoa học đó có tài và ổn định thì tại sao lại di chuyển lab sang một nơi kém nổi tiếng; suy ra chắc là nhà khoa học đang có vấn đề nên phải tìm đến nơi "dụng võ" mới. Những suy nghĩ tiêu cực như thế có thể ảnh hưởng đến việc xin tài trợ của nhà khoa học ở một nơi làm việc mới.

Yếu tố nước ngoài

Nhìn sang các nước có nền khoa học – công nghệ "đang lên", hình như nước nào cũng có "yếu tố nước ngoài". Điều này dễ hiểu vì tri thức cần thiết cho phát triển khoa học và công nghệ có thể tiếp thu từ nhiều nguồn, kể cả ngoại quốc. Hàn Quốc và Đài Loan có lẽ là hai nước Á châu tiêu biểu có mức độ phát triển kinh tế song hành cùng phát triển khoa học công nghệ một cách ngoạn mục nhờ vào đóng góp của các chuyên gia phương Tây và kiều bào.

Theo một thống kê mà tôi đọc được, đến đầu 2010, gần 40% các giáo sư và nhà khoa học trong các đại học Hàn Quốc hoặc là Hàn kiều hồi hương hoặc từng du học ở nước ngoài, đặc biệt là từ Mĩ. Khoảng 10-20% ban giảng huấn trong các đại học là người nước ngoài. Nhưng không chỉ đại học, mà các tập đoàn kĩ nghệ cũng có đóng góp quan trọng của "yếu tố nước ngoài". Lịch sử tập đoàn Samsung ghi rằng năm 1987, Samsung đầu tư gần 13% số tiền bán sản phẩm cho nghiên cứu và phát triển (R&D), sử dụng 966 nhà nghiên cứu, 20% trong số này là người có bằng PhD từ Mĩ hồi hương. Trong năm 1989, trong số 36 nhóm nghiên cứu, 14 người nước ngoài làm giám đốc, chủ yếu là Mĩ.

Nền công nghệ điện tử của Đài Loan phát triển như ngày hôm nay có nền móng do những chuyên gia Mĩ gốc Đài Loan góp phần gầy dựng nên. Thật vậy, một trong những yếu tố giúp Đài Loan đuổi kịp trình độ khoa học công nghệ các nước tiên tiến là vai trò của Hoa kiều. Lịch sử của kĩ nghệ bán dẫn khởi đầu từ năm 1973, với chương trình xây dựng Industrial Technology Research Institute (ITRI). Trong thập niên 1980, Đài Loan thu hút hơn 3000 nhà khoa học và kĩ sư gốc Hoa từ Mĩ về Đài Loan, và chính những người này xây dựng nền móng kĩ nghệ điện tử ở Đài Loan. Đến năm 1998, hơn 30% kĩ sư Đài Loan là Hoa kiều từ Mĩ hồi hương (con số này ở thập niên 1980 là 10%).

Mới đây, China cũng có kế hoạch thu hút chuyên gia nước ngoài. Theo số liệu của National Science Foundation (2009) chỉ riêng năm 2008, có 4526 người Hoa tốt nghiệp tiến sĩ ở Mĩ, chiếm gần 1/4 số tiến sĩ mà các đại học Mĩ cấp. Thống kê năm 2007cho thấy các học giả gốc Hoa chiếm 22% tổng số giáo sư ở các đại học Mĩ. Tính đến năm 2012, China có ít nhất là 2770 chương trình để thu hút Hoa kiều từ nước ngoài hồi hương và đóng góp cho khoa học công nghệ China. Với các chương trình này, China đã thu hút được hơn 20,000 nhà khoa học và kĩ sư cao cấp từ nước ngoài hồi hương. Nếu tính cả những người có trình độ cử nhân, con số hồi hương là 272,900 người. Theo thống kê của Bộ Giáo dục China, 72% giám đốc các lab nghiên cứu trọng điểm (key laboratories) cấp quốc gia là do các chuyên gia Hoa kiều hồi hương.

Quay lại trường hợp Việt Nam

Do đó, việc thu hút các nhà khoa học nước ngoài, kể cả kiều bào, về làm việc ở VN theo tôi là một chính sách đúng. Trong quá khứ, đã có vài chương trình như thế, nhưng mức độ thành công (nếu có thể dùng chữ đó) còn quá thấp. Có nhiều lí do cho tình trạng đó, kể cả cơ chế làm việc chưa được xác định cụ thể và rõ ràng, cơ sở vật chất còn hạn chế, đồng lương chưa đủ hấp dẫn để thu hút kiều bào. Lần này, dự án thu hút các chuyên gia khoa học công nghệ từ nước ngoài có nhiều điểm mới tích cực hơn các chương trình cũ.

Tôi nghĩ rất khó để cho Bộ KHCN đề ra những chi tiết cụ thể cho tất cả các trường hợp. Bộ chỉ nên tạo ra cái khung chính sách chung, còn chi tiết về hợp đồng làm việc và lương bổng nên để cho trường đại học hay viện nghiên cứu phụ trách. Lí do là mỗi chuyên ngành khoa học đòi hỏi những chi tiết cụ thể khác nhau, và không thể nào có một bộ tiêu chuẩn hay qui định cho tất cả các ngành khoa học. Là người đã có lab nghiên cứu ở nước ngoài và Việt Nam, tôi nghĩ đến những yếu tố sau đây để đảm bảo thành công.

Thứ nhất là sẵn sàng đầu tư cho việc thành lập lab nghiên cứu. Một nhà khoa học độc lập cấp PI mà không có lab nghiên cứu thì coi nhưng chẳng có đất dụng võ. Nhưng để thành lập một lab nghiên cứu mới đòi hỏi thời gian, tiền bạc, cơ sở vật chất và nhân sự. Do đó, điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất là trường đại học hay viện nghiên cứu phải có hành động cụ thể hỗ trợ thành lập lab nghiên cứu. Dĩ nhiên, việc thành lập không phải một sớm một chiều là xong, do đó cần phải cho họ thời gian cần thiết (ít nhất là 1 năm, thậm chí lâu hơn trong điều kiện ở VN).

Thứ hai là trao quyền độc lập cho nhà khoa học. Ở Việt Nam, đây đó thỉnh thoảng những tư duy và "tàn dư" thời bao cấp vẫn còn tồn tại. Đó là tư duy kiểm soát cấp dưới, tư duy dòm ngó, theo dõi, và báo cáo theo kiểu phân tầng. Những tư duy loại này gây khó khăn và làm nản chí cho nhiều người chân chính. Do đó, tôi đề nghị nên làm theo nước ngoài, tức là giảm can thiệp vào sự điều hành của lab đến mức tối thiểu. Thay vào đó là trao quyền tự quản tài chính, quyền tuyển dụng nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ và phụ tá, cho người đứng đầu lab.

Thứ ba là đồng lương hợp lí. Dĩ nhiên, ai cũng biết Việt Nam không thể đủ khả năng trả lương cho các nhà khoa học hàng đầu như ở các nước tiên tiến. Mặt khác, các thành phố lớn của Việt Nam như Sài Gòn và Hà Nội có cuộc sống rất đắt đỏ chẳng kém gì các nước tiên tiến, đó là chưa nói đến môi trường sống vẫn còn rất thấp. Do đó, vấn đề lương bổng trở nên khó khăn vì phải quân bình giữa khả năng trả lương và cuộc sống ổn định của nhà khoa học. Tôi nghĩ một nhà khoa học cấp PI, từng là đứng đầu một lab nghiên cứu ở nước ngoài và có tiếng trên trường quốc tế, khó có thể chấp nhận mức lương dưới 5000 USD/tháng. Còn đối với nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ, một mức lương từ 1500 USD đến 2500 USD/tháng là có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, đây là vấn đề mà trường đại học phải thương lượng với nhà khoa học.

Những yếu tố trên có lẽ chưa đầy đủ, nhưng là những yếu tố chính cho sự thành công trong việc chuyển lab nghiên cứu. Việc chuyển lab nghiên cứu đối với nhà khoa học là một quyết định lớn, vì nó có thể ảnh hưởng đến tương lai của nhà khoa học. Có người trở nên thành công hơn, nhưng cũng có người phải ngậm ngùi trong đắng cay sau khi chuyển lab. Không ai muốn lab mình bị thất bại, nhưng để thành công đòi hỏi nỗ lực của cả hai: phía nhà khoa học và quan trọng hơn là trường đại học.

Read more ...

Đánh giá một nhà khoa học qua những thước đo nào?

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

Việc đánh giá uy tín của nhà khoa học đang dần trở thành một đề tài báo chí. Có quá nhiều người hoặc báo chí phong tặng, hoặc tự xưng là "chuyên gia hàng đầu", là "tầm cỡ quốc tế", nhưng trong thực tế thì không phải như thế. Bài này trình bày một số thước đo để bạn đọc có thể "đề kháng" trước những lời tâng bốc quá đáng.



Đối với người ngoài khoa học, đây là vấn đề hơi khó, vì không am hiểu “luật chơi” trong khoa học. Không chỉ người ngoài cuộc, mà ngay cả không ít người trong giới khoa học ở VN người ta cũng không hiểu luật chơi. Vấn đề này trở nên thời sự khi có nhiều nhà khoa học được báo chí ca tụng như là những bậc thầy tầm cỡ quốc tế, và làm cho công chúng tưởng rằng các nhà khoa học VN thật sự là những chuyên gia hàng đầu trên thế giới. Nhưng rất tiếc đại đa số những ca tụng của báo chí VN không đúng với thực tế.

Giới báo chí thường hay bị những danh xưng như PGS, GS, TS, TSKH, và những chức danh chủ tịch hội này, hội kia, v.v. làm lu mờ phán xét. Từ đó, báo chí có những cách ca tụng rất phản cảm và có khi lố bịch mà chúng ta hay thấy. Vậy cách đánh giá nhà khoa học chính xác là gì? Chắc chắn không phải dựa vào những văn bằng tiến sĩ (vì tiến sĩ ở VN nhiều quá và rất nhiều không đúng với thực lực). Càng không thể dựa vào chức danh vì qui trình và tiêu chuẩn phong cũng còn nhiều vấn đề cần bàn (nói như ông cựu chủ tịch chức danh giáo sư nhà nước, đa số giáo sư VN không xứng tầm quốc tế). Càng khó dựa vào chức danh trong các hiệp hội vì những chức danh đó có yếu tố chính trị, mà chính trị thì không công bằng và không khách quan.

Trong bài này tôi trình bày vài “thước đo” để các bạn phóng viên có thể sử dụng trong thực tế. Đây là những thước đo mà giới khoa học thường sử dụng, nhất là trong các ngành khoa học thực nghiệm và khoa học tự nhiên. Những thước đo này chủ yếu liên quan đến nghiên cứu, hội nghị, và phục vụ cho chuyên ngành.

Trước hết là phải xem qua những công trình nghiên cứu. Nhà khoa học làm nghiên cứu, và thành tựu của họ thường được thể hiện qua những công trình nghiên cứu. Nhà khoa học thật sự thường công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san quốc tế có bình duyệt, và đó chính là thành quả của họ, và họ được đồng nghiệp đánh giá qua đó. Dĩ nhiên, ở VN thì cần phải xem xét đến tên tác giả nằm ở đâu trong bài báo. Nên nhớ rằng rất nhiều (có thể 80%) bài báo y khoa từ VN các tác giả VN chỉ là "foot soldier" (lính đánh bộ) cho một nhóm ngoại quốc.

Tình hình ở VN đòi hỏi người đánh giá phải cẩn thận để phân biệt tập san có uy tín và tập san “dỏm”. Ngày nay, có rất nhiều tập san đều mang danh là “International Journal” hay “World Journal” nhưng thật ra là những ổ thương mại làm tiền. Những tập san này thường xuất hiện dưới danh nghĩa tập san Mở (Open Access), và nhà khoa học [ngây thơ] nộp bài cho họ, chỉ cần 1-2 ngày sau họ báo là được chấp nhận và nhà khoa học trả 500-1000 USD. Nhưng các bài trên những tập san này không bao giờ được đồng nghiệp công nhận. 

Cần phải nhấn mạnh rằng không phải tập san Mở nào cũng dỏm. Có nhiều tập san Mở (như nhóm PLoS và BMC) có uy tín cao trong chuyên ngành, không hề kém chút nào so với những tập san truyền thống. Cũng cần phải bác bỏ những ý kiến cho rằng tập san lấy ấn phí là tập san không có uy tín. Nhiều tập san Mở có uy tín đều lấy ấn phí (nhưng miễn phí cho các nước nghèo).  

Ở VN còn có vấn đề nhập nhằng do người ta không am hiểu qui ước trong khoa học. Nhiều bác sĩ nghĩ rằng những báo cáo trong hội nghị quốc tế là “công bố quốc tế”. Thực tế không phải vậy, vì các báo cáo trong hội nghị y khoa thường không qua bình duyệt (peer review) và do đó chẳng có giá trị khoa học; chỉ khi nào những dữ liệu đó được công bố trên một tập san thì mới được xem là “công bố quốc tế”. Tuy nhiên, trong ngành khoa học máy tính, bài báo cáo trong các hội nghị lớn và có uy tín có thể xem là bài báo khoa học.

Nhưng cũng như bất cứ lĩnh vực nào, người ta phân biệt giữa số lượng và chất lượng. Cách đánh giá chất lượng tốt nhất là đọc bài báo và đánh giá. Nhưng không ai ngoài ngành có thì giờ để đọc tất cả những bài báo, nên người ta phải dùng các chỉ số khác. Những chỉ số quan trọng là chỉ số tác động (impact factor - IF) của tập san, số lần bài báo được trích dẫn sau khi công bố (citation), và có lẽ quan trọng nhất là chỉ số H.

Trong mỗi chuyên ngành, tập san có IF càng cao thì bài báo trong đó thường là được chọn lọc gắt gao và có chất lượng cao. Tập san trong chuyên ngành phẫu thuật các tập san như Annals of Surgery (IF 7.9), Endoscopy (5.5), British Journal of Surgery (4.1), v.v. có thể xem là “hàng đầu”. Nhưng công bố trên những tập san đó cũng chỉ mới là chuyên ngành. Một nhà khoa học tầm cỡ phải vượt ra khỏi chuyên ngành và ra “biển lớn”. Các tập san biển lớn phải kể đến New England Journal of Medicine (IF 51), Lancet (36), JAMA (30). Rất rất rất rất ít bác sĩ VN một cách độc lập có khả năng công bố trên các tập san hàng đầu trong ngành surgery và tập san “biển lớn”.

Nhưng IF chỉ phản ảnh uy tín của tập san, chứ không phản ảnh chất lượng bài báo / công trình nghiên cứu. Cách đánh giá chính xác hơn là số lần trích dẫn. Đúng là những công trình công bố trên những tập san có IF cao thường có trích dẫn cao. Nhưng cũng có những công trình công bố trên các tập san có IF thấp mà có nhiều người trích dẫn thì vẫn được xem là có tác động & ảnh hưởng. (Dĩ nhiên, cũng có trường hợp người ta trích dẫn nhiều vì bài báo sai, nhưng trường hợp này rất rất hiếm).

Chỉ số H của một nhà khoa học được tính từ số công trình công bố và số lần trích dẫn. Ví dụ nếu một nhà khoa học có chỉ số H = 8 có nghĩa là người có ít nhất là 8 công trình và mỗi công trình được trích dẫn 8 lần trở lên. Một nhà khoa học có thể có 100 bài, nhưng nếu chỉ số H = 5 thì có nghĩa là người đó chỉ có 5 bài được trích dẫn 5 lần trở lên, còn 95 bài kia được trích dẫn ít hơn 5 lần. Chỉ số H phụ thuộc vào chuyên ngành. Những ngành thực nghiệm thường có chỉ số H cao hơn ngành lí thuyết hay xã hội học. Một giáo sư y khoa ở Thái Lan thường có H index khoảng 15-20, nhưng ở Mĩ hay Úc thì phải cỡ 30 mới được hội đồng đề bạt xem xét.

Một tín hiệu về uy danh của nhà khoa học là được mời viết tổng quan (review). Review hay những chương sách là những bài được tập san mời viết. Những người được mời thường là chuyên gia sâu về một lĩnh vực hẹp nào đó, hay có những công trình gốc được đăng trên các tập san quan trọng. Do đó, được mời viết review là một tín hiệu của “recognition”. Ngược lại, một người có thể công bố hàng chục công trình nghiên cứu, nhưng nếu chưa được tập san nào mời viết review, thì đó là tín hiệu cho thấy người đó còn đang tập sự (có lẽ là postdoc), hoặc là công trình của người đó chẳng có gì mới, chẳng có ảnh hưởng nào đáng kể.

Nhà khoa học phải phục vụ cho chuyên ngành. Do đó, được mời phục vụ trong ban biên tập tập san khoa học và phục vụ trong các hiệp hội chuyên môn là một tín hiệu có thể tích cực. Tôi nói “có thể” vì khi dính dáng đến hội đoàn là dính dáng đến chính trị và phe phái. Có khi nhà khoa học rất giỏi nhưng vì cá tính hay vì khó khăn quá hay không theo phe nhóm nào, nên chẳng bao giờ được mời phục vụ. Tuy nhiên, được mời phục vụ trong ban biên tập của tập san là một tín hiệu rất tốt vì đó là do uy danh chứ không có yếu tố chính trị trong đó.

Một “tín hiệu” về tầm cỡ của một nhà khoa học là được mời giảng trong các hội nghị khoa học quốc tế. Nhưng hội nghị khoa học cũng có nhiều loại và dạng. Có loại chỉ vài mươi người, có loại vài trăm, và có loại vài ngàn, thậm chí vài vạn người. Trong ngành ngoại khoa, các hiệp hội ngoại khoa lớn trên thế giới là American Surgical Association, European Surgical Association, European Association for Endoscopic Surgery and other interventional techniques, Society of American Gastrointestinal and Endoscopic Surgeons, v.v. thường có hội nghị khoa học thường nên với 1000-2000 bác sĩ khắp thế giới đến tham dự. Nhưng hội nghị ngành di truyền học thường có 40-45 ngàn người tham dự. Được mời giảng hay chủ tọa trong các hội nghị như thế là một vinh dự, một hình thức công nhận. Được mời giảng trong các phiên họp khoáng đại (plenary lecture) là một vinh dự lớn, chứ các hiệp hội địa phương mời thì chưa thể xem là một vinh dự được. Theo tôi biết, chưa có bác sĩ Việt Nam nào được mời giảng trong các phiên họp khoáng đại của các hội nghị lớn như thế.

Ngày nay có tình trạng một số hội nghị do các công ti dược khuynh đảo. Họ tung tiền cho một tổ chức y khoa hay hiệp hội nào đó tổ chức hội nghị, nhưng họ chèn những bài nói chuyện của họ và người của họ vào hội nghị. Dĩ nhiên, những bài đó có nội dung nói tốt cho thuốc của họ. Người của họ có thể là các chuyên gia hay giáo sư do họ mua chuộc với một cái giá nào đó. Tất cả bài giảng đều do họ soạn, và người đó chỉ cần đứng lên nói. Những người này dân trong nghề gọi là [xin lỗi] “prostitute”. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là phải phân biệt prostitute với những chuyên gia được mời nói trong một session mà công ti tài trợ. Các chuyên gia này thường dùng dữ liệu của họ để giảng, và bài giảng của họ thường nghiêm chỉnh, không chịu tác động của công ti. Người có kinh nghiệm, chỉ cần nhìn qua nội dung bài giảng và cách trả lời trong thảo luận là có thể đánh giá chuyện gia thật hay dỏm.

Trên đây là những cách đánh giá một nhà khoa học mà cộng đồng khoa học hay sử dụng trong thực tế. Một vài thước đo mô tả trong bài này có thể không áp dụng cho những người trong ngành khoa học xã hội và nhân văn. Các đại học và viện nghiên cứu cũng căn cứ vào các tiêu chí trên để đánh giá và đề bạc các chức danh học thuật. Những chuẩn mực đó có thể rất khác với cách mà giới khoa học VN đánh giá, nhưng nếu VN muốn hội nhập quốc tế thì nên theo những luật chơi của quốc tế chứ không nên cứ tự đặt chuẩn riêng cho mình và tự xưng là “hàng đầu thế giới” mà không có chứng cứ. Trong thời đại internet, các nhà báo có thể dễ dàng kiểm chứng thành quả của các nhà khoa học qua các thước đo trên.

Read more ...

Nhà khoa học đầu ngành?

Chủ Nhật, 13 tháng 7, 2014

Hôm nọ đọc một bài phỏng vấn có tựa đề “Chức danh khoa học không thể xin, cho”, mà trong đó thật ra người ta bàn về cái danh xưng “nhà khoa học đầu ngành”. Điều này làm tôi phân vân và cảm thấy khó hiểu.


Tôi đoán cụm từ “nhà khoa học đầu ngành” ở đây là “leading scientists”. Mà, leading scientist thì không phải là một danh xưng chính thức (official title). Có ai phong cho hay tự phong là leading scientist đâu? Đồng nghiệp trong chuyên ngành chỉ NGẦM hiểu ai là leading scientist chứ chẳng ai phong một cách chính thức cả. Có thể có nhóm chuyên xếp hạng lập danh sách những nhà khoa học có uy tín cao (chẳng hạn như trang www.expertscape.com), nhưng chẳng ai phong một cách chính thức cả. Ở nước ngoài, người ta có cụm từ “internationally recognized expert/scientist” để chỉ những người (a) có những công trình nghiên cứu nổi tiếng hiểu theo nghĩa trên các tập san danh tiếng và có nhiều trích dẫn; (b) lãnh đạo một lab nghiên cứu danh tiếng; (c) giữ chức vụ quan trọng trong hiệp hội chuyên môn; (d) được trao những giải thưởng quan trọng. Những người này bước vào hội nghị là đồng nghiệp trong chuyên ngành nhận ra ngay. Những người này được hiểu ngầm là leading scientist/expert, chứ chẳng ai phong cho họ cả. 

Ấy thế mà ở Việt Nam người ta có hẳn những tiêu chuẩn định lượng cho nhà khoa học đầu ngành! Bài báo trên viết “Ví dụ, nhà toán học đầu ngành, ngoài việc đáp ứng các tiêu chí quy định phải được Ban chấp hành Hội Toán học Việt Nam tín nhiệm thông qua hình thức bỏ phiếu và phải đạt quá 2/3 số phiếu mới được vinh danh.” Ở bên nhà hình như người ta có nhiều thì giờ dành cho những việc có thể xem là … vớ vẩn như thế này. 

Một điều khác mà tôi nghĩ không đúng với thực tế là câu “Một hội chuyên ngành không thể tôn vinh 5-7 nhà khoa học đầu ngành được. Vì thế, khó có nguy cơ tràn lan các nhà khoa học đầu ngành.” Thật ra, trong chuyên ngành nào cũng có nhiều leading scientists, con số có thể không phải là 100 nhưng chắc chắn 10-20 người. Không có giới hạn cho con số leading scientist. 

Theo tôi nghĩ, không nên tốn thì giờ để đặt ra những qui chế, những tiêu chuẩn định lượng cho “nhà khoa học đầu ngành”. Tuyệt đối tránh kiểu hành chính hoá như thế. Nên để cho cộng đồng khoa học quốc tế đánh giá qua những tiêu chí mà cộng đồng khoa học công nhận.
----

Read more ...