Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn đánh giá nhà khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đánh giá nhà khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Đánh giá ứng viên trong học thuật

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2015

Trời! Sáng ra vào fb thì thấy quá nhiều ý kiến và khen. Trong tất cả các note tôi viết và chia xẻ trên fb từ trước đến nay, có lẽ cái note ngày hôm qua được nhiều bạn chào đón nhất. Rất cám ơn các bạn đã cho ý kiến về một trường hợp tôi nghĩ rất là thật sự xuất sắc. Tôi thông cảm cho một vài bạn tỏ ra nghi ngờ về thành tích khoa học của em này quá siêu (1). Nhưng ở đâu thì tôi không rõ, chứ ở Úc, nơi các em lớn lên trong môi trường mà sự thành thật tri thức được đặt lên hàng đầu, tôi ít khi nào đặt chuyện thật hay giả dối thành vấn đề. Tôi có con lớn lên ở đây và biết chúng được huấn luyện trong nhà trường như thế nào, không giống như vài trẻ em ở VN, trẻ con ở đây xem nói dối là một trọng tội. Có bạn hỏi kinh nghiệm của tôi trong việc đánh giá một ứng viên như thế nào. Đây là câu hỏi có khi quan trọng, nên nhân dịp này tôi muốn chia xẻ vài kinh nghiệm rất cá nhân …


Cũng như bao nhiêu người khác, tôi từng được/bị người khác phỏng vấn cho những vị trí khoa bảng. Tôi cũng từng ở vị trí phỏng vấn người khác cũng cho những vị trí như giáo sư, fellow. Ngoài ra, tôi còn có dịp ngồi trong các hội đồng khoa bảng để mướn người. Nói vậy không có nghĩa là “nổ” hay “khoe khoang” gì (vì ai ở vị trí như tôi đều là như thế cả), nhưng để nói rằng qua những trải nghiệm như thế tôi có thể rút ra được một số kinh nghiệm trong việc đánh giá ứng viên.

Nếu viết ra một danh sách dài những tiêu chuẩn và tiêu chí để đánh giá thì tôi không có thì giờ, và cũng không thể nào am hiểu hết các chuyên ngành. Mỗi chuyên ngành có một văn hoá bộ lạc riêng. Do đó, tôi chỉ nói bên ngành y thôi. Thêm nữa, khi đánh giá một ứng viên, những tiêu chuẩn và tiêu chí còn tuỳ thuộc vào vị trí. Điều này thì đương nhiên, vì đâu có ai dùng tiêu chuẩn dành cho một phó giáo sư để đánh giá một ứng viên nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ được. Tương tự, cũng không thể lấy tiêu chuẩn của một đại học làng nhàng nào đó để đánh giá cho một đại học thuộc đẳng cấp “elite”.

Cũng như bao nhiêu người khác, theo thói quen, tôi thường nhìn qua cái “cover letter” của ứng viên trước. Cái cover letter tuy chỉ có 1 trang thôi, nhưng nó có thể cho tôi cái nhìn tổng quan về quá trình học vấn và thành tích khoa học của ứng viên. Ứng viên có sự tự tin và biết mình là ai sẽ đi thẳng vào những thành tựu chính, chứ không kể lê thê những chuyện làm vớ vẩn, làng nhàng. Kể lể mấy việc làm linh tinh chỉ làm cho người đọc xao lãng cái thông điệp chính. Writing is thinking; do đó, ngoài nội dung ra, nhìn vào cách tiếng và dùng chữ tiếng Anh, tôi có thể đoán được phần nào khả năng diễn đạt của ứng viên. Ứng viên có suy nghĩ minh bạch và khúc chiết có cách viết một cách logic và không dồn nhiều ý tưởng trong một câu văn.

Đối với các ứng viên cho các vị trí học thuật, phần quan trọng nhất dĩ nhiên là phần “Publications”. Chỉ cần nhìn qua phần này, tôi cũng có thể đánh giá chút chút về ứng viên. Những ứng viên có thành tích không tốt mấy, thường vơ vét conference abstracts và conference proceedings(kỉ yếu trong hội nghị) trong phần này. (Trong ngành y và nghe nói cả kĩ thuật, các conference abstracts và conference proceedings không được đánh giá cao). Những ứng viên thiếu kinh nghiệm học thuật có xu hướng liệt kê những bài vớ vẩn, trên những tập san dỏm. Những ứng viên phi học thuật sẽ liệt kê cả những bài viết trên các báo chí phổ thông đại chúng như Sydney Morning Herald, The Economist, Time, v.v. Những bài báo loại này thì chỉ làm người đọc cười ngất.

Người có kinh nghiệm sẽ chia phần Publicationsra thành 4 phần nhỏ: original contributions, reviews, commentaries, và books hay book chapters. Original contributions là những bài nghiên cứu nguyên thuỷ. Reviews là những bài tổng quan. Commentaries là những bài xã luận hay thư cho biên tập. Vân vân. Số lượng bài báo original contributions thường được xem trước, vì nó phản ảnh một phần về năng suất của ứng viên. Tên tập san (và nếu có, impact factor) cũng quan trọng, vì nó là tín hiệu về phẩm chất khoa học của ứng viên. Tên tập san còn nói lên ứng viên thuộc hạng elite hay làng nhàng. Loại làng nhàng chỉ công bố trên mấy tập san thấp. Bài báo tổng quan nó có thể nói lên vị trí của ứng viên là “lính” hay là “sếp”.

Một khía cạnh quan trọng là vị trí của ứng viên trong bài báo. Nếu ứng viên công bố những bài đầu tiên trong sự nghiệp đứng tên tác giả đầu thì đó là tín hiệu cho thấy ứng viên đang tự thiết lập mình. Nhưng nếu sau khi tốt nghiệp hay sau khi xong postdoc mà không có bài đứng tên đầu thì đó là tín hiệu cho thấy ứng viên còn quá yếu, chưa đứng vững được, có thể chỉ làm “lính đánh bộ” cho người khác thôi. Nhưng nếu ứng viên đứng tên tác giả ở vị trí có trách nhiệm thì điều đó là một tín hiệu cho thấy tác giả đã ok. Có rất nhiều bạn ở VN có nhiều bài báo, có khi trên những tập san rất tốt, nhưng chỉ là lính đánh bộ, chứ không phải là tác giả chính hay tác giả chịu trách nhiệm, và do đó, thành tích khoa học không được đánh giá tốt.

Một chỉ số quan trọng khác là citation hoặc chỉ số H. Ngày nay, nhiều người dùng tần số trích dẫn để đánh giá một nhà khoa học. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi đọc CV của các nhà khoa học, họ thường khoe là họ có bao nhiêu citations, vì con số này phản ảnh phần nào đó tầm ảnh hưởng của nhà khoa học trong chuyên ngành. Chỉ số H dĩ nhiên là quá nổi tiếng, vì rất nhiều cơ quan và đại học dựa vào đó để bổ nhiệm chức danh khoa học và cấp tài trợ. Chỉ con số đơn giản như H mà có khi quyết định cả sự nghiệp của một cá nhân. Tôi thấy điều này không công bằng, nên tôi dùng chỉ số H rất cẩn thận, nhất là đối với những người trẻ.

Tôi cũng xem qua những hội nghị mà ứng viên từng tham dự, và tham gia với vai trò gì. Nếu là hội nghị do các hiệp hội lớn tổ chức thì ok. Nếu được các hội nghị như thế mời nói chuyện hay có “oral presentation” thì lại càng hay. Nếu ứng viên đóng vai trò tổ chức hay các uỷ ban khoa học của hội nghị là một tín hiệu cho thấy ứng viên là người của “bộ lạc” và đã được công nhận. Nhưng nếu hội nghị loại do các công ti thuốc đứng đằng sau thì tôi không đánh giá. Những hội nghị mà nhìn qua ban tổ chức toàn những người chẳng có tên tuổi, hay trong đó toàn những bài tổng quan, thì tôi cũng bỏ qua. Những hội nghị mà một nhóm nhỏ trong ngành đứng ra tổ chức ở những nơi như Việt Nam chẳng hạn thì cũng coi chừng, vì đó cũng là loại dỏm là chủ yếu.

Nếu là ứng viên cho các chức danh học thuật cỡ lecturer trở lên, tôi xem xét kĩ những đóng góp cho chuyên ngành. Những đóng góp này bao gồm làm chuyên gia bình duyệt cho các tập san, thành viên ban biên tập, hay bình duyệt đơn tài trợ cho các tổ chức có uy tín. Thời đại ngày nay có quá nhiều tập san dỏm hay tập san mới ra đời chưa có uy tín, nên tôi không đánh giá những tập san đó (vì nhiều khi họ là bạn bè lôi kéo nhau vào chứ không qua recognition); tôi chỉ đánh giá nếu họ là thành viên ban biên tập các tập san có uy tín của các hiệp hội chuyên môn.

Giải thưởng trong chuyên ngành cũng quan trọng, vì đó là một tín hiệu của excellence. Tôi có những em nghiên cứu sinh chiếm giải thưởng tốt và sau này sự nghiệp khá là hanh thông. Dĩ nhiên, chỉ tính những giải thưởng khoa học có uy tín, chứ những giải mang tính chính trị như ở VN (kiểu như "nhà giáo nhân dân", "nhà giáo ưu tú", giải Hồ Chí Minh gì đó) thì rất khó đánh gia. Cũng phải phân biệt giải thưởng. Có giải dành cho nhà khoa học trẻ và "early career" rất khác với giải thưởng trọn đời, "lifetime". Giải Nobel, chẳng hạn, phải khác xa với giải Fields.

Ngoài những tiêu chí trên, tôi cũng sẽ xem qua thành tích cộng đồng của ứng viên. Chẳng hạn như ứng viên có tham gia làm những việc thiện nguyện trong cộng đồng, hay là thành viên gì trong các tổ chức dân sự hay không. Chẳng hạn như thằng con tôi, ngoài chuyện học hành, nó tham gia vào SES, chuyên đi cứu nạn khi có thiên tai, và cái phần này coi vậy mà rất quan trọng trong CV. Một số em thì làm lãnh đạo trong các hội như Hướng đạo. Ở Úc, không có đoàn thanh niên cộng sản, nên việc đánh giá cũng dễ. Ở Úc, cũng không có những trò như “khám thiện nguyện” như ở Việt Nam, nên tôi không phải bận tâm chuyện đó.

Ngày xưa, lúc tôi làm đơn đề bạt chức danh professor, hội đồng học thuật yêu cầu tôi phải chỉ ra danh sách 5 người mà tôi tự đánh giá là mình tương đương với họ. Phải liệt kê tên họ, nơi công tác, và chỉ số H của 5 người đó. Nơi công tác rất quan trọng, vì trường [ví dụ như] Sydney họ nghĩ họ là cỡ world class, họ sẽ không bao giờ đánh giá cao những professor của những trường kiểu như đa số “state university” bên Mĩ. Do đó, nếu mình tự đánh giá ngang hàng với những người trong trường đó thì cũng có nghĩa là mình tự đánh rớt mình! Ngày nay, tôi thấy trong đơn xin postdoc, ứng viên cũng làm theo mô hình này, tức là tự chỉ ra 5 người mà ứng viên nghĩ là tương đương.

Nói tóm lại, đánh giá một ứng viên là một việc làm khó khăn, nhiều chiều kích. Nhưng quan trọng nhất vẫn là thành tích học thuật và khoa học. Trong thế giới phức tạp ngày nay, khi đánh giá thành tích khoa học, phải quan tâm đến những chi tiết không chỉ định tính mà còn cả định lượng. Chẳng hạn như tên tập san, impact factor, citation, H index, v.v. những chỉ số đó chỉ mang tính tham khảo (có thể là quan trọng) nhưng vẫn phải xem qua thành tích thật sự qua những công trình mà ứng viên đã làm và ứng viên tự giải thích thì mới chính xác. Trong nhiều trường hợp, người ta chỉ cần xem qua vài công trình tiêu biểu là đủ để đánh giá chính xác hơn cả những chỉ số mang tính định lượng.


Tôi phải nói thêm là cách đánh giá còn tuỳ theo địa phương nữa, và mỗi địa phương còn tuỳ thuộc vào trường. Ngay cả ở Úc này, tiêu chuẩn cho các chức danh giáo sư đại học như Melbourne, Sydney, Monash, UNSW phải khác (thậm chí rất khác) với các đại học như RMIT, Victoria, Swinburne, v.v.

Có khi các hội đồng cũng xem qua hợp tác khoa học, và điều này cũng đáng nói qua để người ngoài biết. Nếu là người ngoài cuộc thì có khi rất khó hiểu hay hiểu sai những câu văn của người trong ngành. Chẳng hạn như một trong những tiêu chuẩn mà các đại học ngoài này hay nhắc đến là "hợp tác khoa học với đồng nghiệp nước ngoài". Nếu một nhà khoa học hợp tác với một nước như Việt Nam chẳng hạn thì dĩ nhiên có thể ghi là "Tôi có hợp tác với nước ngoài". Chẳng có gì sai cả. Nhưng đằng sau đó và trong hội đồng học thuật elite, người ta sẽ cười. Người ta cười vì đương sự không hiểu! Khi nói "hợp tác" ở đây, điều đó có nghĩa là "hợp tác với các đại học danh tiếng, phải từ cỡ trường mình trở lên", chứ không phải hợp tác với những nơi thấp hơn thì rất dễ bị đánh giá là hạ thấp mình. Đó là luật bất thành văn. Nói theo tiếng Việt mình là "gần đèn" chứ không "gần mực". Do đó, có nhiều người biết luật bất thành văn này, và họ phải giấu diếm hợp tác với mấy nước kém phát triển trong lí lịch khoa học. (Riêng tôi thì đã ở vị trí mà tôi không có gì ngần ngại để nói ra). 

Nhưng tôi phải nói thật lòng rằng đánh giá ứng viên có nhiều khi rất ư là cảm tính và chủ quan. Điều này tôi nói thật, vì đã từng chứng kiến biết bao nhiêu nhận xét của những người trong các hội đồng học thuật. Có khi chính tôi là nạn nhân của sự đánh giá chủ quan. Cũng là một cá nhân đó, nhưng có người xem là xuất sắc, còn người khác thì xem là tầm thường. Đó chính là lí do tại sao người ta cần các tiêu chí định lượng đi kèm, chứ không thể nào lệ thuộc vào ý kiến của chuyên gia trong ngành. Lí do là chuyên gia trong ngành nhiều khi rất cảm tính và có khi không chính xác. Khoảng 15 năm trước, khi tôi xin chức danh research fellow lần đầu, tôi bị đánh rớt. Lúc đó, họ đánh giá tôi là có nhiều công trình, nhưng đứng tên đầu nhiều, nên có lẽ tôi chưa phải là độc lập, hoặc tôi quá ích kỉ (không cho nghiên cứu sinh đứng tên đầu). Dĩ nhiên, cả hai đánh giá đều không đúng, nhưng lúc đó họ không cho tôi cơ hội để trả lời, do tôi rớt ngay từ vòng đầu. (Vòng đầu có khoảng 2000 người, và họ chỉ chọn khoảng 200 cho phỏng vấn; vòng hai thì chỉ có 50-70 người đậu). Phải 2 năm sau tôi mới thành công, và tôi có kể lại trong một bài phóng sự dài trước đây. Khi họ chê mình đúng thì mình cũng ráng mà ghi nhận, chứ không nên giận dỗi họ. Bất cứ cái gì mình thất bại thì việc đầu tiên là nhìn lại mình trước cái đã, trước khi trách người khác. Mình đã viết và mô tả đầy đủ chưa? Mình đã đáp ứng tiêu chuẩn người ta đề ra chưa? Mình đã làm gì để người ta đánh rớt? Vân vân.

Có một điểm rất quan trọng tôi muốn nói là vai trò của nơi công tác và người thầy trong việc tạo điều kiện để trò thành công. Ở những nơi có môi trường học thuật tốt và văn hoá khoa học đàng hoàng, những người thầy thường được nhắc nhở là phải tạo điều kiện để trò khá lên. "Tạo điều kiện" có thể hiểu là cho họ đứng tên đầu bài báo, là tìm project nhỏ cho họ tự làm để dần dần đứng độc lập, là tìm cách cho họ được mời giảng, v.v. Tôi nhớ có lần một đồng nghiệp tôi, chị ấy rất giỏi, học và làm ở những "địa chỉ quan trọng" (Yale, Stanford, UCLA, Monash), công bố rất tuyệt, nhưng rất ít ai mời đi giảng. Khi chị ấy xin chức fellow thì bị đánh rớt vì họ nói chưa có bằng chứng về recognition. Thế là trong hội, chúng tôi phải tìm cách cho cơ hội chị ấy được mời giảng trong vài hội nghị. Phải 5 năm sau, chị ấy mới thành công. Nói như vậy để các bạn thấy rằng được/thua là chuyện thường tình; mỗi lần thất bại dĩ nhiên là rất đau, nhưng không phải vì thế mà mình chán chường và không gượng dậy. Phải xem thất bại là cơ hội để cải tiến.

Nhân một buổi sáng vui, tôi viết một mạch để chia xẻ cùng các bạn như thế. Chắc chắn là chưa đủ, nhưng các bạn có thể đóng góp thêm cho hoàn chỉnh.

===

(1) Em là một người gốc Việt Nam, lớn lên ở Úc trong một gia đình lao động. Em mới tốt nghiệp cử nhân 3 năm trước và đang là sinh viên y khoa năm thứ ba. Nhưng thành tích học tập và nghiên cứu khoa học của em chỉ có thể mô tả là "trên cả xuất sắc". Điểm thi tốt nghiệp trung học tuyệt đối. Điểm tốt nghiệp cử nhân ưu hạng. Danh sách giải thưởng dài hơn 1/3 trang giấy A4. Nhưng về khoa học thì em thuộc vào hạng "siêu": công bố 57 bài báo khoa học, trong đó em đứng tên tác giả chính là 30 bài. Tất cả đều trên những tập san quan trọng trong ngành. Tất cả đều làm trong vòng 3-4 năm qua! Thành tích khoa học của em (mới 25 tuổi và chưa có bằng MD) còn hơi khối giảng viên và giáo sư đại học ngành y. 

Read more ...

Trò chuyện về đánh giá nhà khoa học và sở hữu trí tuệ

Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

Xin giới thiệu một bài “trò chuyện” cùng phóng viên báo Lao Động. Phóng viên gửi đến nhiều câu hỏi, nhưng khi đăng thì báo chắt lọc còn có vài câu (xem bài “Đẳng cấp nhà khoa học không phải là sản phẩm của PR”). Thật ra, bài phỏng vấn chẳng có dính dáng gì đến vụ kiện gây ồn ào gần đây do Trường ĐH Tôn Đức Thắng khởi xướng, nhưng báo Lao Động lại để bài phỏng vấn trong mục vụ kiện đó!  Sẵn đây, tôi cũng minh định một “conflict of interest” rằng tôi là người thành lập Nhóm nghiên cứu cơ xương tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng [không lương], nhưng tôi và nhóm nghiên cứu không có liên quan gì đến vụ kiện.


Đánh giá nhà khoa học như thế nào?

Lao Động (LĐ): Người ta thường hay nói môi trường khoa học rất bình đẳng. Xin hỏi Giáo sư trong khoa học có phân biệt đẳng cấp không?

NVT: Cộng đồng khoa học cũng như bất cứ cộng đồng quần thể nào, đều có tổ chức và tôn ti trật tự. Nghiên cứu khoa học có công trình với phẩm chất cao, nhưng cũng có công trình với phẩm chất làng nhàng. Như anh thấy, trong hệ thống khoa bảng, người ta phân biệt chức danh giáo sư, phó giáo sư, giảng viên. Sự phân biệt đó đều có tiêu chuẩn. Nhưng mỗi đại học có tiêu chuẩn riêng của họ. Vì thế, đẳng cấp trong khoa học không chỉ thể hiện qua phân tầng nhà khoa học mà còn phân nhóm các trường đại học và các viện nghiên cứu.  Trường đại học nằm trong bảng “top 100” (hay đẳng cấp quốc tế) phải khác với trường làng nhàng về nhiều khía cạnh khoa học và danh tiếng. Nhà khoa học hàng đầu phải khác với nhà khoa học làng nhàng về mức độ đóng góp và danh tiếng. Do đó, câu trả lời ngắn là: khoa học có đẳng cấp.

LĐ: Xin Giáo sư cho biết thế nào là nhà khoa học hàng đầu? Lấy tiêu chuẩn gì để xác định là nhà khoa học hàng đầu? 

NVT: Cái gọi là “nhà khoa học hàng đầu” và những tính từ tiếng Anh đi kèm như eminent, prominent, renowned, well-known, celabrated, distinguished, world-class, v.v. là sản phẩm của truyền thông, của PR, chứ chẳng có tiêu chuẩn cụ thể nào để xác định ông A là nhà khoa học hàng đầu còn bà B thì không. Tuy nhiên, đối với người trong ngành, người ta có thể đánh giá đẳng cấp một nhà khoa học qua công bố quốc tế, tầm ảnh hưởng của nghiên cứu, và sự ghi nhận của đồng nghiệp trong ngành.

Công bố quốc tế thể hiện qua số bài báo khoa học, và những tập san khoa học mà nhà khoa học thường công bố, và tần số trích dẫn. Những nhà khoa học nổi danh quốc tế thường có một bề dày nghiên cứu khoa học rất tốt, có người có cả 300-600 bài báo khoa học. Nhưng con số bài báo không quan trọng bằng chất lượng, và chất lượng phản ảnh qua tập san. Nếu một nhà khoa học công bố toàn trên các tập san hàng đầu (có impact factor [IF] cao) thì rõ ràng là thuộc đẳng cấp cao, còn một nhà khoa học chỉ công bố trên tập san làng nhàng hay IF thấp thì thuộc đẳng cấp thấp. IF không phải là chỉ số hoàn hảo, nhưng là thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng tập san mà nhà khoa học công bố. Tầm ảnh hưởng thì có thể đánh giá qua số lần trích dẫn. Nếu hai nhà khoa học cùng ngành và có cùng thời gian nghiên cứu, nhưng nếu ông A có hơn 10,000 trích dẫn, còn ông B chỉ có 1000 trích dẫn thì rõ ràng đẳng cấp của họ rất khác nhau.

Nhưng đó là những cách đánh giá mang tính định lượng, cần phải có đánh giá định tính. Những chỉ số định lượng trên cần phải kết hợp với ý kiến khách quan của các chuyên gia trong ngành thì mới có một đánh giá chính xác hơn. Tuy nhiên, với các nhà tuyển dụng và đánh giá hồ sơ thì những chỉ số trên được xem như là tiêu chí hàng đầu để xếp hạng nhà khoa học.

LĐ: Nếu một nhà khoa học có 200 bài báo khoa học. Theo Giáo sư, ý nghĩa của số lượng công trình khoa học là như thế nào? 

NVT: Con số này chẳng có ý nghĩa gì nếu không phân chia theo thể loại. Có nhiều người nói họ có hàng trăm bài báo khoa học, nhưng họ tính cả những bài trong hội nghị, những bài trong kỉ yếu hội thảo, báo cáo nội bộ, v.v. nên làm cho đánh giá khó khăn. Khi nói “bài báo khoa học” hay papers, giới khoa học chỉ nói những bài công bố trên các tập san có bình duyệt trong hệ thống danh mục ISI, hoặc những bài có tiêu chuẩn khoa học tương tự. Những bài trong kỉ yếu hội nghị hay báo cáo kĩ thuật không bao giờ được xem là “bài báo khoa học” vì không qua quá trình bình duyệt nghiêm chỉnh. 

LĐ: Còn chất lượng thì sao, thưa Giáo sư? 

NVT: Chất lượng khoa học rất quan trọng. Con số bài báo khoa học chỉ phản ảnh mức độ hoạt động nghiên cứu, chứ không phải chất lượng. Nhà khoa học có thể rất tích cực trong nghiên cứu, nhưng nghiên cứu không có tác động cao thì không thể được đánh giá cao. Cách đánh giá chất lượng tốt nhất là đọc bài báo và xem xét chi tiết trong đó. Nhưng đối với nhiều nhà tuyển dụng họ không có thì giờ để đọc hàng ngàn bài của hàng trăm ứng viên, nên họ có con đường tắt: xem chỉ số IF của tập san.

Có những nhà khoa học nổi tiếng chỉ có vài chục bài nhưng trên toàn những tập san danh tiếng như Science, Nature, Cell, PNAS, v.v. thì đó là một thể hiện về đẳng cấp và chất lượng hơn những người có hàng trăm bài trên các tập san loại xoàng. Tôi biết nhiều nhà khoa học có hàng trăm bài trên các tập san ISI, nhưng chẳng có bài nào trên các tập san loại “đỉnh”, và do đó rất khó xem là có đẳng cấp quốc tế.

LĐ: Trong quyển sách “Đi vào nghiên cứu khoa học”, Giáo sư có đề cập đến chỉ số H của một nhà khoa học. Chỉ số H của các nhà khoa học là gì và ý nghĩa ra sao, thưa Giáo sư? 

NVT:  Đây là một chỉ số giới khoa học hay ưa dùng. Năm 2005, nhà vật lí học Jorge Hirsch (Đại học California - San Diego) đề xướng chỉ số H để đánh giá tầm ảnh hưởng của một nhà khoa học. Chỉ số H được tính toán dựa vào số công trình công bố và số lần trích dẫn. Nếu một nhà khoa học có chỉ số H = 10 có nghĩa là nhà khoa học này có 10 bài báo với mỗi bài được trích dẫn ít nhất là 10 lần trở lên. Chỉ số H thường khác nhau giữa các ngành, nên người ta phải chuẩn hoá, và cách chuẩn hoá là lấy ngành vật lí làm chuẩn.

Như tôi nói, đại đa số giới khoa học sử dụng chỉ số H để đánh giá một nhà khoa học. Kinh nghiệm tôi cho thấy các hội đồng đề bạt chức danh, các cơ quan tài trợ nghiên cứu khoa học, các nhà tuyển dụng, v.v. đều dùng chỉ số H để đánh giá. Cá nhân tôi, khi làm đơn đề bạt chức danh giáo sư, người ta yêu cầu tôi phải báo cáo chỉ số H và so sánh với những đồng nghiệp có cùng chức danh. Theo cách hiểu chung, là giáo sư khá phải có chỉ số H từ 20 trở lên. Một nhà khoa học xuất sắc thường có chỉ số H trên 30. Có một nghiên cứu cho thấy trong số các nhà khoa học y sinh học, vật lí học, hóa học từng chiếm giải Nobel thì thấy 84% có chỉ số H trên 30. Phân tích trên 147 nhà khoa học ở Hà Lan cho thấy hệ số tương quan giữa chỉ số H và uy tín cũng như số lần trích dẫn lên đến 0.90. Dù chỉ số H vẫn chưa hoàn hảo vì vấn đề đa tác giả và thời gian, nhưng nói chung chỉ số H có tương quan đến tầm ảnh hưởng và danh tiếng của nhà khoa học.

LĐ: Ngoài các chỉ số định lượng, còn yếu tố nào khác để đánh giá nhà khoa học?

NVT: Ngoài các tiêu chí định lượng, còn có những tiêu chí khác mà giới khoa học dùng thuật ngữ “recognition” (tạm dịch là “thừa nhận”) để mô tả chung. Thừa nhận ở đây có nghĩa là được mời viết tổng quan cho các tập san danh tiếng có IF cao, được mời giảng hoặc chủ toạ trong các hội nghị lớn, được mời giảng bài khoáng đại trong các hội nghị. Ngoài ra các giải thưởng do các hiệp hội khoa học trao tặng cũng là một tín hiệu cho thấy nhà khoa học có đóng góp quan trọng. Cần phân biệt với các giải thưởng mang tính cộng đồng vì nó không có giá trị khoa học. Ở Úc có những giải thưởng cao quí như AO, AM do Nhà nước trao tặng, nhưng trong khoa học những giải thưởng đó không quan trọng bằng những giải do các hội đoàn chuyên môn trao tặng.

LĐ: Nhưng ý kiến đánh giá của đồng nghiệp cũng quan trọng chứ, thưa Giáo sư?

NVT: Dĩ nhiên, ý kiến của đồng nghiệp là quan trọng, nhưng đồng nghiệp thường không khách quan, và đánh giá của họ cũng tuỳ thuộc vào bối cảnh. Trong khoa học, đồng nghiệp quen nhau thường khen nhau vì họ muốn giúp nhau. Tôi đọc hàng trăm thư giới thiệu (reference letters) ứng viên, tôi không thấy thư nào đánh giá nghiêm chỉnh về ứng viên, mà chỉ toàn là khen, có khi khen “tận mây xanh” mà tôi nghi ngờ là không thật. Có lần chúng tôi xem xét một ứng viên chức danh giáo sư được các đồng nghiệp đánh giá rất cao, nhưng chỉ số H của ứng viên chỉ 11 và số trích dẫn chưa đầy con số 500, nên chúng tôi biết những đánh giá của đồng nghiệp là không chính xác. Ngược lại, có đồng nghiệp có thể do có vấn đề cá nhân, nên khi tôi hỏi họ thì toàn nghe những đánh giá tiêu cực, có khi quá đáng mà tôi biết là không đúng. Do đó, đánh giá của đồng nghiệp trong ngành tuy quan trọng nhưng chỉ có tính bổ sung, chứ rất khó dựa vào đó mà quyết định được.

Sở hữu trí tuệ

LĐ: Theo Giáo sư, sản phẩm trí tuệ là gì?

NVT: Đây là một câu hỏi khó có câu trả lời chính xác. Tuy nhiên, theo cách hiểu chung của giới khoa học thì sản phẩm trí tuệ là những ứng dụng ý tưởng để phát triển thành một cái gì mới và nguyên gốc (original). Những “cái gì” có thể là một bài báo khoa học, phương pháp phân tích mới, sáng chế mới, một thương hiệu, thiết kế, hay sản phẩm nghệ thuật.

Tuy nhiên, trong khoa học có những cái không được xem là sản phẩm trí tuệ. Những dự án mang tính cơ sở vật chất, như xây phòng lab mới, xây dựng bộ môn mới, xây dựng nhóm nghiên cứu, làm tạp chí mới, v.v. thì không phải là sản phẩm trí tuệ. Nhưng bản thiết kế xây dựng và bản đề cương cho các đề án thì có thể xem là sản phẩm trí tuệ.

LĐ: Nếu đề cương của đề án được phát triển, thì đó là sản phẩm của tác giả hay của nhà trường?

NVT: Tôi nghĩ là sản phẩm của cả hai. Ý tưởng trong đề án là của tác giả, nhưng tài liệu đề cương là của trường. Do đó, chúng ta thấy khi nhà khoa học nghỉ việc, họ không được đem theo những đề cương đã phát triển ở trường cũ. Bệnh viện tôi công tác mấy năm trước sa thải một bác sĩ cao cấp, và bệnh viên niêm phong tất cả tài liệu ông đang có trong văn phòng, vì họ sợ ông đem những đề cương nghiên cứu sang chỗ khác. Dĩ nhiên, ông bác sĩ có thể đem ý tưởng đi và phát triển đề cương mới, nhưng ông không có quyền đem đề cương sang chỗ khác.

LĐ: Nếu Giáo sư công bố một bài báo khoa học trên một tập san, ai là người chủ của bài báo, Giáo sư hay là trường đại học mà giáo sư đang công tác?

NVT: Trong công bố khoa học, khái niệm “chủ” hay “sở hữu” hơi khó để phân định, vì trong thực tế ít ai đặt ra vấn đề này. Khi tôi công bố một bài báo khoa học, đó là một sản phẩm trí tuệ, thì tôi là sở hữu chủ của ý tưởng trong bài báo. Nhưng nhà xuất bản thường thường giữ tác quyền (copyright) những hình ảnh, biểu đồ, bảng số liệu, v.v. trong bài báo! Điều này có nghĩa là sau này nếu tôi muốn sử dụng các biểu đồ trong bài báo đó tôi phải xin phép nhà xuất bản! Trường đại học nơi tôi công tác không phải là sở hữu chủ của bài báo, nhưng trường có quyền xem đó là bài báo của trường vì trong địa chỉ công tác tôi có ghi tên trường.  Lí do đơn giản là vì tôi làm nghiên cứu dùng cơ sở vật chất của trường, có thể do trường trả lương, và tôi cũng có khi nhờ thương hiệu của trường. Do đó, trường có quyền liệt kê bài báo của tôi như là một sản phẩm của trường.

LĐ: Nhưng nếu nhà khoa học có hơn một địa chỉ công tác trên bài báo thì nơi nào là sở hữu chính?

NVT: Điều anh nói là tình trạng một nhà khoa học có nhiều nơi công tác hay “affiliation”. Affiliation rất quan trọng đến thương hiệu. Chẳng hạn như khi tôi công bố nghiên cứu, tôi có đến 3 hay 4 affiliation (tuỳ theo công trình) như Viện Garvan, Bệnh viện St Vincent, Đại học UNSW, Đại học UTS, v.v. thì mỗi nơi đều có quyền liệt kê bài báo của tôi như là sản phẩm của trường. Còn nơi sở hữu chính là nơi tôi làm nghiên cứu. Đó chính là lí do tại sao trong các bảng xếp hạng đại học “top 200”, người ta tính cả những công trình mà các nhà khoa học đã từng thực hiện tại trường trong quá khứ dù hiện nay nhà khoa học không còn công tác ở trường nữa. Do đó, kí tên một bài báo hay một đề cương dưới danh nghĩa một trường đại học cũng có nghĩa là đồng ý để nhà trường xem đó là sản phẩm trí tuệ của họ.

LĐ: Nếu Giáo sư sáng chế ra phương pháp và có khả năng thương mại hoá, Giáo sư có được sở hữu 100% giáo trị thương mại?

NVT: Câu trả lời đơn giản là: không. Đụng đến tiền bạc thì các trường đại học và viện nghiên cứu rất … quan tâm. Nếu tôi phát minh ra một phương pháp, đăng kí bằng sáng chế, và thương mại hoá thì số tiền thu được từ sản phẩm sẽ được chia giữa tôi và trường đại học.  Tỉ lệ chia thì còn phụ thuộc vào qui định từng nơi, nhưng thường thường trường lấy nhiều hơn nhà khoa học. Có trường qui định tỉ lệ 60-40 (trường hưởng 60%, nhà khoa học hưởng 40%), nhưng cũng có vài nơi “rộng rãi” hơn. Nhưng nói chung, nhà khoa học không được hưởng 100% vì sản phẩm trí tuệ còn là của trường.

LĐ: Giáo sư có thể mang sáng chế sang đại học khác, và trường cũ không còn hưởng?

NVT: Nếu tôi chuyển sang trường khác, thì trường cũ vẫn hưởng phần trăm như qui định, bởi vì họ xem đó là sản phẩm của họ, và tôi vẫn hưởng lợi tức như qui định, không có gì thay đổi. Trường mới không dính dáng gì đến bằng sáng chế mà tôi làm ở trường cũ, trường mới không thể hưởng bất cứ lợi tức gì từ bằng sáng chế của tôi.

LĐ: Vấn đề sỡ hữu trí tuệ đối với những đồng tác giả của một sản phẩm khoa học thì được hiểu như thế nào, thưa Giáo sư?

NVT: Cái này còn tuỳ theo thoả thuận của nơi công tác. Thông thường khi làm chung trong nhóm, ai cũng biết ai là tác giả chính và ai là tác giả phụ, nên việc đứng tên đăng kí bằng sáng chế không có vấn đề gì. Chẳng hạn như có bài báo có đến 6 tác giả, nhưng khi đăng kí bằng sáng chế thì chỉ có 3 người đứng tên. Nếu có tranh chấp tác giả thì phải dựa vào tiêu chuẩn quốc tế ICMJE để xác định ai đủ tư cách tác giả. Thông thường để đứng tên tác giả một sản phẩm trí tuệ thì phải đáp ứng ít nhất 2 tiêu chuẩn chính: có đóng góp về ý tưởng và thiết kế, và soạn thảo văn bản đầu tiên.

LĐ: Liên quan đến đề tài sở hữu trí tuệ, có quan điểm cho rằng tạp chí khoa học là của nhà khoa học, trường đại học không được đụng đến. Giáo sư nghĩ quan điểm đó đúng không?

NVT: Tôi nghĩ quan điểm đó không đúng với những gì tôi biết trong thực tế. Trước hết, “nhà khoa học” là ai? Kế đến, thế nào là “của”, tức sở hữu. Nếu hiểu sở hữu chủ có nghĩa là ông chủ điều hành và quán lí, thì thông thường các hiệp hội chuyên ngành và thỉnh thoảng trường đại học là sở hữu chủ tạp chí khoa học. Nếu tạp chí do nhà xuất bản lập ra thì sở hữu chủ là nhà xuất bản. Chắc chắn tạp chí khoa học không phải của một cá nhân nhà khoa học! Ngay cả nhà khoa học trong vai trò tổng biên tập cũng không phải là sở hữu chủ của tạp chí. Thật ra, cá nhân nhà khoa học chẳng có quyền gì trong tạp chí khoa học. Ngay cả nộp bài cho tạp chí còn phải trả tiền, và khi bài đã đăng thì bản quyền lại thuộc nhà xuất bản. Đây chính là một xung đột giữa nhà xuất bản và nhà khoa học, nhưng đây là một đề tài khác.

LĐ: Trong quá trình làm nghiên cứu, chắc Giáo sư đã nhận được nhiều sự tài trợ. Trách nhiệm của Giáo sư đương nhiên là phải làm ra sản phẩm khoa học như đã cam kết. Ngoài ra, Giáo sư còn quan tâm vấn đề gì nữa không?

NVT: Thật ra, ở các nước phương Tây, các tổ chức tài trợ cho nghiên cứu khoa học không đòi hỏi nhà khoa học phải làm ra sản phẩm gì, hay công bố bao nhiêu bài báo và công bố ở đâu. Tuy nhiên, họ kì vọng phải có sản phẩm trí tuệ, và sản phẩm phải có chất lượng. Còn tiêu chuẩn về chất lượng thì như tôi đã đề cập trong phần đầu.

Trong khoảng 20 năm nay, nhiều tổ chức tài trợ yêu cầu nhà khoa học phải ghi lời cảm tạ tổ chức tài trợ ở bất cứ sản phẩm nào và bất cứ nơi nào có dùng dữ liệu liên quan đến tài trợ của họ. Có tổ chức có hẳn những cách viết mà nhà khoa học phải tuân theo. Nhưng các nhà khoa học nói chung đều có đạo đức tốt và lòng tự trọng cao, nên dù không có yêu cầu, họ vẫn ghi cảm tạ trong tất cả sản phẩm trí tuệ họ có được từ tài trợ.


Read more ...