Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn năng suất khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn năng suất khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Viện hàn lâm khoa học xã hội (VASS)

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2015
Ngoài VAST ra, VASS cũng là một trung tâm khoa học khá lớn của VN. Chúng ta thường nghe VASS trên báo chí, nhưng không rõ họ nghiên cứu về lĩnh vực gì và "đầu ra" ra sao. Trang web của VASS không cung cấp nhiều thông tin như VAST, nên rất khó để biết VASS có bao nhiêu cán bộ, viên chức, và bao nhiêu giáo sư tiến sĩ, hay công bố gì. Tôi thử tìm các công trình của VASS qua thư mục ISI, và số liệu cho thấy VASS có rất ít nghiên cứu khoa học công bố quốc tế.


Trong thời gian 15 năm (2000 – 2014), VN đã công bố được 181 bài báo liên quan đến khoa học xã hội và nhân văn (sẽ gọi chung là KHXH). Trong số này, chỉ có 6 bài là có địa chỉ của VASS. Phần lớn các bài còn lại có địa chỉ Đại học Quốc gia (nhưng không rõ đại học quốc gia nào), ĐH Hoa Sen và các đại học nước ngoài. Thật ra, đa số bài báo về KHXH của VN là do các đại học nước ngoài thực hiện, trong đó Đại học Quốc gia Úc (ANU) công bố khá nhiều bài.

Một số lĩnh vực nghiên cứu chính (tính trên 181 ấn phẩm) như sau:

Xã hội học (sociology): 16%
Paleonthology: 15%
Nhân chủng học: 15%
Dân số học: 12%
Phụ nữ học: 10%
Khảo cổ học: 10%
Các lĩnh vực KHXH khác: 27%

Đa số các công trình KHXH là do hợp tác với nước ngoài.  Các nước có nhiều hợp tác với VN là Mĩ (chiếm 25% bài báo KHXH của VN), kế đến là Nhật (17%), Pháp (16%), Úc (14%), và Canada (9.4%).

Tóm lại, năng suất khoa học của VASS hiện nay và trong vòng 15 năm qua còn cực kì thấp. Số bài báo khoa học trên các tập san trong thư mục ISI của VASS có thể nói là chỉ "đếm đầu ngón tay" và không đáng kể. Điều này rất đáng tiếc vì ở VN có rất nhiều đề tài KHXH phong phú.

Nhưng có lẽ định hướng của VASS không hẳn là nghiên cứu khoa học, nên khó đòi hỏi phải có công bố quốc tế. Thật vậy, trang web của VASS có bàn đến định hướng tương lai như sau: "vận dụng và phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc nghiên cứu và giải đáp những vấn đề lý luận và thực tiễn của đất nước phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị và văn hóa, xã hội của Việt Nam hiện nay, đồng thời đặt trong bối cảnh của khu vực và thế giới, tiếp thu và vận dụng sáng tạo tinh hoa trí tuệ và tri thức của nhân loại." Với định hướng như thế, tôi nghĩ "sản phẩm" khoa học của VASS sẽ vẫn còn lu mờ như hiện nay.

====




Read more ...

Năng suất khoa học của Viện KHCN

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2015
Viện hàn làm KHCN của VN là một “di sản” của mô hình hoạt động khoa học thời Liên Xô cũ. Có bao giờ bạn tự hỏi Viện hàn lâm KHCN có bao nhiêu nhân viên, có ngân sách là bao nhiêu, và họ làm được gì? Bài báo dưới đây (1) cung cấp cho chúng ta vài con số trả lời những câu hỏi đó. Nhưng những con số này lại đặt ra vài câu hỏi khác.


Về nhân sự, Viện có hơn 4000 người, trong số đó 2419 người là "biên chế" (tôi không rõ từ này lắm). Tuy nhiên, trong số đó, Viện có 877 tiến sĩ, 152 phó giáo sư, và 41 giáo sư. Như vậy, có thể nói "lực lượng" khoa học của Viện là 1070 người. Tôi không rõ số còn lại 1349 người thuộc diện nào, nhưng đó là một con số không nhỏ.

Về ngân sách, năm 2014 Viện có ngân sách 919 tỉ đồng, tức tính ra là 46 triệu USD. Không rõ con số này được chi cho khoản nào, nhưng chắc chắn lương bổng chiếm phần lớn. Tính trung bình, ngân sách cho mỗi người trong biên chế là 19016 USD, một con số không hề thấp.

Về đầu ra, năm 2014 Viện báo cáo là công bố được 2.074 bài báo khoa học, nhưng số bài báo quốc tế là 803 bài. Thật ra, rất khó nói "bài báo quốc tế" ở đây có nghĩa là gì, vì có thể kể cả những bài trên những tập san đáng nghi ngờ dỏm như trong nhóm SCIRP. Trong thực tế, số liệu của Web of Science cho thấy tính từ 2010 đến 2014, Viện chỉ công bố được 1332 bài trên các tập san ISI (2). Nếu tính riêng cho năm 2014 (số liệu chưa đầy đủ), Viện công bố được 353 bài trên các tập san trong danh mục ISI.

Một thống kê khác cho biết năm 2014 Viện đăng kí được 3 bằng sáng chế. Nhưng chắc là bằng sáng chế đăng kí ở VN, vì năm 2014 VN chỉ có 1 bằng sáng chế duy nhất được USPTO (Mĩ) cấp cho Trường ĐH Tôn Đức Thắng.

Con số bài báo khoa học phải đặt trong bối cảnh 1070 giáo sư, tiến sĩ thì mới có ý nghĩa. Hãy rộng lượng cho rằng mỗi năm Viện công bố được 350 bài trên các tập san ISI, thì tính trung bình phải 3 giáo sư tiến sĩ mới có 1 bài. Hay nói cách khác, mỗi giáo sư tiến sĩ chỉ công bố được 1.2 bài trong vòng 5 năm. Năng suất như thế là thấp quá. Khó có thể nói năng suất thấp là do không đầu tư, vì mỗi năm Nhà nước chi đến 46 triệu USD, và số đó chưa kể tài trợ của NAFOSTED.

Có lẽ mô hình Viện hàn lâm KHCN là một mô hình sai lầm. Ngày nay, mô hình tập trung hóa trong khoa học ít được nước nào sử dụng nữa; thay vào đó là “mô hình cá thể”, theo đó từng nhóm hay lab nhỏ được thiết lập trong các đại học và viện nghiên cứu. Mô hình cá thể này tuy không phải là tốt nhất nhưng đã được chứng minh qua thực tế là hoạt động khá hữu hiệu hơn mô hình tập trung hóa.

====


(2) Số liệu trích từ Web of Science của ISI, tính từ 2010 đến 2014 (chưa đầy đủ), và con số của Viện KHCN được tính từ những bài báo có địa chỉ VIETNAM ACAD SCI TECHNOL, VAST, VIETNAMESE ACAD SCI TECHNOL, v.v.

Read more ...

Năng suất khoa học của giáo sư Hàn Quốc

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013
Trong các cường quốc khoa học mới nổi lên, tôi nghĩ phải kể đến Hàn Quốc (HQ). Ngày xưa chúng tôi gọi là “Đại Hàn” (giống như Việt Nam mình từng là “Đại Việt”). Hôm nọ, tôi đếm thử số bài báo khoa học của Đại học Quốc gia Seoul (SNU, đại học số 1 của HQ) thì thấy đã hơn số bài báo của Đại học New South Wales (UNSW). Đáng phục! Tuy nhiên, về chất lượng khoa học thì SNU vẫn còn kém nhiều so với các đại học phương Tây. 


Hôm nay đọc một phân tích về năng suất khoa học của các giáo sư thuộc Trường Sinh học (School of Biological Sciences - SBS) của SNU thấy có nhiều số liệu thú vị. Trường này có 3 bộ môn chính là sinh học, sinh học phân tử, và vi sinh học. Trường có 39 giáo sư và giảng viên (gọi chung là faculties), vấn đề đặt ra là năng suất của những faculties này ra sao. Để trả lời câu hỏi đó, họ phân tích số bài báo và trích dẫn trong thời gian 2004 đến 2009. Sau đây là vài kết quả chính: 

• Tổng số bài báo trong thời gian 2004-2009 là 640 bài. Trong số này, 541 bài (85%) là công bố trên các tập san quốc tế; phần còn lại là nội địa nhưng có bình duyệt (peer review). Tính trung bình, mỗi giáo sư/giảng viên công bố 16 bài trong thời gian 5 năm. 

• Những công trình nghiên cứu của họ phần lớn tập trung vào sinh học phân tử. Thật vậy, trong số 640 bài, có đến 45% thuộc lĩnh vực sinh học phân tử. Phần còn lại là tế bào học (23%), vi sinh (16%), công nghệ sinh học (6%), và di truyền học (5%).

• Phần lớn (trên 75%) những bài báo được công bố trên các tập san có IF < 4, tức dưới trung bình. Nhưng cũng có những bài được công bố trên các tập san danh tiếng như 9 bài trên Cell (IF 32.4), 14 bài trên PNAS (IF 9.77), và 41 bài trên JBC (IF 5.3). Một số ít được công bố trên các tập san danh giá khác như Nature Medicine, Nature, Science, EMBO, v.v. 

• Khoảng 26% bài báo khoa học là có hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Những nước họ hợp tác nhiều nhất là Mĩ (chiếm 67% các bài báo có hợp tác), Nhật (15%), Đức (8%), Canada (8%), và Anh (5%).

• Về chất lượng có thể đánh giá qua chỉ số trích dẫn. Trong số 614 bài, có 521 bài (tức 81%) được trích dẫn. Tổng số lần trích dẫn là 9204. Tính trung bình, mỗi bài được trích dẫn 14.4 lần. Những bài có hợp tác quốc tế là được trích dẫn nhiều nhất so với những bài của tác giả thuần nội địa. 

• Qua những phân tích trên, chúng ta thấy được những ngôi sao sinh học của SNU. Đó là VN Kim, SH Baek, J Chun, JB Kim. Những người này có công trình được trích dẫn trên 100 lần. Đặc biệt là VN Kim, chỉ 28 bài báo mà có đến 2376 trích dẫn! Người có năng suất cao nhất là J Chun, một mình ông này công bố 62 bài, trung bình >10 bài một năm! Các bạn nghiên cứu sinh cần chú ý đến những sao này để đầu quân! 

Tìm hiểu thêm thì thấy VN Kim là nữ, dân học Oxford về, với H index là 36. Nữ mà giỏi thế!http://www.narrykim.org/en/principal_investigator. 

Những con số trên đây cho thấy ngành sinh học của SNU đã có một bước tiến ngoạn mục. Họ có những hướng nghiên cứu chuyên sâu và bắt kịp phương Tây. Năng suất khoa học của họ không hề kém, nếu không muốn nói là có phần trội hơn, bên Úc. Họ cũng có những ngôi sao rất đáng nể phục, và đã có nội lực chẳng thua kém bất cứ đại học nào trên thế giới. 

Ở VN chúng ta, năng suất khoa học trong ngành sinh học còn rất thấp. Thống kê ISI cho thấy trong 10 năm 1995-2005, tổng số bài báo về sinh học chỉ xấp xỉ 600 bài. Gần 90% những bài này là do cộng tác với nước ngoài, và tác giả nước ngoài là chủ đề tài. Nói cách khác, số bài báo sinh học 10 năm của VN chưa bằng số bài báo trong 5 năm của một đại học như SNU. Nhưng quan trọng hơn là nội lực về nghiên cứu sinh học của VN còn quá thấp. Anh bạn tôi ở Sài Gòn nói bây giờ rất khó thu hút sinh viên theo học biology, anh ấy còn dùng chữ “sắp tuyệt chủng”. So sánh thêm chỉ thêm buồn, nhưng con số đó buộc chúng ta phải hỏi nên ưu tiên đầu tư cho ngành khoa học nào? Nếu cứ mãi mê chạy theo tính toán thì sẽ có ngày VN hối hận và lúc đó thì đã quá muộn.



Read more ...