Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn luận án tiến sĩ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn luận án tiến sĩ. Hiển thị tất cả bài đăng

Luận án tiến sĩ: độ dài và tài liệu tham khảo

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014
Mấy tuần trước, một bạn ở Hà Nội viết email hỏi tôi về luận án tiến sĩ ở bên Úc. Câu hỏi cụ thể là (a) luận án tiến sĩ dài bao nhiêu trang; (c) phần tổng quan tài liệu là bao nhiêu trang; và (c) có bao nhiều tài liệu tham khảo. Tôi đã nói về đề tài này nhiều lần ở nhiều nơi bên VN, nhưng chưa có dịp viết ra cho rõ ràng, nên nhân dịp câu hỏi này tôi viết ra vài ý chính dưới đây.



Luận án tiến sĩ dài bao nhiêu trang?

Đây là câu hỏi nghiên cứu sinh hay hỏi khi bắt đầu viết luận án. Thật ra, chẳng ai đếm số trang, mà người ta thường đếm số chữ. Trong thực tế, chẳng có nơi nào có qui định cứng là luận án tiến sĩ phải bao nhiêu chữ. Chẳng ai điên để ra những qui định như thế, vì phẩm chất học thuật mới là quan trọng, chứ độ dài chẳng có ý nghĩa gì. Tuy nhiên, nhiều trường (không phải tất cả) thường khuyên nghiên cứu sinh rằng luận án tiến sĩ nên có 80,000 chữ hoặc ít hơn. Trong ngành y, khi tôi hỏi nhiều đồng nghiệp thì họ nói luận án tiến sĩ có số chữ thường dao động trong khoảng 30,000 đến 80,000 chữ. Nếu mỗi trang A4 có 250 chữ (font Times New Roman, size 12, double space), thì tính trung bình mỗi luận án tiến sĩ có khoảng 120 đến 320 trang.

Tôi xem qua các luận án ở Viện Garvan thì quả thật độ dài từ 110 đến 350 trang. Trong nhóm tôi cũng có những luận án ngắn (khoảng 150 trang), nhưng cũng có luận án dài (350 trang). Dĩ nhiên, không có trường nào làm khó nghiên cứu sinh nếu luận án chỉ 80 trang hay 500 trang. Thật ra, như nói trên, độ dài hay số chữ không có gì là đáng chú ý; cái đáng chú ý là thông tin, là dữ liệu khoa học trong luận án. Điều kiện tiên quyết của luận án tiến sĩ là các nghiên cứu nguyên thuỷ (original contribution), những nghiên cứu mà dữ liệu đóng góp vào tri thức của chuyên ngành, chứ không phải số chữ hay số trang.

Tổng quan tài liệu bao nhiêu trang?

Không có qui định cứng là phần tổng quan tài liệu phải bao nhiêu trang (hay bao nhiêu chữ). Tuy nhiên, khi tôi xem qua các luận án ở Viện Garvan và UNSW thì tôi thấy đây là phần dài nhất trong luận án. Luận án có chương tổng quan ngắn nhất cũng 30 trang, và dài nhất là 60 trang! Đa số các luận án y khoa, phần tổng quan là chương dài nhất.

Tôi nghĩ độ dài của chương tổng quan cũng tuỳ thuộc vào đề tài nghiên cứu. Nếu là đề tài "nóng" và mới, thì phần này chắc sẽ ngắn hơn các đề tài có nhiều người làm trước đó. Cái khó khăn của viết phần tổng quan là nếu viết ít và ngắn thì sẽ bị phê bình là chưa điểm qua y văn đầy đủ, nếu viết quá dài (như 60 trang) thì sẽ gây ấn tượng ở người đọc là tác giả chẳng có nhiều đóng góp mới. Do đó, cần phải quân bình giữa hai thái cực có thể gây ấn tượng tiêu cực.

Bao nhiêu tài liệu tham khảo?

Một lần nữa, cũng không có ai đề ra qui định cứng là tài liệu tham khảo của luận án tiến sĩ phải có bao nhiêu tài liệu tham khảo. Một phần là tuỳ thuộc vào chuyên ngành, một phần khác là do đề tài nghiên cứu có thể ảnh hưởng đến số tài liệu tham khảo. Những đề tài mới thì ít nghiên cứu nên phần này không nhiều, còn những đề tài đã được nhiều người làm thì chắc chắn phần tài liệu tham khảo sẽ nhiều.

Tôi điểm qua các luận án tiến sĩ ở Viện Garvan thì thấy số tài liệu tham khảo dao động trong khoảng 250 đến 400. Ở Khoa Y, UNSW, tôi chưa thấy luận án tiến sĩ nào có dưới 200 tài liệu tham khảo.

Dĩ nhiên, cũng cần phải nhắc lại ở đây là tài liệu tham khảo chủ yếu là các bài báo trên tập san có bình duyệt (peer reviewed papers). Cũng có thể trích dẫn chương sách, nhưng rất hiếm. Càng hiếm trích dẫn abstracts trong hội nghị, bất kể là hội nghị cấp quốc tế hay quốc gia. Trích dẫn chương sách và abstracts trong hội nghị chẳng những làm cho người duyệt luận án khó kiểm tra, nhưng cũng gây ấn tượng không tốt vì có thể là "secondary citation" (trích dẫn thứ phát).

Về thời gian tính, một luận án mà trích dẫn quá nhiều bài báo trên 10 tuổi cũng không được đánh giá cao, vì người duyệt sẽ nghĩ tác giả chưa cập nhật hoá thông tin. Tốt nhất là trích dẫn những bài báo có dưới 5 tuổi, hay dưới 10 tuổi. Cố nhiên, những công trình quan trọng và mang tính lịch sử thì dù 50 tuổi vẫn được trích dẫn như thường.

Nói tóm lại, các đại học Úc không có qui định cứng về độ dài của luận án, hay số trang của chương tổng quan, hay số tài liệu tham khảo. Nhưng trong thực tế thì các luận án tiến sĩ ngành y có độ dài từ 30,000 – 80,000 chữ, chương tổng quan dao động từ 30-60 trang, và số tài liệu tham khảo dao động từ 250 – 400. Nhưng như tôi nói ở trên, đó chỉ là những số liệu thực tế, và nếu luận án dài hơn hay ngắn hơn, thì hội đồng học thuật cũng không bao giờ gây khó dễ. Theo tôi biết luận án các ngành khoa học xã hội cũng có những con số tương tự. Cái yếu tố quan trọng số 1 của luận án tiến sĩ là nội dung mới, chứ không phải hình thức hay độ dài của luận án.

****

Ghi thêm: Tôi thấy hầu hết các luận án tiến sĩ ngành y ở VN chỉ có chừng 110-130 trang, và nội dung khá nghèo nàn. Phần tổng quan thì quá ít. Chỉ có một chương kết quả! Tài liệu tham khảo thì chỉ 60-90. Nhìn toàn cảnh nó giống như luận án cao học hay cử nhân hạng danh dự ngoài này. Sau này tôi mới biết là đây là những qui định cứng của Bộ GDĐT. Hình như còn có qui định phải trích dẫn tài liệu tham khảo trong nước? Thật lạ lùng! Bộ GDĐT sao quá rảnh rỗi để lo mấy chuyện mang tính học thuật này, tại sao không theo các qui ước mà giới khoa học chấp nhận có dễ hơn không.

Read more ...

Nên xem lại “nghiên cứu khoa học”

Thứ Ba, 9 tháng 7, 2013
Sáng nay, một bạn đọc nhận xét rằng “Em thấy hiện tại ai ai, cũng làm ‘nghiên cứu khoa học’”. Em để bốn chữ đó trong ngoặc kép. Nhận xét này làm tôi có cảm hứng viết ra suy nghĩ của cá nhân tôi về câu hỏi: thế nào là nghiên cứu khoa học.


Hiện nay ở Việt Nam, nghiên cứu khoa học gần như trở thành một phong trào. Hầu như cơ quan nào cũng có chính sách -- lớn hay nhỏ -- khuyến khích nghiên cứu khoa học. Phong trào này nó lan rộng từ thành phố đến tỉnh và thậm chí cấp huyện. Các trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện, v.v. có lẽ là những nơi hăng hái nhất vì họ ở trong điều kiện và bối cảnh lí tưởng để làm nghiên cứu. Nhưng ngay cả những nơi mà điều kiện khoa học còn hạn chế cũng hăng hái nói đến nghiên cứu khoa học. Phong trào này cũng giống như cái thời mà người ta hô hào “phát huy truyền thống dân tộc anh hùng, mạnh dạn tấn công vào khoa học kĩ thuật”. Chú ý những chữ rất kêu: dân tộc anh hùng, tấn công, khoa học, kĩ thuật. Đọc lên thì nghe rổn rảng, nhưng suy nghĩ kĩ thì nó chỉ là một cụm mĩ từ chỉ để nói suông cho vui tai. Nhìn chung thì đó là một bức tranh sinh động và đáng khen. Nhưng nhìn kĩ thì hình như phong trào nghiên cứu khoa học có vấn đề.

Vấn đề chủ yếu là phong trào đó (nghiên cứu khoa học) chỉ nhằm để đáp ứng với những chỉ tiêu và “mục tiêu chính trị”. Chẳng ai biết mục tiêu chính trị là gì, nhưng ai cũng cảm nhận rằng đó là mục tiêu quan trọng, vì hoàn thành mục tiêu chính trị có liên quan đến danh dự của cơ quan. Nhưng còn một lí do khác mà người ta hăng say làm nghiên cứu khoa học: thi đua. Ở VN có những danh hiệu rất lạ, và một trong những danh hiệu đó là “chiến sĩ thi đua”. Chẳng biết dịch sang tiếng Anh ra sao, nhưng tôi mường tượng rằng đó là một danh hiệu quí. Trong bệnh viện, theo tôi biết, để có danh hiệu quí đó, cá nhân phải có nghiên cứu khoa học. Ở các đại học cũng thế, chiến sĩ thi đua là một danh hiệu thường rơi vào những cá nhân có thành tích trong nghiên cứu khoa học. Do đó, có thể nói rằng cái động cơ để bác sĩ, giảng viên, chuyên gia, .v.v làm nghiên cứu khoa học chưa chắc là đi tìm sự thật hay phát minh gì, mà chỉ để nâng cao khả năng có được cái danh hiệu mà chỉ ở VN mới quí trọng.

Còn một lí do khác nữa cho nghiên cứu khoa học: để có học vị. Thời đại ngày nay, ai cũng muốn có tấm bằng sau cấp cử nhân, như masters (đáng lí ra dịch là “cao học”), và nhất là tiến sĩ. Không theo nghiệp học thuật thì các bác sĩ cũng cố gắng lấy cái bằng “chuyên khoa II” (cũng một lần nữa chỉ có ở Việt Nam!) Để có những cái bằng này, ứng viên phải làm nghiên cứu khoa học. Để thành một tiến sĩ, họ cần phải có những kĩ năng cần thiết, trong đó có kĩ năng làm nghiên cứu khoa học. Do đó, làm hay tham gia vào nghiên cứu là một cách rất thiết thực để có kĩ năng chuyên môn. Thật ra, ở các nước như Úc và Anh, học tiến sĩ chủ yếu là làm nghiên cứu chứ không có học coursework như bên Mĩ. Trong những trường hợp này tôi nghĩ nghiên cứu khoa học có thể là chính đáng.

Lí do sau cùng để người ta làm nghiên cứu khoa học là vì khoa học. Đó là những người không màn đến danh hiệu “chiến sĩ thi đua” và chẳng hám bằng cấp. Họ chỉ thấy hiện trạng (như trong lâm sàng) rồi tò mò đặt câu hỏi, và làm nghiên cứu. Nếu kết quả tốt họ công bố trên các tập san quốc tế, nếu kết quả không tốt họ chỉ để đó và làm tiếp. Những người này rất tự giác, họ không ngồi một chỗ mà than “không có tiền”, mà họ tự xoay xở, đi xin chỗ này, tìm hỗ trợ chỗ kia để làm. Tôi còn biết có người bỏ tiền túi ra làm! Phải nói rằng những người làm nghiên cứu khoa học để tìm sự thật khoa học là cực kì cực kì hiếm ở Việt Nam. Tôi gọi họ là “rare species”, sắp tuyệt chủng.

Trong thực tế, rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học ở VN không phải là “nghiên cứu khoa học”. Trước đây, ông Nguyễn Thiện Nhân từng than phiền rằng có nhiều đề tài nghiên cứu mà đọc lên là thấy kì lạ. Ví dụ như nghiên cứu về giặt quần áo cho quân đội, hoàn thiện quản lí thị trường chứng khoán VN, vai trò của nhà nước đối với văn hóa, v.v. đọc lên chẳng thấy cái tính khoa học ở đâu cả. Trong ngành y, tôi đọc khá nhiều luận án tiến sĩ, và cảm nhận của tôi là những luận án này chưa xứng tầm của một học vị tiến sĩ. Lí do thì nhiều, nhưng quan trọng nhất là công trình nghiên cứu khó có thể nói là “khoa học”. Ở đây, tôi chỉ nói trong ngành y là chủ yếu, chứ không biết mấy ngành khác ra sao. Gs Trần Văn Thọ cũng nói về ngành kinh tế như sau: “Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở Việt Nam chỉ làm cho luận án thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới, và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành”. Tiêu chuẩn đào tạo thấp như thế làm cho nhiều tiến sĩ của VN có tầm thấp hơn so với đồng nghiệp nước ngoài.

Ấy thế mà có giáo sư ở VN nhầm lẫn rằng đi chợ mua cá mua tôm là nghiên cứu khoa học! Lại có giáo sư trình bày những tài liệu về chủ quyền biển đảo (những tài liệu được thu thập từ các nguồn trong và ngoài nước) và xem đó là “nghiên cứu khoa học”. Với cách hiểu về nghiên cứu khoa học như thế chúng ta không ngạc nhiên khi những kiểm kê lâm sàng (clinical audit) mà cũng xem là luận án tiến sĩ! Có rất nhiều luận án tiến sĩ mà trong đó chỉ có 1 nghiên cứu duy nhất, và người ta làm hết thống kê mô tả này đến thống kê mô tả khác từ một nguồn dữ liệu! Có những luận án mà ứng viên chỉ cần đi đếm có bao nhiêu người mắc bệnh trong một làng xã nào đó hay bệnh viện nào đó, rồi làm thống kê yếu tố nguy cơ. Lại có người “lười biếng” chỉ review những ca phẫu thuật, rồi đếm bao nhiêu tốt hơn và bao nhiêu xấu hơn. Đó là những bài tập thống kê sơ đẳng, chứ có gì là nghiên cứu khoa học đâu. Gs Trần Văn Thọ nhận xét: “Những vấn đề lớn của VN là hiểu chưa đúng về chuẩn mực của luận án tiến sĩ nói riêng và trình độ của người được cấp bằng tiến sĩ nói chung, cơ chế đào tạo quá lỏng lẻo, tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn không được quy định nghiêm túc, chưa xác lập được cơ chế đánh giá khách quan về luận án tiến sĩ và suy nghĩ sai về ý nghĩa của văn bằng nầy.” Những luận án tiến sĩ như trình bày ở đây (yte.gov.vn/Luan%20an%20tien%20sy.htm) nếu đặt vào những tiêu chuẩn học thuật nghiêm chỉnh, thì không biết bao nhiêu thật sự là xứng đáng với luận án tiến sĩ và “nghiên cứu khoa học”.

Vậy thì câu hỏi phải đặt ra: thế nào là một nghiên cứu khoa học? Tôi đã bàn đến câu hỏi này trong cuốn “Đi vào nghiên cứu khoa học” (Nxb Tổng Hợp 2012). Cộng đồng khoa học định nghĩa nghiên cứu khoa học (scientific research hay scientific study) là qui trình thực hiện một thí nghiệm có phương pháp để kiểm định một hay nhiều giả thuyết, hoặc để nhằm tìm câu trả lời cho những câu hỏi chuyên biệt. Dĩ nhiên, “thí nghiệm” ở đây phải hiểu rộng hơn trong khoa học xã hội. Hai từ quan trọng trong định nghĩa này là có phương pháp và giả thuyết. Nghiên cứu khoa học phải dựa vào phương pháp khoa học (scientific method). Chính phương pháp khoa học phân biệt một nghiên cứu khoa học thật với một nghiên cứu khoa học dỏm (pseudo scientific research).

Hiểu nghiên cứu khoa học như thế thì chúng ta sẽ thấy ở VN rất ít nghiên cứu khoa học. Những công trình gọi là “nghiên cứu” đánh giá hiệu quả của một chính sách hay biện pháp nào đó rất khó mà xem là nghiên cứu khoa học, bởi vì đó là nhiệm vụ bình thường của cơ quan chức năng. Đúng như Gs Hoàng Tụy có lần nhận xét rằng “Tôi đã tham gia nhiều hội nghị về các đề tài khoa học cấp Nhà nước của một số ngành. Theo tôi, những cái gọi là đề tài khoa học ấy thực ra thuộc về chức trách, nhiệm vụ của họ. Chẳng hạn, làm giáo dục thế nào cho tốt thì đấy là công việc mà cơ quan lãnh đạo giáo dục cần phải nghiên cứu.”

Do đó, trong bối cảnh nghiên cứu khoa học đã và đang trở thành một phong trào, tôi nghĩ cần phải sàng lọc và phân loại thế nào là nghiên cứu khoa học. Tôi nghĩ không ai bác bỏ những nghiên cứu khoa học để có danh hiệu như “chiến sĩ thi đua”, nhưng tôi nghĩ người ta sẽ không chấp nhận nếu gắn cụm từ “nghiên cứu khoa học” cho những công việc thường qui để có những danh hiệu đó. Mượn câu nói của người phương Tây, “cái gì của Caesar thì trả lại cho Caesar”, tôi muốn nói rằng cái gì thuộc về phạm trù khoa học (như đi tìm sự thật và qui luật tự nhiên) thì mới dùng chữ “khoa học”, còn cái gì mang tính công việc thường ngày thì không nên gán hai chữ “khoa học” vào, vì gán ghép như thế chỉ làm vẫn đục thêm môi trường khoa học vốn đã bị lu mờ bấy lâu nay.

 
Read more ...

Thêm một bộ trưởng Đức đạo văn?

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012
http://www.mpq.mpg.de/cms/mpq/en/departments/quanten/homepage_cms/projects/qip/pics/phdhat.jpgMột bản tin ngắn trên tập san Science tuần qua cho biết bà Annette Schavan, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đức đang bị điều tra vì nghi vấn đạo văn trong luận án tiến sĩ của bà hơn 30 năm trước. Thế là thêm một bộ trưởng Đức có nguy cơ bị mất chức vì đạo văn. Sự việc có ý nghĩa đến chính sách đào tạo tiến sĩ và hình thức thích hợp cho một luận án tiến sĩ.


Mấy năm gần đây, việc truy tìm luận án của các chính khách Đức và Âu châu trở thành một loại thể thao học thuật của giới báo chí. Theo báo chí, đã có hơn 6 chính trị gia Đức phải rời chức vụ vì đạo văn. Còn nhớ trước đây cựu bộ trưởng Bộ Quốc phòng Karl-Theodor zu Guttenberg cũng phạm tội đạo văn, và từ chức vì tội này. Một số chính khách khác cũng chịu sự săm soi của các “activist” (qua trang web VroniPlag) về nạn đạo văn và đã kết cục xấu. Chẳng hạn như Jorgo Chatzimarkakis và Silvana Koch-Mehrin, cả hai là thành viên của Hạ nghị viện Châu Âu và là đảng viên của Đảng tự do, cũng bị cáo buộc đạo văn. Riêng Koch-Mehrin phải từ chức phó chủ tịch Hạ nghị viện Đức sau khi Đại học Heidelberg rút lại bằng tiến sĩ vì luận án có quá nhiều đạo văn.

Nay thì đến trường hợp của bà Annette Schavan. Bà là đương kim bộ trưởng Bộ Giáo dục Đức, chức vụ bà giữ từ năm 2005 cho đến nay. Bà tốt nghiệp tiến sĩ năm 1980 với luận án “Person and conscience – studies on conditions, need and requirements of today’s conscience” từ Đại học Dusseldorf. Chuyên ngành của bà là khoa học giáo dục, triết học và thần học. Bà được xem là một bộ trưởng có tài, và được Đại học Free trao tặng chức danh giáo sư danh dự. Luận án của bà được đồng nghiệp đánh giá là một “formidable accomplishment.” 

Tuy nhiên, vào tháng 5/2012, có người qua một trang web cáo buộc rằng luận án tiến sĩ của bà có dấu hiệu đạo văn. Website vừa đề cập liệt kê 50 ví dụ trong luận án 351 trang mà tác giả cho là không được trích dẫn hay ghi nhận một cách thích hợp. Đại học Dusseldorf lập tức mở cuộc điều tra, nhưng không nói bao giờ sẽ công bố kết quả. Bà Bộ trưởng thì tuyên bố dứt khoát rằng bà không đạo văn, và sẽ bảo vệ quan điểm đó đến cùng. Tuy nhiên, Science tiết lộ rằng một nguồn tin riêng cho biết có lẽ đại học sẽ có quyết định bất lợi cho bà bộ trưởng.

Tuy nhiên, theo Science, trường hợp của bà Annette Schavan có lẽ không nghiêm trọng như của zu Guttenberg. Nhưng sự việc vẫn có thể gây tổn hại đến sự nghiệp của bà. Tạp chí Der Spiegel cho biết trường đại học đã thẩm định xong luận án và có đề nghị rút lại văn bằng tiến sĩ của bà, nhưng trường chưa quyết định sẽ tuyên bố vào lúc nào. 

Qua những vụ việc này, có lẽ bài học là luận án tiến sĩ nên công bố quốc tế để tránh tình trạng cáo buộc đạo văn. Một khi nội dung nghiên cứu của luận án được công bố thì đó cũng là hình thức acid test để cộng đồng khoa học đánh giá. Còn không công bố thì rất khó biết luận án có nội dung gì mới hay xứng đáng với văn bằng được trao. Nhớ ngày xưa khi còn mài ghế nhà trường làm nghiên cứu, tôi rất bận tâm đến luận án, nhưng thầy hướng dẫn tôi không bao giờ nghĩ đến luận án. Ông nói (và tôi dịch nôm na): lo công bố kết quả đi, luận án mày viết ra để ai đọc hả? Nó ở trên cái giá sách đó kìa, mà chính mày cũng chẳng thèm đọc. Cứ mỗi lần có nghiên cứu sinh mới vào thì ông lại nói câu này. Không cần lâu tôi đã nhận ra ngay là công bố bài báo khoa học quan trọng hơn luận án. 

Hiện nay, các trường đại học Úc có 3 xu hướng chính về luận án tiến sĩ. Xu hướng thứ nhất mang tính cổ điển trong giới khoa học xã hội, mà theo đó nghiên cứu sinh viết một monograph vài trăm trang mà không công bố quốc tế.  Xu hướng thứ hai là nửa monograph, nửa papers. Theo xu hướng này, nghiên cứu sinh công bố vài bài báo khoa học và dùng đó như là những chương trong phần kết quả, cộng với những nghiên cứu chưa công bố làm thành một luận án. Xu hướng thứ ba là theo phong cách Bắc Âu, tức là nghiên cứu sinh tập hợp 4 bài (ít nhất là 3 bài) thành một luận án và đệ trình để bảo vệ. Xu hướng 2 và 3 là phổ biến nhất, đặc biệt là trong các ngành khoa học tự nhiên và y sinh học; còn xu hướng 1 thì chỉ tồn tại phần lớn trong các ngành “soft science”. Phần lớn những chính khách làm nghiên cứu xã hội học, và luận án của họ ít khi nào được công bố, nên dẫn đến tình trạng như hiện nay. 

Read more ...