Pages

Báo chí thời VNCH chỉ mùi mẫn, khiêu dâm?

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015
Báo chí thời VNCH không phải là nền báo chí tốt, nhưng tôi có thể nói rằng nền báo chí đó tốt hơn nền báo chí XHCN ngày nay. Là người từng sống qua hai chế độ, tôi có thể nói một cách khẳng định như thế. Nền báo chí đó không hoàn toàn giống như những gì bài báo dưới đây (1) miêu tả. Trong thực tế, báo chí trong thời VNCH phong phú hơn, tự do hơn, và đi trước khá xa nền báo chí XHCN.


Trước hết, báo chí thời VNCH tự do hơn hơn báo chí thời XHCN. Bây giờ nhìn lại, tôi thấy nền báo chí VNCH có vẻ như mô phỏng theo nền báo chí phương Tây như Mĩ chẳng hạn. Những cái tên lừng danh một thời mà tôi còn nhớ là Trắng Đen, Tin Sáng, Tia Sáng, Đuốc Nhà Nam, Điện Tín, Chính Luận, Tiền Tuyến, Sài Gòn Mới, Tự Do, Ngôn Luận, Công Luận, Sống Thần, Rạng Đông, v.v. Tôi có kỉ niệm với Trắng Đen vì hồi đó (thời còn trung học) tôi đánh bạo viết bài gửi cho báo và … họ đăng. Tôi nhớ đó là bài tôi viết ca ngợi phong cảnh quê hương nhân chuyến đi picnic ở Hà Tiên. Bây giờ đọc lại chắc tức cười lắm, chắc kiểu như “nhập bài, thân bài và kết luận” và chắc nhiều sáo ngữ lắm. Người trẻ tuổi hay có tính khoe chữ mình mới học, và tôi cũng chẳng phải là một ngoại lệ.

Đặc điểm tuyệt vời nhất của VNCH là tư nhân và các nhóm dân sự không thuộc chính quyền có quyền sáng lập và điều hành báo. Còn thời nay thì chúng ta biết rằng tư nhân không được phép ra báo, và vì thế, báo chí chỉ là tiếng nói của đảng và Nhà nước mà thôi. Cái hay của báo chí VNCH là nó phản ảnh được tiếng nói của người dân đủ quan điểm và thành phần. Chính quyền cũng có báo của họ, và họ cũng tuyên truyền (nhưng không nhồi sọ như ngoài Bắc). Ngay cả những người "thân cộng" (có cảm tình với phía cách mạng) cũng được ra báo. Lại có những nhóm "thứ ba" (tức chẳng theo phe nào) cũng có quyền ra báo. Nhớ bà chủ bút một tờ báo thời đó nói với một kí giả nổi tiếng như sau: “Tôi chỉ đăng bài mà chị bán cá có đọc cũng hiểu. Cậu viết khó hiểu, người bình dân không đọc đâu”.

Nhưng quan trọng hơn hết là khá tự do về nội dung và thông tin. Thời đó, tôi nghĩ chắc cũng có kiểm duyệt, nhưng họ không làm theo kiểu “cầm tay chỉ việc” hay “xỏ mũi” như ngày nay. Nên nhớ là VNCH không có ban tuyên giáo chỉ đạo ai phải viết gì. Vì phần lớn báo chí là của tư nhân, nên họ cũng chẳng có nhiệm vụ tuyên truyền cho Nhà nước (thật ra, họ chỉ trích Nhà nước nhiều). Báo chí thời đó, dù là của chính quyền, chưa bao giờ thần thánh hoá lãnh tụ. Ngược lại, thời đó giới báo chí có thể chỉ trích chính quyền thoải mái, thậm chí trêu chọc những người có chức quyền cao nhất như tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và các bộ trưởng. Có những cột báo phiếm luận như “Ao thả vịt”, “Thơ đen”, mà tác giả viết rất “ác”, thu hút biết bao độc giả. Họ còn gọi tổng thống là "tông tông"! Có những biếm hoạ về tổng thống Thiệu rất vui. Họ phanh phui đời sống tình ái của ông Thiệu và một cô ca sĩ (mà sau này mới biết là toàn chuyện ... tào lao). Họ còn đặt “hỗn danh” cho ông Thiệu nữa chứ. Vậy mà ông Thiệu chẳng làm được gì họ.

Báo chí miền Nam trước 1975 có thể nói là nền báo chí chống tham nhũng. Hầu như báo nào, từ của Nhà nước đến của đoàn thể xã hội và tư nhân, đều có những mục chống tham nhũng. Chống hết năm này sang năm khác. Họ nêu đích danh những ông tướng tá, những quan chức trong chính quyền với những chứng cứ cụ thể, chứ không úp úp mở mở như hiện nay. Thành ra, ngày xưa, những kẻ tham nhũng rất sợ báo chí, còn quan chức tham nhũng ngày nay có vẻ xem thường giới báo chí. Kí giả ngày xưa còn có quyền biểu tình, chứ kí giả ngày nay thì làm sao dám biểu tình.

Báo chí thời VNCH phong phú hơn thời XHCN. Ngoài những mục thời sự - chính trị - xã hội, báo chí thời đó còn có nhiều mục hấp dẫn khác dành cho mọi giới trong xã hội. Từ truyện dài, văn nghệ, văn hoá, đến phiếm luận, tất tần tật đều có. Tôi nghĩ báo chí miền Nam thời trước 1975, cũng như văn nghệ, đáp ứng được nhu cầu của giới trí thức và bình dân. Có một điều chắc chắn là báo chí thời đó không ngại nói Tàu cộng đích danh, chứ không hèn theo kiểu “tàu lạ”. Khi trận hải chiến giữa VNCH và Tàu xảy ra, báo chí đưa tin rất đều và đầy đủ. Tôi nhớ có một bản tin nói rằng khi phía VNCH đề nghị chính phủ ngoài Bắc lên án Tàu cộng thì phía VNDCCH từ chối.

Những gì bài báo dưới đây (1) đề cập là có phần đúng. Những bài báo giật gân, những truyện dài kiếm hiệp của Kim Dung, những truyện tình ướt át, v.v. tất cả đều đúng. Tuy nhiên, báo chí thời đó không có những "chuyện ấy" tràn lan như báo chí ngày nay. Còn "khiêu dâm" hay không thì còn tuỳ thuộc vào trình độ văn hoá cảm nhận của cá nhân. Truyện của Lê Xuyên có thời bị xem là "dâm thư", nhưng bây giờ thì thấy rất bình thường. Nhưng như tôi nói đó là sự phong phú của báo chí, và nó đáp ứng nhu cầu của nhiều thành phần xã hội. Nền báo chí VNCH dứt khoát có tự do ngôn luận hơn và phản ảnh tiếng nói của quần chúng hơn nền báo chí XHCN. Điều đó thì không có gì phải bàn cãi. Thật ra, tất cả những gì xấu xa mà tác giả chỉ trích và mỉa mai trong bài (1) cũng đang được nền báo chí XHCN ngày nay bắt chước (dù bắt chước chưa tốt mấy), và điều này giống y chang như là ngửa mặt lên trời phun nước miếng.

Nghĩ thật trớ trêu: một nền báo chí bị xếp hạng tự do 174/180 (2), đứng chung với những nước "đầu trâu mặt ngựa" như Tàu, Bắc Hàn, Somalia, Syria, Turkmenistan. Eritrea, v.v. mà chê bai một nền báo chí tự do hơn mình! Nhưng cũng có thể người viết phải viết như thế để có dịp gửi một thông điệp về tự do báo chí đến bạn đọc, và như thế thì là một việc đáng phục.

====
(1) http://laodong.com.vn/xa-hoi/bao-chi-sai-gon-truoc-nam-1975-loi-keo-doc-gia-bang-nhung-chuyen-tinh-mui-man-kiem-hiep-dam-o-340054.bld

(2) http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2014/02/140213_press_freedom_index_2014

Read more ...

Vạ miệng: Giáo sư từ chức

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2015
Tim Hunt là một giáo sư nổi tiếng, nay đã 72 tuổi, từng đoạt giải Nobel y khoa năm 2001, nhưng chỉ vì một câu nói vô duyên và kì thị giới tính mà nay bị mang tiếng xấu. Ông nói rằng nữ giới và nam giới nên cách li trong môi trường nghiên cứu khoa học, vì nữ giới hay yếu đuối, ướt át, và làm cho nam giới sao lãng công việc. Chỉ một câu nhận xét như thế mà làm dậy sóng dư luận, và nhiều người yêu cầu ông từ chức. Thật ra, ông cũng biết thân, nên đã từ chức giáo sư danh dự của University College London (UCL). Đúng là vạ miệng!


Trong một hội nghị về truyền thông khoa học (World Conference of Science Journalists) ở Hàn Quốc vào tuần qua, ông nói trước cử toạ rằng "Tôi muốn nói với các bạn vấn đề của các nàng. Ba điều xảy ra khi họ ở trong lab: bạn phải lòng với họ, họ phải lòng với bạn, và khi bị phê bình họ khóc" (1). Theo những người có mặt trong hội nghị thì sau câu phát biểu đó, cả hội trường im lặng lạnh như đá, nhưng chỉ vài phút sau thì các trang mạng xã hội như twitter dậy sóng. Một giảng viên nữ thuộc Đại học City (London) viết rằng Tim Hunt nghĩ rằng chúng ta (ý nói nữ giới) vẫn sống trong thời đại Victoria. Đến thứ Tư tuần qua thì ông tự đệ đơn từ chức Giáo sư danh dự của UCL.

Trong một bài trên The Guardian, Tim Hunt có thanh minh câu nói đó. Ông thú nhận là có thốt lên câu đó, nhưng không có ý xấu. Tuy nhiên, ông nói thế nào thì lời nói đã thốt ra và đi vào "record". Tôi không rõ ông ấy nói đùa hay thật, vì nhà khoa học hay nói đùa trong hội nghị. Nhưng nếu đùa mà chọn chủ đề này là quá nhạy cảm. Đó là chưa nói chính ông cũng thú nhận là ông nổi tiếng là một gã ma cô trong khoa học. Những câu như thế chẳng giúp gì cho ông cả. Thật ra, trước đây cũng đã có hai người nổi tiếng khác bị vạ miệng vì đề cập đến nữ giới. Một người là hiệu trưởng Đại học Harvard mà sau này cũng từ chức. Một ông khác, cũng từng đoạt giải Nobel, so sánh các nhà báo nữ và nam khi viết về khoa học; ông này cũng bị chỉ trích dữ dội.

Tôi có vài nghiên cứu sinh là nữ, và cũng từng chứng kiến họ khóc. Kinh nghiệm làm tôi sốc là một em nghiên cứu sinh người Tàu tên là MC, một hôm em ấy nhận được lá thư từ chối từ ban biên tập với những phê bình khá nặng nề, rồi em ấy ... khóc. Lúc đó, tôi lúng túng không biết làm gì vì mình chưa chuẩn bị cho tình huống này. Vỗ vai thì không dám, nên tôi chỉ biết khuyên chung chung. Sau này, người ta bắt tôi phải đi học một khoá về cách quản lí nữ nhân viên. Nhưng tôi không đồng ý với ông Hunt là cần phải cách li họ với nam đồng nghiệp. Đúng là có những mối tình nảy nở trong lab, nhưng tôi thấy kết cục đều rất có hậu, chứ không làm sao lãng công việc.

Thật ra, những gì ông Hunt nói phản ảnh một vấn đề lớn hơn trong khoa học: bình đẳng nam nữ. Nói trắng ra là nữ giới chịu nhiều thiệt thòi trong khoa học hơn nam giới. Bạn thử tưởng tượng, một em nghiên cứu sinh 23-24 tuổi (tức trong độ tuổi lập gia đình), sau khi xong tiến sĩ ở tuổi 28 (ở VN xem là "già" rồi), và qua một giai đoạn hậu tiến sĩ thì đã quá 30 tuổi. Nhiều người đã có gia đình lúc đó. Sau giai đoạn hậu tiến sĩ, họ phải cạnh tranh với nam giới để được thăng tiến trong các nấc thang khoa bảng, nhưng cạnh tranh ở thế bất lợi hơn vì họ phải lo cho con cái và "đấng" ông chồng, và đủ thứ công việc không tên. Với vị thế như vậy, làm sao họ có thể cạnh tranh trong việc nghiên cứu, công bố, hội nghị, tạo uy danh so với nam giới? Do đó, không ngạc nhiên khi thấy trong số những người leo đến chức danh "giáo sư" rất ít nữ giới.

Đó là kinh nghiệm thực tế tôi thấy trong trường của tôi, và tôi nghĩ ở VN tình hình có khi còn tồi tệ hơn. Trong mấy lần phong chức danh giáo sư ở VN, tôi thấy số ứng viên nữ giới chỉ đếm đầu ngón tay. Càng lên cao bậc thang khoa bảng, nữ giới rơi rụng càng nhiều. Dĩ nhiên, không phải họ dở hay bất tài; sự thật là họ phải cạnh tranh trong tư thế có 1 tay (vì tay kia lo cho gia đình, con cái). Vấn đề là mình phải làm gì để nâng cao sự bình đẳng nam nữ trong khoa bảng. Ở vài nơi, người ta có hẳn chính sách để khuyến khích nữ giới tham gia khoa học và công nghệ, nhưng theo tôi biết thì vẫn chưa mấy thành công.


===

(1) http://www.buzzfeed.com/catferguson/nobel-prize-winner-is-a-sexist

(2) http://www.theguardian.com/science/2015/jun/13/tim-hunt-hung-out-to-dry-interview-mary-collins



Read more ...

Giới trẻ Việt Nam tin blog hơn tin Nhà nước

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015
Công ti Gallup mới công bố một kết quả khảo sát (hay cũng có thể xem là trưng cầu dân ý) ở VN rất thú vị. Gần 60% người Việt cho rằng các trang blog cá nhân đáng tin cậy hơn là các cơ quan truyền thông của Nhà nước (1). Ngoài ra, Biển Đông là vấn đề được giới trẻ VN quan tâm nhất, và 60% giới trẻ đồng ý rằng các nước phương Tây nên giúp VN giải quyết vấn đề Biển Đông.


Cuộc khảo sát được thực hiện trong thời gian 1/2015 đến 3/2015 trên 3000 người tuổi 15 trở lên, và họ được chọn ngẫu nhiên từ 63 tỉnh thành. Tỉ lệ người tham gia (response rate) là 71%.

Khi được hỏi hiện nay đời sống có khá hơn trước đây hay không, thì 64% trả lời là khá hơn. Tỉ lệ “khá hơn” ở người trẻ (15 – 34 tuổi) là 73%. Tuy nhiên, nghèo đói vẫn còn là một mối đe doạ. Trong 12 tháng qua, có 28% cho biết họ không có đủ tiền để mua thực phẩm. Tỉ lệ người không đủ tiền mua thực phẩm ở vùng quê lên đến gần 1/3.

Gần 98% hộ gia đình sở hữu TV, và 93% có điện thoại di động. Một phần ba hộ gia đình có máy tính, và tỉ lệ nối mạng là 43%. Khoảng 6% hộ gia đình có iPad hay máy tính bảng.

Với tỉ lệ sở hữu TV, không ngạc nhiên khi thấy 97% hộ gia đình thu nhận tin tức từ TV, chủ yếu là VTV. Tuy nhiên, gần 40% hộ gia đình cho biết họ đọc tin tức trên mạng. Khoảng 79% giới trẻ (15-24 tuổi) truy cập mạng trong tuần qua, và họ truy cập Google (71%), Facebook (73%), và Youtube (60%).

Ở giới trẻ, khi được hỏi 3 vấn đề họ quan tâm nhất hiện nay là gì thì trả lời là:

(a) Tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Tàu cộng: 17%
(b) Vấn đề môi trường và môi sinh: 12%
(c) Tội phạm: 10%

Ngoài ra, các vấn đề nổi cộm khác cũng được quan tâm là giáo dục (9%) và thất nghiệp (8%). Chỉ có 2% quan tâm đến tham nhũng!

Khi được hỏi bạn có đồng ý với ý kiến rằng “Các quốc gia phương Tây nên giúp đỡ giải quyết vấn đề Biển Đông” thì 60% đồng ý. Ngoài ra, có 30% người được hỏi nghĩ rằng sự trỗ dậy về kinh tế của Tàu cộng là không tốt cho kinh tế vùng Đông Nam Á.
Nhưng thú vị nhất là khi được hỏi “các trang blog cá nhân đáng tin tưởng hơn các bản tin chính thống” thì 60% người trẻ đồng ý. Khoảng 38% những người trẻ này cũng nghĩ rằng thông tin của các cơ quan thông tấn nước ngoài về VN là không đáng tin cậy. Phần lớn (73%) người trẻ ở VN nghĩ rằng giới truyền thông VN nên trình bày đất nước và con người Việt tích cực hơn.

Tóm lại, các kết quả khảo sát trên đây cho thấy đại đa số người Việt sở hữu TV, và đa số giới trẻ sở hữu điện thoại di động và có truy cập internet. Nhưng dù VTV là nguồn tin chính của người dân, có đến 60% tin vào các trang blog cá nhân hơn là nguồn tính chính thống của Nhà nước. Dù Biển Đông là vấn đề nóng đối với giới trẻ, nhưng chưa đầy 20% quan tâm! Giới trẻ VN có vẻ thụ động khi họ đồng ý để vấn đề Biển Đông cho nước ngoài giải quyết (nhưng đây có lẽ chưa phải là kết quả tốt vì cách đặt câu hỏi mang tính “nhét chữ vào miệng”).

===


Bản báo cáo PowerPoint có thể download từ đây:

Read more ...

Khi niềm tin vào khoa học bị sứt mẻ

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015
Những câu chuyện về gian dối trong khoa học càng ngày càng nhiều trên báo chí đại chúng. Xì căng đan mới nhất trong lĩnh vực khoa học xã hội, mà "diễn viên" là Michael LaCour, nghiên cứu sinh tiến sĩ chính trị học thuộc đại học UCLA, và Donald Green, giáo sư chính trị học thuộc Đại học Columbia. Cả hai đại học đều thuộc đẳng cấp elite trên thế giới. Kịch bản trong xì căng đan này khá là kinh điển: Giả tạo dữ liệu. Nhưng ở đây, sự việc thu hút công chúng vì bài báo đăng trên tập san lừng danh Science.


Trong một bài báo có tựa đề "When contact changes minds: An experiment on transmission of support for gay equality" được công bố trên Science ngày 12/12/2014 (nhưng nay đã rút xuống), tác giả báo cáo rằng họ làm một survey và một nghiên cứu RCT (randomized controlled trial), tức là một dạng nghiên cứu rất khó thực hiện. Kết quả cho thấy chỉ cần tiêu ra khoảng 20 phút đàm đạo với một người đồng tính luyến ái sẽ làm cho những người phản đối hôn nhân đồng tính thay đổi ý kiến và có cảm tình với hôn nhân đồng tính hơn (1).

Ý nghĩa của nghiên cứu này rất lớn, vì nó ám chỉ rằng chỉ cần trực tiếp đối thoại thì những khác biệt về ý thức hệ hay thù hận có thể hoá giải. Nghiên cứu trở thành một "top hit" trong giới khoa học xã hội.

Thế nhưng sau khi bài báo được công bố, nhiều nhà nghiên cứu cố gắng lặp lại nghiên cứu của LaCour và Green, nhưng tất cả đều thất bại. Trong khoa học, một khi kết quả nghiên cứu không được tái thiết lập, thì đó chính là một tín hiệu xấu đã xảy ra. Thật ra là họ đã hoài công, vì LaCour có nghiên cứu gì đâu; anh ta phịa toàn bộ dữ liệu!

Sau khi bài báo công bố khoảng 5 tháng, các tác giả David Broockman, Joshua Kalla, và Peter Aronow dùng các phương pháp thống kê hết sức đơn giản chứng minh rằng dữ liệu của LaCour và Green là "bất bình thường" (2). Các bạn có thể đọc bài phân tích này, và có thể thử ngay vì tác giả cung cấp toàn bộ mã R để lặp lại phân tích của tác giả.

Khi nhóm tác giả Broockman, Kalla, và Aronow trình bày kết quả phân tích cho Gs Donald Green (đồng tác giả bài báo), Green sốc. Lập tức, Gs Green viết thư cho Science đề nghị rút lại bài báo. Trả lời báo chí, Green biện minh rằng ông ta chỉ đóng góp viết bài báo khoa học chứ không có dính dáng vào công trình nghiên cứu! Green còn nói ông thoạt đầu cũng nghi ngờ kết quả vì thấy nó quá tốt, nhưng sau khi LaCour lặp lại kết quả qua một nghiên cứu khác thì ông yên tâm. Nhưng Green không biết rằng cái nghiên cứu thứ 2 mà LaCour lặp lại cũng là phịa, như nhóm giả Broockman, Kalla, và Aronow chứng minh một cách thuyết phục.

Vai trò của Gs Donald Green rất quan trọng. Dù ông không có tham gia vào công trình của LaCour, nhưng vì ông có uy danh rất lớn, nên LaCour có cơ hội xuất hiện trên Science. Thật vậy, ban biên tập Science cho rằng nếu bài báo chỉ có LaCour (vốn là "vô danh") thì bài báo đã bị từ chối ngay từ đầu. Nhưng vì có tên của Green nên bài báo đột nhiên tăng trọng lượng, và xuất hiện trên Science. Thú nhận của Science càng làm cho giới khoa học nghi ngờ tính công minh trong khoa học. Hoá ra, "thương hiệu" cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng khả năng bài báo được chấp nhận.

Phải công nhận là LaCour thông minh. LaCour có thể giả tạo dữ liệu và qua mặt những chuyên gia bình duyệt. Khi Gs Green gọi điện cho giáo sư hướng dẫn luận án của LaCour ở UCLA để yêu câu LaCour trình bày dữ liệu gốc, nhưng LaCour không chịu tiết lộ dữ liệu. Cho đến nay, chưa ai biết LaCour giả tạo như thế nào, vì anh ta chưa tiết lộ. LaCour hứa là sẽ trả lời những cáo buộc chống anh ta và sẽ minh bạch tất cả.

Chẳng những giả tạo dữ liệu, LaCour còn phịa luôn những thông tin "bên lề" trong bài báo. Chẳng hạn như bài báo viết rằng các tác giả trả tiền mặt để khuyến khích đối tượng tham gia vào công trình nghiên cứu, nhưng trong thực tế luật sư của LaCour cho biết chẳng có trả tiền nào cả! Thêm nữa, bài báo cảm tạ một số nhà tài trợ, nhưng theo luật sư của LaCour thì phát biểu đó cũng không đúng, chẳng có ai tài trợ cả (vì có nghiên cứu đâu mà tài trợ!) LaCour đưa những tên cơ quan tài trợ như là một cách nâng cao tính hợp lí của bài báo.

Trước LaCour đã có rất nhiều trường hợp tai tiếng trên thế giới. Có lẽ tai tiếng trong giới khoa học xã hội nhất là một giáo sư Diederik Alexander Stapel, từng là một ngôi sao đang lên trong lĩnh vực tâm lí xã hội học ở Hà Lan. Stapel công bố một bài báo cũng trên tập san Science, mà trong đó ông báo cáo rằng sự kì thị chủng tộc hay xảy ra trong môi trường "slum". Nhưng không lâu sau đó, người ta phát hiện tất cả dữ liệu trong bài báo chỉ là giả tạo, chứ Stapel chẳng có nghiên cứu gì cả (3). Thật ra, người ta còn nghi ngờ hàng chục công trình khác, hay cả luận án tiến sĩ, của ông cũng là giả tạo. Có thể nói rằng Stapel đã xây dựng sự nghiệp từ giả tạo. Điều đáng chú ý là khi báo chí hỏi tại sao ông gian dối thì ông tỏ ra thành khẩn và nói rằng vì ông muốn thế giới dễ thương hơn, thân thiện hơn, ít kì thị hơn nên ông ... giả tạo nghiên cứu!

Khoa học dựa vào sự tin tưởng. Chuyên gia bình duyệt tin tưởng tác giả. Ban biên tập tin tưởng vào các chuyên gia bình duyệt. Công chúng đặt niềm tin vào nhà khoa học. Một khi sự tin tưởng bị sứt mẻ, thì nền tảng của khoa học cũng lung lay. Cái tội hiển nhiên của LaCour dĩ nhiên là giả tạo dữ liệu, nhưng hành động đó còn làm phí công và tiền bạc của nhiều nhóm khác trên thế giới cố gắng lặp lại nghiên cứu của anh ta. Hành động của anh ta làm cho niềm tin vào khoa học của công chúng bị suy giảm, và đó mới là trọng tội.

Nhưng nhìn người lại ngẫm đến ta. Ở nước ta chắc chắn cũng có tình trạng nguỵ tạo dữ liệu, dù chưa xuất hiện trên báo chí như ở Mĩ, vì chủ yếu là đăng trên các tập san trong nước với rất ít độc giả. Những câu chuyện do nghiên cứu sinh kể lại thì rất nhiều, từ giả tạo dữ liệu, chỉnh sửa dữ liệu theo ý của thầy cô, chỉnh sửa kết quả phân tích (vì họ biết rằng chẳng ai kiểm tra mã nguồn phân tích), v.v. tất cả đều có. Vì các đại học VN không có cơ chế để kiểm tra nghiên cứu, nên những gian dối được che khuất và chẳng ai quan tâm. Có trường hợp làm tôi sốc khi tôi hỏi dữ liệu gốc đâu (như scan gốc của bệnh nhân) thì người ta thản nhiên nói huỷ bỏ hết rồi! Người nói câu đó không hề hối tiếc, giống như một kẻ tội phạm không hề biết mình phạm tội. Tôi bị sốc, nhưng nghĩ lại thì do cái văn hoá khoa học chưa được chỉnh chu nên mới như thế. Ở VN cũng có nhiều LaCour, nhưng họ chưa được phát hiện mà thôi.

Kì rồi, trong cái workshop về phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội, một vài em nghiên cứu cho biết nghiên cứu về kinh tế họ thường dựa vào dữ liệu của Nhà nước, nhưng ngay cả những người làm nghiên cứu không tin vào dữ liệu đó (do tình trạng "báo cáo láo" và bệnh thành tích). Thật ra, ngay cả ngài thủ tướng còn tỏ ra nghi ngờ dữ liệu của Nhà nước, thì nói gì đến nhà khoa học!

====



(4) Tin mới nhất LaCour đã có bài trả lời, nhưng anh ta vẫn không trả lời tại sao nguỵ tạo dữ liệu:

Read more ...

Tập san Asian Social Science

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015
Phân biệt một tập san là thật hay dỏm có khi rất tinh vi. Một người bạn ở VN nhờ tôi đánh giá xem tập san Asian Social Science là thật hay dỏm. Lí do là có vài giảng viên ở VN đã và đang đăng bài trên tập san này. Các chuyên gia, kể cả một người ở Úc, nói rằng đây là tập san thật vì có trong cái danh sách ABDC của Úc. Sau khi xem qua website và vài chi tiết chính, tôi nghĩ Asian Social Sciencelà một tập san dỏm, hay ít nhất là gần nhất với dỏm. Tôi đi đến kết luận này là dựa trên những xem xét sau đây:



1. Tên tập san rất chung chung, chẳng có gì chuyên ngành. Tên này giống giống với Asian Journal of Social Science, vốn là tập san chính thống. Tên tập san chung chung và nhái tên tập san chính thống là một đặc điểm của các tập san dỏm (1).

2. Tập san này không có trong ISI, tuy có trong Scopus. Nhiều tập san trong Scopus là dỏm. Ngay cả một số tập san ISI cũng dỏm, nhưng xác suất dỏm trong ISI thấp hơn trong Scopus.

3. Tổng biên tập I-Tsun Chiang là người không có tiếng. Ông đề địa chỉ là National Changhua University of Education, nhưng trang web của trường không có tên của ông, không có website cá nhân của ông. Tuy nhiên, tìm trên linkedin thì thấy ông tốt nghiệp về ngành thể thao và y tế, và có bằng PhD về "Leisure Behavior" (2). Thành tích công bố quốc tế của ông không rõ.

4. Ban biên tập rất lôm côm. Tập san chuyên ngành thường rất chọn lọc ban biên tập, chỉ có những người có chuyên môn cao và danh tiếng trong ngành mới được chọn/mời vào ban biên tập. Nhưng Asian Social Science thì có một danh sách dài ban biên tập. Trong đó có người mới là nghiên cứu sinh ở VN mà cũng có tên trong ban biên tập! Ngoài ra, còn có nhiều người trong ban biên tập không có công bố quốc tế và địa chỉ đại học rất lạ. Nói chung, đây là tín hiệu cho thấy tập san không nghiêm chỉnh.

5. Nhìn qua nhiều bài báo công bố thấy toàn là từ những nước đang phát triển. Trong đó, có một số bài từ Việt Nam. Đại đa số những bài công bố được chấp nhận chỉ sau 4 tuần sau khi nộp bài! Có khá nhiều bài mà họ nhận trong vòng 2 tuần. Rất nhiều bài mà tiếng Anh trong bài báo cũng không chuẩn. Không có một tập san nghiêm chỉnh nào mà có thời gian nhanh như thế. Ngay cả bình duyệt có thể đã lên đến 2-3 tháng. Đây là một tín hiệu khác cho thấy tập san này là loại làm tiền, chứ không vì khoa học.

6. Nhà xuất bản ccsenet.org được xếp vào nhóm "Potential, possible, or probable predatory scholarly open-access publishers" (3). Website này đăng kí ở Mĩ, nhưng lại nói là địa chỉ ở Canada. Như thế là không minh bạch. Ngoài tạp chí Asian Social Science, ccsenet.org còn có hàng tá tạp chí khác mà không được công nhận trong chuyên ngành.

Khi kiểm tra trong danh sách ABDC của Úc (4) thì có liệt kê Asian Social Science là tập san hạng C. Cần nói thêm rằng ABDC có nghĩa là Australian Business Deans Council - là một nhóm các khoa trưởng khoa kinh tế của các đại học Úc. Nhưng tìm trong danh sách "quality journals" trên harzing.com (5) thì Asian Social Science không có trong danh sách. Tôi đoán rằng danh sách ABDC của Úc có vấn đề (vì có thể ngay cả những người xếp nó vào loại "quality journals" cũng dỏm).

Tóm lại, các tín hiệu trên đây cho thấy khả năng cực kì cao là Asian Social Science là một tập san dỏm do một "nhà xuất bản" làm tiền ấn hành. Cho dù nó có trong danh sách ABDC của Úc thì cũng không nên tin vào danh sách này. Chỉ cần nhìn qua các tác giả từ những đại học không có tiếng công bố trên tập san cũng nói cho chúng ta biết rằng không nên dan díu vào đó (đừng quên câu "gần mực thì đen, gần đèn thì sáng"). Tôi đề nghị các viện và đại học Việt Nam không công nhận những bài công bố trên tập san này. Cách tốt nhất là các nhà khoa học Việt Nam tránh xa những tập san như Asian Social Science.

Tôi nói thêm là tôi đã gửi thư cho ABDC để cảnh báo họ về Asian Social Science, và cho rằng họ đã sai lầm khi công nhận tập san này là hạng C. Điều này càng cho thấy cái danh sách ABDC của họ không được đánh giá cao. 

Các tập san dỏm thường hay gửi email (như spam) để mời bất cứ ai tham gia như là thành viên của ban biên tập. Do đó, nếu ai đó không tự biết mình mà hám danh thì ok ngay. Còn các tập san nghiêm chỉnh, họ không bao giờ làm thế, mà mỗi hai năm họ mời các chuyên gia danh tiếng trong chuyên ngành làm thành viên ban biên tập. 

Để chắc ăn, tôi đã hỏi ý kiến của một chuyên gia về các tập san OA là Jeffrey Ball (người lập danh sách các tập san dỏm, rất nổi tiếng trong giới khoa học). Ông Ball cũng đồng ý với tôi là Asian Social Science là một loại tập san predatory. Trong thư viết cho tôi, ông Ball viết nếu ABCD (hội đồng khoa trưởng khoa kinh tế của Úc) công nhận tập san này thì đó là một sai lầm. Tôi cũng nghĩ đó là một sai lầm, và sai lầm này làm giảm giá trị của cái danh sách đó và giảm uy tín của cái hội đồng đó.

===

(1) http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/2014/11/tieu-chi-e-nhan-dang-tap-san-khoa-hoc.html

(2) https://tw.linkedin.com/pub/john-i-tsun-chiang/6/143/7b3

(3) Xem danh sách ở đây: http://scholarlyoa.com/2014/01/02/list-of-predatory-publishers-2014

(4) http://www.abdc.edu.au/pages/abdc-journal-quality-list-2013.html

(5) http://www.harzing.com/download/jql_journal.pdf



Read more ...