Pages

Một lời khen và nhiều câu hỏi

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015
Mấy hôm trước, tôi gặp sếp để báo cho ông ấy biết là tôi sắp thu nhận một em nghiên cứu sinh hạng siêu sao. Em này mới tốt nghiệp cử nhân 3 năm những đã có hơn 50 bài báo khoa học trên các tập san khoa học tốt trong thời gian sau khi tốt nghiệp, và danh sách giải thưởng hơn nửa trang A4!  Một thành tích mà ngay cả phó giáo sư và giáo sư ở Việt Nam cũng khó có. Những trao đổi giữa ông sếp và tôi để lại một dư âm đẹp, nhưng cũng nảy sinh nhiều câu hỏi.


Tôi gặp sếp và đưa cho ông cái lí lịch (CV) rồi nói rằng "Có một đứa đang là sinh viên trường y muốn đầu quân. Thành tích của nó rất tốt và tôi muốn nhận nó về lab". Ông chưa đọc cái CV mà chỉ hỏi tôi ngắn gọn "Thế anh có xem qua địa chỉ trước đây của nó chưa?" Tôi biết tính sếp là dân elite và thích đi thẳng vào vấn đề. Ông từng tuyên bố một câu rất "hách" khi nhậm chức viện trưởng rằng: nếu quí vị ngồi ở đây và không cảm thấy mình là elite thì nên suy nghĩ có nên tiếp tục ở đây hay không. Biết thế, nên tôi nói cũng ngắn gọn: "Có, tôi xem rồi. Địa chỉ tốt. G8, RPA, VCCRI" (1). Ổng hỏi tiếp "Thế nó làm ăn ra sao?" Tôi nói: HSC 99.95, công bố 57 bài trong 3 năm". Ổng trố mắt hỏi nửa đùa nửa thật: "Hả! Cái gì? 57 bài trong 3 năm? Anh có hỏi nó có ngủ không? Mà tập san loại gì?" Tôi nói đùa: "Chắc nó có ngủ chứ, nhưng ngủ ít hơn bọn mình. Tập san nói chung rất ok, top trong ngành". Ổng chỉ phán một câu "Vậy thì chờ gì nữa mà không tóm lấy nó?" Tôi hài lòng nói: "Ừ, thì tôi đang nói cho ông biết nè. OK, tôi sẽ bắt nó ngay."

Sau đó, ông đọc lướt qua cái CV, rồi tự dưng ông nói với tôi: "Anh biết không, tôi đã từng làm việc với 3 người Việt Nam, ai cũng outstanding cả." Thú thật, tôi mà nghe mấy câu loại này, tôi nghi ngờ ngay (chưa bao giờ tôi tự hào vì cái kiểu khen mà tôi cho là trịch thượng đó). Tôi muốn nghĩ rằng họ chỉ nói ngoại giao, nhất là trước mặt tôi, mà cái họ là ai cũng biết là người Việt Nam. Do đó, tôi lạnh lùng nói lại: Tôi thì thấy bọn họ cũng tầm thường thôi. Ổng có vẻ khó chịu và nói: Đó là nhận xét của anh, tôi chỉ nói cho anh biết rằng tôi nhận xét họ là outstanding, và tôi nghĩ tôi không sai. Nếu 1 người mà outstanding thì tôi nghĩ có thể là ngẫu nhiên hay tình cờ (lâu lâu vớ được một người giỏi), nhưng cả 3 người mà ổng khen như thế thì có lẽ không phải ngẫu nhiên. Mà, ông này là dân elite, chứ không phải hạng tầm thường. Sếp nói khẳng định như thế, thì tôi cũng không muốn nói gì thêm. Thôi thì cứ xem như là một lời khen thật lòng.

Nhưng lời khen ngợi đó lại làm tôi tự đặt câu hỏi muôn đời mà chúng ta vẫn hỏi: nếu người mình tài giỏi như thế thì tại sao Việt Nam mình vẫn còn nghèo? Ngày nào chúng ta tự hào là "đàn anh" của Lào và Kampuchea, nay thì hai nước đó đang có cơ vượt qua mặt chúng ta (2). Ngày nào, chúng ta gọi mấy nước trong vùng là "mọi", vậy mà ngày nay họ nhìn mình như là bọn ăn mài mãn tính, và lúc nào họ cũng nhìn chúng ta như là những kẻ có tiềm năng tội phạm. Ngay cả ông Lý Quang Diệu mà cũng khen người Việt, và chính ông ấy cũng phê phán chính quyền đương thời không biết dùng nên họ bỏ nước ra đi. Như vậy, vấn đề hay câu trả lời là thuộc về Nhà nước.

Tại sao học sinh, sinh viên của mình chỉ "toả sáng" khi ra nước ngoài, chứ còn ở trong nước thì lu mờ? Trả lời mấy câu hỏi này đòi hỏi nhiều nghiên cứu và lí giải, và tôi không có ý định lí giải nó ở đây. Nhưng cái yếu tố hiển nhiên mà tôi nghĩ ai cũng thấy là do môi trường xã hội và giáo dục. Cũng là con người đó mà ở VN thì chẳng ngóc đầu lên nổi, nhưng ra ngoài thì lại sáng chói. Cũng là con người đó, mà nếu làm việc cho các tổ chức hay công ti nước ngoài thì tỏ ra rất thiện nghệ và lanh lẹ, nhưng khi làm cho Nhà nước thì ì ạch và ù lì thấy rõ. Rõ ràng đó là yếu tố môi trường chứ còn gì nữa.

Tôi chợt liên tưởng đến câu chuyện 30 thạc sĩ và thủ khoa nước ngoài thi rớt kì thi công chức ngoài Hà Nội. Sự kiện này làm cho nhiều người ngạc nhiên, và một vị quan chức thuộc Sở Nội vụ nói rằng "không phải cứ tốt nghiệp nước ngoài mới giỏi" (3). Tôi nghĩ ông ấy nói không sai; chỉ có vấn đề định nghĩa thế nào là "giỏi". Nếu lấy kì thi công chức ở Hà Nội là chuẩn để định nghĩa thế nào là giỏi thì rõ ràng những người tốt nghiệp ở nước ngoài, dù là thủ khoa, là … dở. Nhưng câu hỏi kế tiếp: thế nào là chuẩn? Không có bất cứ lí do gì để xem kì thi công chức ở Hà Nội là chuẩn cả. Muốn biết câu hỏi chuẩn hay không thì phải có những thẩm định khoa học vế tính hợp lí (validity) và tái lập (reliability) nghiêm chỉnh mới có thể nói được. Thử tưởng tượng một em cử nhân hay cao học / thạc sĩ tốt nghiệp ở nước ngoài, không hề học gì về chủ nghĩa Mác Lênin, không biết gì về lịch sử đảng, chẳng hiểu cách tính và định nghĩa "thất nghiệp" ở Việt Nam, v.v. thì làm sao các em ấy có thể qua nổi kì thi tuyển công chức ở Việt Nam. Tôi đã nhìn qua các đề thi (môn toán và khoa học) tốt nghiệp trung học phổ thông ở Việt Nam và nghĩ rằng đó là những câu hỏi mang tính đố, chứ không hẳn là kiểm tra trình độ. Tôi nghĩ đa số các học sinh xuất sắc của Úc sẽ rớt kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông ở Việt Nam (nhưng điều đó không có nghĩa là học sinh Úc dở). Nếu một kì thi tuyển mà có đến 30 người, kể cả thủ khoa ở nước ngoài rớt thì phải xem lại nội dung kì thi đó, chứ không phải dùng đó để đánh giá người ta.

Môi trường lúc nào cũng quan trọng. Chúng ta đã thấy những tấm gương người tị nạn bên Mĩ "toả sáng" trong giáo dục và khoa học như thế nào. Có người ngày xưa làm nghề bán thuốc lá và đạp xích lô mà trở thành giáo sư đại học và tiến sĩ. Do đó, gen chỉ là tố chất, và tố chất thì phải có môi trường mới phát huy được. Ở Việt Nam, có khái niệm "qui hoạch" nhân sự rất lạ lùng (ngay cả chữ "qui hoạch" đã là làm mất nhân tính của vấn đề), vì tài năng không được xem quan trọng bằng những yếu tố khác như "hồng" và quan hệ. Thế mới có câu "nhất thân, nhì thế, tam quyền, tứ chế". Trong cái môi trường đó thì làm sao người tài nếu xuất thân từ thành phần thiếu thân-thế-quyền-chế có cơ hội đóng góp cho đất nước. Và, thế là đất nước tụt hậu như chúng ta đang chứng kiến. Mấy vị trong Chính phủ đều thấy và biết điều này, vậy mà họ chẳng làm gì cả. Thế mới ngạc nhiên! Có lẽ cũng do môi trường nên họ không thể làm gì được để xoay chuyển tình thế và tạo môi trường tốt cho người có tài.

====

(1) Những cái tên trường, viện danh tiếng của Úc, nói tắt hay nói "lóng".



Read more ...

Những chuyện cũ [thêm] đau lòng lắm người ơi

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015
Xin mượn một câu nhạc [sến] cũ để nói lên cảm tưởng nhân đọc vài thông tin chung quanh buổi hội thảo kỉ niệm 100 năm ngày sinh của học giả Nguyễn Đổng Chi. Thật ra, chỉ có hai chuyện thôi. Một chuyện liên quan đến tờ "giấy thông hành" của học giả, và một chuyện liên quan đến … Biển Đông.


Tuần vừa qua, ở Sài Gòn diễn ra một buổi hội thảo do Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học TPHCM, Tập đoàn Truyền thông Thanh Niên và NXB Trẻ đồng tổ chức (1). Đó là một việc làm đẹp và có ý nghĩa. Ông Nguyễn Đổng Chi, với cá nhân tôi, là một học giả nổi tiếng thời còn đi học. Gia đình tôi có một bộ sách do Ba tôi sưu tầm. Bộ sách gồm nhiều truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Thuỷ Hử, Hán Sở Tranh Hùng, v.v.. Đặc biệt là cuốn Kho Tàng Truyện Cổ Tích của Nguyễn Đổng Chi. Có thể nói tôi lớn lên với những truyện trong cuốn đó. Ngày ngày đi học về, tôi ngấu nghiến đọc những truyện trong đó và tha hồ .. tưởng tượng. Ôi, một thời thiếu niên thật thần tiên với những truyện con sam, sự tích cái chổi, ông bình vôi, cái chân con chó, v.v. Văn chương giản dị, nhân cách hoá sự vật làm cho mình rất gần với sự vật, cộng với minh hoạ (chỉ vẽ tay) làm cho cuốn sách là một cuốn không thể thiếu được trong tủ sách gia đình.

Vậy mà sau này tôi lại có duyên với gia đình ông. Chẳng nhớ cơ duyên nào mà tôi quen anh Nguyễn Huệ Chi. Nhớ hôm ghé thăm nhà anh Huệ Chi, tôi thấy ấn tượng ngay cái thư viện của ông, và đặc biệt nhiều sách và kỉ vật liên quan đến cụ Đổng Chi. Hỏi ra mới biết anh chính là con trai của ông cụ Đổng Chi! Qua sách báo, tôi loáng thoáng biết rằng trong thời Nhân văn Giai phẩm, ông cụ Đổng Chi cũng bị lọt vào dòng xoáy của cơn lốc dã man đó. Dưới áp lực của đảng, ông viết bài chỉ trích và vu khống cụ Phan Khôi, một học giả nổi tiếng khác. Nhưng cụ Đổng Chi là người đàng hoàng và nhà văn hoá lớn, nên ông có chối lại cho con trai (tức là Giáo sư Nguyễn Huệ Chi) giải oan cho cụ.

Thành ra, tôi thấy một hội thảo về đóng góp và sự nghiệp của một học giả đáng kính như thế là rất cần thiết. Nhưng những gì mà bạn bè kể lại thì hình như buổi hội thảo xảy ra với vài … lắt léo. Một người bạn (tạm gọi là HO) viết trên fb như sau:

“Để hội thảo có thể tiến hành được thì Ban tổ chức (Hội Văn học Nghệ thuật TPHCM, Nhà xb Trẻ, Tập đoàn truyền thông Thanh Niên) không được đăng tham luận của nhà văn Nguyên Ngọc vào kỷ yếu hội thảo, không được mời nhà văn Nguyên Ngọc; ông con Nguyễn Huệ Chi không được phát biểu cám ơn và những người tham dự hội thảo mà phải giao cho cô út, muốn trao đổi với các ý kiến tham luận thì đứng dưới hội trường chứ không được lên bục diễn giả, và nhiều chuyện khác ...”

Thật khó tưởng tượng nổi đến thế kỉ 21 mà vẫn còn những hành xử kém văn hoá như thế! Người bạn trên nói là “chuyện bên lề”, nhưng tôi thì thấy đó là chuyện quan trọng. Quan trọng là vì những câu chuyện như thế nói lên một sự thật là có những thế lực cố tình gây cản trở cho tự do học thuật. Và, thế lực này không từ bỏ một tiểu tiết nào, cho dù là rất thấp, để đạt được mục tiêu của họ. Do đó, không ngạc nhiên khi OA tự hỏi: “Nền tự do như vậy mà lại đi 'giải phóng' một nơi tự do khác”.

Học giả làm ruộng

Trong hội thảo có nhiều chứng từ và di bút về học giả Nguyễn Đổng Chi. Một trong những chứng từ tôi thấy rất "thú vị" là tờ “Giấy thông hành” cấp cho ông vào ngày 24/5/1955 (tức thời Cải cách ruộng đất). Tờ giấy ghi nghề nghiệp của ông là “làm ruộng”, nhưng phía dưới ghi mục đích của chuyến đi là “gặp Ban nghiên cứu Văn Sử Địa”. Vui thật! Một anh nông dân mà có việc gì phải đi gặp một cơ quan nghiên cứu?! Mà còn nghiên cứu văn sử địa!



Đọc qua thì thấy một kiểu "dấu đầu lòi đuôi", nhưng cũng có thể giải thích một cách khác có lẽ thích hợp hơn. Thời đó (Cải Cách Ruộng Đất), những người như cụ Nguyễn Đổng Chi dĩ nhiên được xem là thành phần trí thức, tức là nằm trong nhóm bị “Đào tận gốc, trốc tận rễ”. Cho nên, ông quan chức công an Hà Tĩnh mới thương tình cho ông cái nghề rất hiền lành là “làm ruộng” cho an toàn trên đường đi từ Hà Tĩnh ra Hà Nội. Nếu để là "học giả" thì chắc gì ông may mắn ra khỏi được Hà Tĩnh. Dù gì đi nữa thì cái tờ giấy thông hành là một chứng từ cho một thời tăm tối.

Tây Sa, Nam Sa

Trong buổi hội thảo còn có một chứng từ rất quan trọng nói lên tầm nhìn của quan chức VNDCCH thời đó. Nhưng trước khi nói về chứng từ đó, tôi nhắc lại là chúng ta -- người Việt -- gọi tên Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này thì ai cũng biết. Nhưng bạn nghĩ sao nếu chính phủ Việt Nam gọi theo người Tàu là “Tây Sa” và “Nam Sa”? Ấy thế mà đó là cách gọi trên giấy trắng mực đen của Bộ Ngoại giao VNDCCH! Đó là một văn bản của Bộ Ngoại giao VNDCCH gửi cho học giả Nguyễn Đổng Chi vào ngày 22/1/1974. Nguyên văn như sau:

“BỘ NGOẠI GIAO VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Số LS/BG Độc lập Tự do Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 22 tháng 1 năm 1974

Kính gửi: Đ/c Giám đốc Thư viện nhà nước
Đ/c Giám đốc Thư viện Khoa học xã hội
Đ/c Cục trưởng Cục Lưu trữ
Đ/c Viện trưởng Viện Sử học

Thủ tướng Chính phủ cần tư liệu về vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Tây sa và Nam sa.

Đề nghị đồng chí bố trí cán bộ làm việc trong mấy ngày tết sưu tầm gấp các tư liệu, bản đồ về vấn đề này để trong vài ba ngày kịp trình lên đồng chí Thủ tướng. Chúng tôi xin cử cán bộ đến trực tiếp trình bày với các đồng chí để nói rõ thêm vấn đề này.

KT/BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO
Thứ trưởng
Hoàng Văn Tiến
”

Để đặt cái công văn này trong bối cảnh, chúng ta cần phải nhớ rằng Tàu cộng đánh chiếm Hoàng Sa từ VNCH vào ngày 19/1/1974. Trong trận hải chiến đó (do VNCH nổ súng trước) có 75 lính hải quân VNCH hi sinh.

Ba ngày sau, Bộ Ngoại giao VNDCCH mới gửi công văn này đến học giả Nguyễn Đổng Chi để … “sưu tầm tài liệu” trình Thủ tướng. Nói cách khác, VNDCCH có vẻ chẳng biết chủ quyền hai quần đảo đó là thuộc Việt Nam! Chuyện khó tin nhưng có thật. Chuyện càng khó tin khi Bộ Ngoại giao VNDCCH mà dùng danh xưng của Tàu cộng để chỉ 2 quần đảo của Việt Nam! Nhưng nhìn chung, cái công văn đó cho thấy khi Tàu cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, phía VNDCCH … không biết nói gì. Nói cách khác, họ mù mờ về sự thật lịch sử.

Trước đây, tôi vẫn bán tín bán nghi khi Tàu cộng chúng rêu rao rằng VNDCCH từng tuyên bố rằng Hoàng Sa thuộc về Tàu. Chúng tung tài liệu nói rằng "Ngày 15/6/1956, trong khi tiếp đại diện lâm thời của Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, Lý Chí Dân, Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói với ông rằng: ‘Theo dữ liệu của Việt Nam, quần đảo Tây sa và quần đảo Nam Sa về mặt lịch sử là một phần lãnh thổ của Trung Quốc’" (2). Tuyên bố này có thật, vì cuốn sách "Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" của ông Lưu Văn Lợi do Nhà xuất bản Công an Nhân dân Hà Nội phát hành năm 1995, xác nhận.

Trong một bài viết mới đây, Gs Vũ Cao Đàm (ĐHQG Hà Nội) có nói đến quan điểm của ông Lê Duẩn lúc Tàu cộng đám chiếm Hoàng Sa từ VNCH như sau:

"Còn khi Tàu Cộng chiếm Hoàng Sa thì mấy ông tuyên huấn của Bác Duẩn lại báo tin mừng cho chúng tôi biết, là 'bạn' đã giúp ta lấy lại Hoàng Sa 'từ tay quân ngụy'. […] Hỏi quân ngụy là ai mà dám chiếm đóng Hoàng Sa, thì mới tá hỏa ra là bọn họ cũng là người Việt Nam, đang cầm súng chiến đấu bảo vệ đảo của nước ta" (3).

Câu chuyện trên đây do bác Vũ Cao Đàm kể lại, cùng với chứng từ "Tây Sa, Nam Sa" của Bộ Ngoại giao VNDCCH, và phát biểu của ông Ung Văn Khiêm tiết lộ một cách khá nhất quán rằng thời đó mấy quan chức và lãnh đạo cao cấp ngoài Bắc rất mơ hồ về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa. Do đó, ngày nay khi những người nối nghiệp họ và chúng ta phải gặp khó khăn lớn khi đương đầu với những chứng từ do chính họ sản sinh.

Khó khăn đó là thật. Viết đến đây tôi nhớ lại một sự việc hai năm trước. Lúc đó, một bài báo khoa học của Tàu cộng đăng bản đồ với đường 9 đoạn, và chúng tôi viết thư phản đối, nên tập san Nature phỏng vấn tôi về việc này. Một phần bài phỏng vấn được công bố và gây ảnh hưởng rất tốt. Nhưng có ít nhât 5 tác giả Tàu (tôi đoán là từ Tàu, vì khó nói về địa chỉ email) viết email đến tôi chửi bới khá thô tục, nhưng lá thư nào họ cũng nói rằng chính Chính phủ VNDCCH công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Tàu. Dĩ nhiên, loại phản ứng vô văn hoá đó tôi chẳng trả lời, mà chỉ gửi cho Nature để họ đọc … giải sầu. Nhưng quả thật, những chứng từ bất lợi như thế sẽ còn ám ảnh chúng ta. Bởi thế, tôi mới nói nhắc chi chuyện cũ thêm đau lòng lắm người ơi.


====




Read more ...

Phân tích đặc điểm các phát ngôn của giới lãnh đạo

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

Tuần qua, có một câu chuyện liên quan đến Tổng thống Obama và cậu học trò Osman Yahya 11 tuổi nói lên phong cách lãnh đạo. Số là cậu Osman làm MC điều hành chương trình đối thoại trên tivi giữa TT Obama và học của một trường trung học ở bang Maryland bên Mĩ, khi một học sinh hỏi ông Obama có thích đọc sách không, và ông Obama bắt đầu trả lời rằng ông mê đọc sách, thì cậu MC ngắt ngang rằng “Tôi nghĩ ông đã trả lời hết câu hỏi đó rồi.” Ông Obama nói nửa đùa nửa thật rằng “OK, Osman nghĩ rằng tôi nói dài dòng quá”, Osman vừa cười vừa nói “Không, không”, nhưng Obama nói “thôi, mình tiếp tục”. Các bạn có thể xem video (1) để thấy:



Câu chuyện có thể hiểu và nhìn theo nhiều góc cạnh. Nhưng tôi thì thấy cái phong cách rất tuyệt vời của Obama, vì ông làm cho buổi phỏng vấn rất thân mật, và quan trọng là ông cũng buồn phiền khi bị một cậu học trò đáng tuổi con mình ngắt ngang và sửa lưng! Thử tưởng một vị lãnh đạo Việt Nam mà bị một cậu học sinh nói “Thôi, ông nói dài quá, đủ rồi”! Cậu học trò Việt Nam đó chắc bị nư đòn ?!

Sẵn dịp bàn về phong cách nói, tôi muốn chia sẻ cùng các bạn vài nhận xét và phân tích của tôi về những phát biểu của giới lãnh đạo VN. Có khi nào các bạn tự hỏi tại sao người ta không muốn đọc những bài viết của giới lãnh đạo, và khi họ viết hay nói ra cái gì thì rất ít người đọc. Người đọc thì chê (ví dụ như bài của vị nào đó trên Vietnamnet bị dislike nhiều gấp mấy lần like). Tôi tự hỏi câu này rất thường xuyên, và tôi rút ra vài đặc điểm thú vị dưới đây, mà tôi nghĩ có thể giải thích tại sao những phát ngôn của lãnh đạo VN kém hấp dẫn. Đây là bài viết còn ở bản nháp, và sẽ bổ sung khi nghĩ ra ý mới.

Những người lãnh đạo giỏi và có bản lĩnh họ không chỉ nói, mà còn thực hiện những gì họ nói. Ngay cả cách nói, mỗi một lần phát biểu họ đều để lại những câu mà báo chí có trích trích dẫn (quotable words) hay làm cho người nghe phải suy nghĩ vì nó có cái wisdom trong đó. Chẳng hạn như khi nói về những việc làm liên quan đến tai nạn máy bay MH17, thủ tướng Úc nói “Mục tiêu của chúng ta là đảm bảo phẩm giá, sự tôn trọng, và công lí cho người quá cố và người đang sống.” Đó là một câu có thể trích dẫn.

Nhìn lại giới lãnh đạo VN, tôi thấy hình như họ không có cái tư chất về ăn nói của chính khách phương Tây. Chính khách VN quen với đường mòn chữ nghĩa mang đậm bản chất XHCN nên họ chỉ loanh quanh những câu chữ quen thuộc. Họ không nói được cái gì cụ thể, mà chỉ xoay quanh các khẩu hiệu quen thuộc, kiểu như “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” Đọc qua nhiều bài phát biểu của các lãnh đạo VN tôi nhận ra vài đặc điểm chính (có thể chưa đủ) như sau:

Thứ nhất là tính chung chung, không có một cái gì cụ thể. Có thể nói rằng thói quen phát biểu chung chung là đặc điểm số 1 của chính khách VN, họ không có khả năng nói cái gì cụ thể, tất cả chỉ chung chung, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Ví dụ như phát biểu “Đặc biệt là, tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.” Đọc xong đoạn văn chúng ta chẳng có thông tin nào, mà tất cả chỉ là những mĩ từ, giống như những khẩu hiệu được nối kết với nhau. Chúng ta cũng không có thêm thông tin, ngoại trừ một chữ rất chung chung là “phức tạp”. Hai chữ “phức tạp” có thể nói là rất phổ biến ở VN, đụng đến cái gì họ không giải thích được, không mô tả cụ thể được, thì họ bèn thay thế bằng hai chữ “phức tạp” mà chẳng ai hiểu gì cả. Cả một đoạn văn 74 chữ, chúng ta không thấy một ý nào cụ thể và không thể trích dẫn bất cứ câu nào.

Thứ hai là dùng nhiều sáo ngữ. Ví dụ tiêu biểu cho đặc điểm này là bài nói chuyện nhân kỉ niệm 40 năm ngày kí Hiệp định Paris: “Hiệp định Paris là đỉnh cao thắng lợi của mặt trận ngoại giao nước ta thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, là mốc son trong trang sử vàng của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.” Chú ý những chữ “mốc son”, “sử vàng”, “mặt trận ngoại giao”, tất cả đều là những sáo ngữ. Có một loại sáo ngữ khác là chúng mang tính tích cực nhưng không có ý nghĩa thực tế. Vì dụ như bài diễn văn nhân dịp kết thúc một đại hội đảng, có đoạn: “Sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, tư duy lý luận về văn hóa của chúng ta đã có bước phát triển …. Nhiều phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực. Truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng… được phát huy.” Chúng ta chú ý thấy nào là “phát triển”, “phát huy”, “hiệu quả thiết thực”, nhưng vì chúng không có một dữ liệu cụ thể nào nên tất cả chỉ là rỗng tuếch về ý nghĩa. Thật vậy, đọc xong đoạn phát biểu này chúng ta không thấy bất cứ một điểm cụ thể nào để nhớ hay để làm minh hoạ. Chẳng có một ý tưởng nào để đáng nhớ.

Một trong những sáo ngữ chúng ta hay thấy trong các bài phát biểu là “đánh giá cao”. Ví dụ như “tôi cám ơn và đánh giá cao bài phát biểu rất tốt đẹp của Ngài Thủ tướng Hà Lan”, “tôi đánh giá cao và chân thành cám ơn sự hỗ trợ của Chính phủ …”. “Đánh giá cao” hình như là một thuật ngữ đặc thù trong thế giới xã hội chủ nghĩa nó vẫn còn sống sót đến ngày hôm nay. Thoạt đầu nghe qua “đánh giá cao” thì cũng hay hay, nhưng nghĩ kĩ thì thấy câu này chẳng có ý nghĩa gì cả. Thế nào là đánh giá cao, cao cái gì? Tôi thấy nó là một sáo ngữ cực kì vô duyên và vô dụng.

Thứ ba là thiếu thông tin (lack of information). Có nhiều lãnh đạo quen tính nói rất nhiều, nhưng nếu chịu khó xem xét kĩ chúng ta sẽ thấy họ chẳng nói gì cả. “Chẳng nói” vì những gì họ nói ra không có thông tin, tất cả chỉ là những câu chữ lắp ráp vào nhau cho ra những câu văn chứ không có dữ liệu. Do đó, có khi đọc xong một đoạn văn chúng ta chẳng hiểu tác giả muốn nói gì. Chẳng hạn như phát biểu về hiến pháp, ông chủ tịch QH nói: “Chúng tôi cũng hiểu rằng một bộ phận, một số người trong các tầng lớp nhân dân và ngay một số ĐBQH cũng còn ý kiến khác. Tuy nhiên tuyệt đại nhân dân và Quốc hội có thể khẳng định đã đồng tình cao với bản Hiến pháp thông qua lần này. Với quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, chúng ta đã thể hiện được đại đa số nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội với tinh thần làm chủ của nhân dân, chúng ta sẽ biểu quyết theo tinh thần đó.” Câu cú và cấu trúc ý tưởng chẳng đâu vào đâu. Lúc thì quyền năng nhân dân trao cho Quốc hội, lúc thì nguyện vọng của toàn dân, của Quốc hội, lại còn đèo theo một câu “tinh thần làm chủ của nhân dân”. Câu chữ đọc lên nó cứ như là nhảy nhót loanh quanh, chẳng đâu vào đâu, và cuối cùng là chẳng có gì để nói!

Thứ tư là ngôn ngữ khẩu hiệu. Có thể nói rằng rất rất nhiều bài nói chuyện và diễn văn của các lãnh đạo chỉ là những khẩu hiệu được lắp ráp vào với nhau. Có những khẩu hiệu quá quen thuộc nên chẳng ai chất vấn tính chính xác của nó. Ví dụ như câu “Trong niềm tự hào, chúng ta thành kính tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại – vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới…”, có lẽ chẳng ai để ý đến chữ “danh nhân văn hóa thế giới”. Nếu người bình thường phát biểu như thế thì chắc người ta cũng lắc đầu bỏ qua, nhưng lãnh đạo mà phát biểu như thế thì chẳng có gì sáng tạo, chỉ lặp lại những câu chữ đã có trước đây. Thật ra thì ông cụ đâu được công nhận là danh nhân văn hoá thế giới.

Một loại ngôn ngữ khẩu hiệu khác mang tính tự hào. Tự hào là một “đặc sản” của các vị lãnh đạo VN, đi đâu cũng nghe họ nói về tự hào. Điều này cũng hiểu được, vì làm lãnh đạo thì phải gieo niềm tự hào vào người dân. Nhưng gieo không đúng chỗ và gieo mãi thì có thể trở thành phản tác dụng. Thử đọc bài diễn văn có đoạn “Chúng ta tự hào về đất nước Việt Nam anh hùng, nhân dân Việt Nam anh hùng, tự hào về những con người giản dị bằng những việc làm tốt của mình ở mọi lúc, mọi nơi đã góp phần làm nên vẻ đẹp văn hóa của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam; góp phần quyết định để xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh.” Tôi tự hỏi có cần quá nhiều tự hào như thế. Đất nước anh hùng, con người anh hùng, vẻ đẹp văn hoá, v.v. nhưng tại sao đất nước vẫn còn nghèo và phải “ăn xin” hết nơi này đến nơi khác và ăn xin kinh niên, con người vẫn còn đứng dưới hạng trung bình trên thế giới. Thay vì tự ru ngủ là anh hùng và giàu mạnh, tôi nghĩ lãnh đạo phải nói thẳng và nói thật là đất nước vẫn còn rất nghèo, tài nguyên chẳng có gì, và cả nước đang phải đương đầu với ngoại xâm.

Thứ năm là … tự khen. Từ tự hào quen dùng khẩu hiệu dẫn đến tự mình khen mình là tài giỏi và vĩ đại, và đặc tính này tôi thấy khá thường xuyên. Một ví dụ tiêu biểu là bài viết của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhân kỉ niệm 40 năm ngày 30/4: "Thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của đường lối và nghệ thuật quân sự Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng." Thật ra, đó là tựa đề của bài viết, mà dài như thế! Nhưng một phần tựa đề này là những khẩu hiệu chúng ta hay gặp trong suốt mấy thập niên qua. Cứ đề cập đến đảng là phải kèm theo những tính từ như sáng tạo, lỗi lạc, đứng đắn, quang vinh, vĩ đại, v.v. Tôi không bàn đến đúng hay sai về nội dung, mà chỉ muốn nói rằng rất hiếm thấy một tổ chức hay cá nhân nào mà tự khen như thế. Người Việt có câu "Hữu xạ tự nhiên hương", nếu mình làm điều tốt thì sẽ có người ghi nhận, chứ không cần phải tự khen như thế. Tự khen 1 lần thì có lẽ cũng không đến nỗi tệ, nhưng tự khen hết năm này sang năm khác, và tự khen khắp nơi như dàn đồng ca, thì rất dễ bị hiểu lầm là một bệnh lí tâm thần. Nhưng rất tiếc đó là một thói quen của các vị lãnh đạo, hay những người viết diễn văn cho các vị ấy.

Thứ sáu là loại ngôn ngữ hành chính hoá. Nếu chú ý kĩ chúng ta sẽ thấy phần lớn những bài nói chuyện, bài diễn văn các lãnh đạo đọc là họ nói với đảng viên, với quan chức, công nhân viên, với quân đội, v.v. chứ không phải nói với người dân. Có lẽ chính vì thế mà ngôn ngữ của họ thường mang tính hành chính. Có những chữ mà hình như họ sử dụng quá nhiều nên chẳng ai để ý ý nghĩa thật của nó, như “Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại phải tiếp tục là mặt trận quan trọng góp phần phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.” Đối với người dân bình thường, ít ai hiểu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế là cái gì. Có thể nói đó là những ngôn ngữ xa lạ đối với người dân.

Những bài diễn văn của các chính khác phương Tây thường rất sinh động, thực tế, và có khi … vui. Chúng ta thấy nhiều lãnh đạo phương Tây (tiêu biểu là Mĩ) khi họ nói chuyện dù là trong buổi lễ rất trang trọng, mà họ vẫn làm cho khán giả vừa vỗ tay vừa cười. Khán giả cảm thấy gần gũi với diễn giả. Ngược lại, những bài diễn văn của lãnh đạo VN thường cứng nhắc, công thức, và lúc nào cũng tỏ ra hết sức nghiêm trọng (dù sự việc chẳng có gì nghiêm trọng). Vì thế mà khi lãnh đạo VN nói chẳng ai cười, có người lại buồn ngủ, tức là chính họ cũng cảm thấy nhàm chán. Khán giả cũng có khi vỗ tay, nhưng là vỗ tay theo kịch bản hơn là tự nhiên. Khán giả nghe họ đọc hơn là diễn. Một phần có lẽ do lãnh đạo VN chưa quen với văn hoá nói, và/hoặc họ cũng muốn tỏ ra là người quan trọng. Dù gì đi nữa thì những bài nói chuyện của lãnh đạo VN rất khó gần với người dân do ngôn ngữ cứng đơ và kém thân thiện, và cách họ triển khai bài nói chuyện quá xa rời công chúng.

Dĩ nhiên, những đặc điểm này không phải là độc quyền của các lãnh đạo VN, mà thỉnh thoảng các chính khách phương Tây cũng vướng phải. Khi họ vướng phải, người dân biết vị chính khách đó có vấn đề, hoặc là không nắm vững vấn đề, hoặc là lúng túng. Vì không nắm vững vấn đề nên họ nói chung chung. Có người nghĩ nói chung chung là nói “đa tầng”, nhưng thật ra đó chỉ là cách nguỵ biện thô thiển. VN nói về hội nhập quốc tế, nhưng với loại ngôn ngữ đặc thù XHCN trên đây, tôi nghĩ các lãnh đạo VN sẽ rất khó gần với lãnh đạo thuộc thế giới văn minh. Hội nhập cũng cần phải hội nhập về ngôn ngữ và phong cách.

Là người Việt, ai cũng muốn các lãnh đạo hay quan chức hay người đại diện VN ra nước ngoài làm cho mình tự hào, chứ không muốn họ có những phát ngôn hay hành vi làm mình không dám tự hào là người Việt. Bài này hoàn toàn và tự thâm tâm không có ý chê trách, chỉ muốn góp vài ý rất chân tình và mang tính cá nhân của tôi.

Read more ...

Danh ngôn?

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

Có một bạn (KHL) hỏi rằng nếu câu nói về giáo dục của ông cụ Hồ không được xem là triết lí, thì có thể xem đó là danh ngôn không? Tôi thấy câu hỏi này thú vị, và tôi nghĩ ngay đến một câu hỏi nghiên cứu: yếu tố nào làm cho một câu nói hay bài diễn văn trở thành danh ngôn. Danh ngôn ở đây hiểu theo nghĩa tiếng Anh là wisdom. Tôi phải nói rằng trong cái nhìn của cá nhân tôi, chưa có một câu nói nào của giới lãnh đạo Việt Nam nào có thể xem là danh ngôn cả.



Đặc tính nào làm nên một danh ngôn? Thú thật, câu trả lời ngắn gọn là tôi không biết. Nghe qua thì có vẻ vô lí, nhưng vì tôi không phải là người làm về xã hội học, nên không rõ các tiêu chí về danh ngôn. Nhưng đọc qua các danh ngôn, tôi nghĩ đến 6 tố chất sau đây có thể làm cho một câu phát biểu thành danh ngôn.

1. Nội hàm tri thức. Tôi nghĩ nói đến danh ngôn là phải nói đến tri thức, tức là câu nói đó phải có hàm lượng tri thức rất cao và rất nặng kí. Chúng ta làm khoa học đều biết rằng qui trình (hay cũng có thể nói là "quá trình") sản xuất ra tri thức là 3 bước. Bước 1 là thu thập dữ liệu thô (data). Từ data chúng ta dùng thống kê học hay phương pháp suy luận để chuyển thành thông tin – information. Bước sau cùng là qua kiểm tra độc lập và suy luận chúng ta biến information thành tri thức – knowledge. Trong cái qui trình data → information → tri thức, thì tri thức là có giá trị cao nhất.

Do đó, tiêu chí số 1 của một danh ngôn là nó phải bao hàm tri thức. Tôi nghĩ rất nhiều câu tục ngữ - thành ngữ của ta có thể xem là có tính danh ngôn. Ví dụ như những câu "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng", "Không thầy đố mày làm nên", "Học thầy không tầy học bạn", v.v. rõ ràng là một câu có hàm lượng tri thức cao, và có lẽ được đúc kết từ kinh nghiệm rất lâu đời của tổ tiên. Ở nước ngoài, tôi thấy câu của Malcolm X "Education is your passport to the future, for tomorrow belongs to the people who preprare for it today" (Giáo dục là tấm giấy thông hành của bạn để đi đến tương lai, bởi vì ngày mai thuộc về những ai chuẩn bị cho nó ngày hôm nay). Tổng thống John F Kennedy cũng có một câu về giáo dục mà tôi nghĩ là xứng đáng đẳng cấp danh ngôn: "The goal of education is the advancement of knowledge and the dissemination of truth" (tạm dịch: mục tiêu của giáo dục là tiến bộ tri thức và truyền bá sự thật).

2. Tính mới. Không chỉ là tri thức, nhưng tri thức phải mới, hiểu theo nghĩa nội dung chưa được ai nói đến trước đây. Cái mới cũng có thể là hình thức mới, chữ mới, cách nói mới, dù ý tưởng không hẳn là mới. Ví dụ như câu “I am the captain of my soul” (có thể hiểu "tôi là của thủ lĩnh của tâm hồn tôi") của Mandela, tôi thấy rất mới, và nó có chất thơ trong đó. Tôi không rõ câu này có phải là danh ngôn, nhưng cá nhân tôi thì rất thích.

3. Tính phổ quát (universality). Nhưng một danh ngôn phải có tri thức mang tính phổ quát, hay qui luật có thể đúng cho mọi thời đại. Những danh ngôn mà khi phát biểu ra làm cho người nghe thấy có lí. Chẳng hạn như câu của Abraham Lincoln, "No man has a good enough memory to be a successful liar" (tạm dịch: không ai có trí nhớ tốt để trở thành một kẻ nói dối giỏi), chúng ta thấy nó rất có lí. Chính quyền và giới chính trị gia có thể nói dối với nhiều người một lần, nói dối với một người trong nhiều lần, nhưng khó có thể nói dối với nhiều người trong nhiều lần. Cái có lí còn là trải nghiệm cá nhân nữa. Ví dụ như đọc câu "Chữ tài liền với chữ tai một vần" (Nguyễn Du) bất cứ ai trong chúng ta cũng thấy cái chân lí trong câu đó, vì chúng ta hay thấy trong thực tế những người tài thường mắc nạn. (Tôi nghĩ ngay đến những người như Trần Huỳnh Duy Thức, và do đó tôi thấy câu đó nó … thấm).

4. Tính quốc tế. Một danh ngôn không chỉ mang tính địa phương, mà phải vượt qua quốc gia trở thành quốc tế. Những câu nói trong bài diễn văn "I have a dream" không chỉ liên quan đến nước Mĩ thời đó, mà còn trở nên chủ đề thảo luận trên khắp thế giới về tình trạng kì thị chủng tộc. Chẳng hạn như ông Nelson Mandela, ông bị giam tù ở Nam Phi, và trong thời gian đó ông rút ra nhiều kinh nghiệm và chân lí mà sau này viết thành cuốn "Long Walk to Freedom", cuốn đó không chỉ áp dụng cho Nam Phi mà cho mọi người đấu tranh cho tự do. Tôi nhớ hoài câu ông nói "For to be free is not merely to cast off one's chains, but to live in a way that respects and enhances the freedom of others" (tạm dịch: tự do không chỉ có nghĩa là không còn gông cùm, mà là sống một cuộc sống tôn trọng và xiển dương quyền tự do của người khác). Câu đó không chỉ đúng ở Nam Phi mà còn đúng ở Việt Nam, và khắp nơi trên thế giới. Ngược lại, một câu nói mang tính địa phương (như "Tôi chỉ có một Đảng: Đảng Việt Nam") thì khó có thể xem là danh ngôn được.

5. Tính thẩm mĩ của ngôn từ. Tôi nghĩ yếu tố này rất quan trọng, vì nó gây ấn tượng tốt ở người đọc/nghe, mà còn làm tăng phẩm chất của nội hàm câu nói. Một trong những câu gây ấn tượng trong tôi nhất, và tôi xem là danh ngôn là câu của Thiền sư Vạn Hạnh “Thân như điện ảnh hữu hoàn vô”. Chỉ một câu ngắn những chữ nghĩa và ví von đẹp mà đúc kết được một qui luật tự nhiên. Có khi người ta làm cho câu chữ hay và mới bằng cách "đảo ngữ". Chẳng hạn như thay vì nói "Don't ask …" thì Kennedy nói "Ask not …" Phải nói đó là một sự hoán chuyển tài tình! Đảo ngữ có thể đem lại một sức sống mới của một câu văn tầm thường. Một danh ngôn với ngôn ngữ đẹp phải kể đến câu nói của Martin Luther King: "We must rise to the majestic heights of meeting physical force with soul force". Câu này tôi thấy ngữ vựng tiếng Anh rất đẹp (dù có phần uyển ngữ) và cách cấu trúc câu văn rất cân xứng, nhưng thú thật tôi không đủ khả năng tiếng Việt để dịch sao cho nó thoát ý. Câu nói hàm ý rằng chúng ta phải nâng cao tinh thần để đối phó với sức mạnh của bạo lực.

6. Ngắn gọn và tương phản. Tôi để ý thấy những câu danh ngôn thường là những câu văn ngắn gọn (như “I am the captain of my soul” của Nelson Mandela), hay có tính tương phản và đối sánh. Ví dụ như câu của kennedy "Forgive your enemies, but never forget their names" (Hãy quên kẻ thù của chúng ta, nhưng đừng quên tên của kẻ thù). Câu đầu thì chẳng có ý gì đáng kể, nhưng câu thứ hai làm chúng ta phải suy nghiệm! Một câu khác của Nelson Mandela cũng mang tính bán nghịch lí: "Do not judge me by my successes, judge me by how many times I fell down and got back up again" (Đừng đánh giá tôi qua những thành công, hãy đánh giá tôi qua số lần tôi tôi bị vấp ngã và gượng dậy). Cái hay của câu này là trong câu đầu ("Đừng đánh giá tôi qua những thành công") có hiệu quả thu hút chú và câu khách, nhưng câu thứ hai thì làm cho chúng ta phải suy nghĩ và tự an ủi mình vì tất cả chúng ta ai cũng có thất bại trong đời.

Dùng những tiêu chí trên để đánh giá, tôi chưa thấy có câu nào của các lãnh đạo Việt Nam xứng đáng là danh ngôn cả. Những câu mà có lẽ rất nhiều bạn ở VN nghe hàng ngày suốt 60 năm qua như "Không có gì quí hơn độc lập và tự do" không thể nào là danh ngôn được, cho dù được dịch sang tiếng Anh ("Nothing is more precious than independence and liberty"), vì hàm lượng tri thức thấp, thiếu tri thức phổ quát (thiếu "dân chủ"), nó mang tính quốc tế nhưng thiếu mĩ cảm. Có một câu của ông cụ mà báo chí ca ngợi rất nhiều nhưng tôi chẳng thấy nó hay chỗ nào. Đó là câu "Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?" Dĩ nhiên, tôi hiểu câu đó và bối cảnh ra đời của nó, nhưng vẫn chẳng có gì hay, vì không có hàm lượng tri thức, không phổ quát, chữ nghĩa thì cũng bình thường. Người Tây phương hay nói câu đó trong mỗi buổi meeting. Có những câu như lề phải lề trái và con cừu cũng gây ồn ào một thời gian, nhưng tôi chẳng thấy nó có gì hay (thực ra câu đó là một danh ngôn của người Đức -- nếu tôi nhớ không lầm).

Nhưng công bằng mà nói, tôi nghĩ ở Việt Nam các lãnh đạo rất khó có những phát biểu hay hay danh ngôn. Tôi không nói đến trình độ học vấn và kiến thức của họ còn hạn chế; tôi muốn nói đến một lí do xa hơn: đó là môi trường xã hội – chính trị. Lãnh đạo Việt Nam là đảng viên đảng cộng sản, và cơ chế tổ chức trong đảng thì cũng như tôn giáo. Trong cái tôn giáo đó, họ khó có thể nói cái gì ra ngoài giáo điều là điều hoàn toàn có thể hiểu được. Mà, giáo điều thì chẳng có cái gì mới, hiếm có cái gì hay, và ngôn ngữ thì cũng rất chán vì giống như kinh kệ. Trong cái môi trường bị gò bó về tư tưởng như thế, các lãnh đạo dù có thể rất tài nhưng rất khó có thể sáng tạo được. Nếu họ nói ra cái ý gì mới thì có thể mâu thuẫn với giáo điều của đảng và rất nguy hiểm cho "tính mạng chính trị" của họ, nên cách an toàn nhất là cứ lặp lại những gì đã được nói đến trong quá khứ. Do đó, các phát biểu của các lãnh đạo Việt Nam không có tính sáng tạo, thiếu hàm lượng tri thức phổ quát, chữ nghĩa thì không đẹp, nên rất khó trở thành danh ngôn.

Read more ...

Đăng kí bản quyền phát biểu: bàn thêm

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015
Một bạn đọc NHH mới chỉ cho tôi bài phản biện của bác Đỗ Minh Tuấn (ĐMT) trên tạp chí Văn hoá Nghệ An (1). Số là cách đây không lâu tôi có tỏ ra phân vân về việc đăng kí bản quyền phát biểu của ông cụ Hồ về triết lí giáo dục (2). Bài này của bác ĐMT là phản biện bài đó của tôi (2). Để tôi nói thêm cho rõ …



Trong bài viết của tôi, tôi có viết rằng trong học thuật, để biến một câu phát biểu hay cái ý nào đó thành một triết lí hay một ideology thì đòi hỏi nhiều công trình nghiên cứu, và đích thân người có ý tưởng hay học trò của người đó phải có nỗ lực truyền bá ý tưởng. Một ví dụ tiêu biểu là khái niệm tỉ số thiền (Zen ratio) mà tôi có dịp giới thiệu trước đây, tác giả không chỉ nói vài phát biểu đơn giản, mà ông triển khai thành nhiều nghiên cứu, kết quả nghiên cứu nhất quán với lí thuyết của tác giả, và từ đó phát triển thành một thuyết. Một ví dụ khác là những ý tưởng được đúc kết trong cuốn "Thinking, fast and slow" qua hàng loạt nghiên cứu và diễn thuyết, dẫn đến sự ghi nhận là tác giả Daniel Kahneman được trao giải Nobel kinh tế (3).

Không phải chỉ phát biểu một câu chung chung, rồi kì vọng thế giới phải ghi nhận mình là người nghĩ ra ý tưởng đó. Khổng Tử và môn đệ của ông phải triển khai, giải thích những lời giảng của ông thì người đời sau mới ghi nhận. Nếu chỉ đơn giản nói đôi ba câu chung chung và không giải thích gì thêm mà được công nhận là tư tưởng và bắt người đời sau phải ghi nhận thì là một đòi hỏi quá đáng.

Bất cứ ai trong chúng ta, dù không phải là nhà thông thái, vẫn có thể phát biểu về giáo dục. Chúng ta quan tâm đến giáo dục, và vì chúng ta quan sát từ thực tế chung quanh cũng như trải nghiệm cá nhân. Ý tưởng của chúng ta có thể trùng nhau, cho dù chữ có thể không giống nhau. Chẳng hạn như tôi có thể quan sát và đi đến kết luận "Chức năng của giáo dục là phải rèn luyện nhân cách, và trang bị kiến thức cho học sinh". Bạn cũng có thể nghĩ đến ý đó, nhưng có thể nói một cách khác. Lí do ý của bạn và của tôi trùng nhau là do những gì chúng ta suy nghĩ nó mang tính phổ quát. Trước đây, các nhà hiền triết đều có nói như thế, nhưng chúng ta chắc chắn không đạo ý tưởng của họ. Và, có lẽ chúng ta không đi đăng kí bản quyền cho phát biểu đó.

Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói trong một bài nói chuyện ở Trường đảng Nguyễn Ái Quốc rằng "Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư". Từ đó đến nay, chẳng thấy ai nói gì thêm. Bản thân ông cụ cũng không giải thích gì thêm. Thật ra, ông cụ ít nói về giáo dục.

Đến năm 1996, UNESCO có công bố một báo cáo do nhà kinh tế học và chính trị gia Jacques Delors chủ trì. Bản báo cáo viết về "giáo dục trọn đời" và đề nghị 4 trụ cột: (i) học để biết (learning to know); (ii) học để làm (learning to do); (iii) học để chung sống với nhau (learn to live together , learning to live with others); (iv) học để phát triển nhân cách (learning to be). Không phải chỉ viết ra chung chung như thế, các tác giả còn lí giải mỗi "trụ cột" khá rõ ràng. Tài liệu là một thành quả của một thời gian nghiên cứu và tham khảo các ý tưởng trong quá khứ. Uỷ ban soạn thảo tài liệu có đại diện từ Nhật, Hàn Quốc, Tàu, Ấn Độ, Senegal, Jamaica, Venezuela, Slovakia, Jordan, Mĩ, Pháp, Ba Lan, v.v. Tức là người ta đã điểm qua các hệ tư tưởng Đông Tây để soạn ra văn bản đó, chứ không phải đơn thuần là phát biểu của một cá nhân.

Văn bản của UNESCO như thông lệ có phần tài liệu tham khảo. Trong phần tài liệu tham khảo, hoàn toàn không có một trích dẫn nào về giáo dục từ Việt Nam hay từ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việt Nam không có trong hội đồng soạn thảo văn bản.

Ấy thế mà có một giáo sư VN đề nghị là gửi thư đến Liên hiệp quốc để nói cho họ biết rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu triết lí giáo dục trước UNESCO hơn 50 năm! Vị giáo sư này nói rằng phải gửi thông tin đến UNESCO "để cả thế giới thấy rõ Bác Hồ và Việt Nam đã góp phần phát triển giáo dục như thế nào".

Thật ra, quan điểm về sự học (tức là learning, chứ không phải education) của uỷ ban Jacques Delors (UNESCO) có điểm gần với suy nghĩ của Chủ tịch HCM, nhưng chỉ tương đối thôi. Chủ tịch HCM nói học để học để làm việc là gần với "learn to do" của UNESCO, học để làm người có thể hiểu như là "learn to be" của UNESCO. Chủ tịch HCM quan niệm rằng học để "làm cán bộ, […] để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại" thì không được UNESCO đề cập đến. UNESCO nhắc đến sự học để tìm hiểu người khác và để chung sống chung với những người có thể khác chính kiến với mình. Rất khó biết khi ông nói học để phục vụ giai cấp là giai cấp nào. Do đó, không thể nói rằng UNESCO lấy ý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Càng không thể nói ý tưởng về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh là "triết lí giáo dục" vì ông đâu có lí giải gì thêm ngoài phát biểu chung chung đó. Như tôi có nói, cũng như bất cứ ai trong chúng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh chắc chắn có quan tâm đến giáo dục, nhưng để có những ý tưởng được lí giải như trong tài liệu UNESCO thì ông chưa bao giờ làm được. Do đó, nâng một câu phát ngôn chung chung của ông thành một triết lí giáo dục tôi e rằng không công bằng cho ông.

Trong bài này (1), bác ĐMT phản biện rằng "Các nhà tư tưởng không cần phải diễn giải ý tưởng của mình thành bài thành sách với những lập luận khoa học logic để chứng minh mà ý tưởng của họ vẫn có giá trị khai sáng cho cộng đồng, nhân loại. Như Phật và các bậc hiền giả Đông Tây nhiều khi chỉ nêu ý tưởng, các học trò của họ thuyết minh diễn giải theo tinh thần hệ thống mà họ đã truyền trong nhiều lần giảng đạo."

Tôi chỉ đồng ý 1/3 với nhận xét này. Các nhà tư tưởng chẳng những phát biểu ý tưởng mà họ còn lí giải ý tưởng của họ, chỉ ra những ý tưởng đó có ứng dụng trong thực tế. Phật Thích Ca là một ví dụ, ông đâu chỉ nói suông; ông lí giải bằng những rất trường hợp rất cụ thể, ông còn tỏ ra thông tuệ vì những ý của ông sau này được người đời làm thí nghiệm (khoa học) và chứng minh là ông đúng. Vì thế, người ta mới công nhận ông là một nhà hiền triết. Dĩ nhiên, nói như thế để hiểu thôi, chứ cụ Hồ không thể nào so sánh được với Đức Phật. Cái ý tưởng học để phụng sự giai cấp thì chắc khó mà đúng được.

Bác ĐMT còn cho rằng "Những câu nói về giáo dục của Hồ Chí Minh là những câu nói đầu tiên mang tư tưởng về giáo dục của riêng Hồ Chí Minh mà sau này UNESCO lặp lại, dù vô tình hay có tham khảo, để triển khai từ cách tiếp cận mang tính hệ thống hoá, giải trình chi tiết." Tôi hoàn toàn không đồng ý với nhận xét này. Văn bản về giáo dục của UNESCO không có tham khảo ý tưởng của ông cụ Hồ. Ông cụ Hồ phát biểu bằng tiếng Việt, mà trong hội đồng soạn thảo của UNESCO chẳng ai biết tiếng Việt. Vậy làm sao có thể nói là UNESCO biết đến phát biểu của ông cụ? Vả lại, ông cụ lúc đó cũng chẳng có tiếng gì về giáo dục và chẳng có công trình gì đáng chú ý, làm sao UNESCO quan tâm đến phát biểu của ông? Ông cụ là một chính khách, chứ không phải là nhà giáo dục. Do đó, không có bất cứ một chứng cứ nào để nói UNESCO lặp lại triết lí giáo dục của ông cụ Hồ. Chắc chắn UNESCO, mà phần đông đại diện là từ thế giới phi cộng sản, không nghĩ đến việc giáo dục phụng sự giai cấp như ông cụ Hồ nói. Chắc chắn không. Không có chuyện UNESCO lặp lại ý tưởng hay lấy ý tưởng của ông cụ Hồ.

Bác ĐMT còn nói rằng ông cụ Hồ là "người đầu tiên đưa ra ý tưởng phát động trồng cây thường niên trong cộng đồng dân tộc với giải pháp và kế hoạch rõ ràng mà 20 năm sau Shumakher phát động rộng rãi ở tầm thế giới". Tôi cứ tưởng bác ĐMT đùa chứ.

Thú thật tôi không rõ và cũng chưa biết có ai đăng kí bản quyền một câu phát biểu trong quá khứ. Tôi biết người ta đăng kí bằng sáng chế, nhưng bằng sáng chế phải dựa trên một ý tưởng được trình bày có hệ thống và có dữ liệu yểm trợ. Nói ra một ý tưởng chưa đủ, mà phải có chứng cứ thực tế hay nghiên cứu để yểm trợ.

Trong học thuật, người ta ghi nhận đóng góp về ý tưởng qua trích dẫn. Nếu một câu phát biểu hay, phản ảnh được một thực trạng, hay cung cấp được một cái [mà tiếng Anh gọi là] wisdom, thì cộng đồng học thuật sẽ ghi nhận. Hình thức ghi nhận là được trích dẫn. Nhưng trong thực tế, một câu phát biểu “lâm thời”, không có hệ thống thì rất khó được trích dẫn. Những câu nói về giáo dục của ông cụ Hồ, theo tôi thấy, chưa thể xem là tư tưởng, và càng không thể xem là triết lí giáo dục. Ông cụ có quan tâm đến giáo dục (và điều này là chắc chắn) và có phát biểu về giáo dục. Chúng ta cũng có quan tâm và có phát biểu. Chỉ có cái khác là ông cụ nổi tiếng hơn nên câu nói của ông được người đời sùng kính, còn câu nói của chúng ta thì bay theo gió. Tất cả chúng ta, nói như Trịnh Công Sơn, chỉ là những hạt bụi trong thế giới này thôi mà.

====




(4) Trong bài viết bác ĐMT nhắc đến kỉ niệm xưa, nên tôi phải nhắc đến lần nữa. Bác ĐMT và tôi là chỗ thân quen từ hơn 20 năm qua. Bác ĐMT chính là người đầu tiên giới thiệu tôi cho tạp chí Tia Sáng và báo Nhân Dân. Qua giới thiệu của bác mà tôi có một thời gian có thể nói là rất "productive" với Tia Sáng. Những bài và ý kiến của tôi trên Tia Sáng nghe nói (xin nhấn mạnh: nghe nói từ bạn bè trong giới báo chí) đã làm cho bác Thiện Nhân [lúc đó là Bộ trưởng Bộ Giáo dục] có lúc không vui. Bác ĐMT còn nói đùa tôi thành sách, tôi có cám ơn bác ĐMT trong Lời nói đầu, nhưng chắc bác ấy chưa biết. Nói như thế để các bạn thấy là tôi với bác ĐMT có "ân oán giang hồ" từ thời xa xưa theo kiểu khác: kiểu thân tình.

Bác ĐMT nhắc đến diễn đàn VNSA mà có lẽ phần đông các bạn ở đây chưa biết hay nghe đến. Đó là một diễn đàn trên mạng của du học sinh thời giữa thập niên 1990s, do hai nghiên cứu sinh là Đoàn An Hải và Đàm Thanh Sơn thành lập. Tôi nhớ thời đó An Hải đang học Masters, nhưng đã tỏ ra là một người rất giỏi (tôi nói "rất giỏi"), còn Đàm Thanh Sơn đã xong PhD bên Nga nhưng vẫn còn lang thang đó đây bên Mĩ. Ngoài ra, còn có Lê Phú Bình, Nguyễn Xuân Long, [và ai nữa tôi đã quên]. Bây giờ thì An Hải và Thanh Sơn đều trở thành danh và thành giáo sư cả rồi. Thời đó, những người đi trước như tôi đóng góp tích cực cho các bạn trẻ trên diễn đàn. Tôi chỉ các bạn ấy cách viết lí lịch khoa học, cách viết và nói tiếng Anh sao cho "ngon lành", cách viết bài báo khoa học, cách xin postdoc, v.v. Có lẽ tôi quá nhiệt tình chỉ dẫn không dấu một cái gì, nên cho đến nay các bạn ấy vẫn còn nhớ đến tôi.

Read more ...