Pages

Ghi chép cuối năm 3: Anh là Việt kiều hay Việt Nam?

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011
Tựa đề trên cũng chính là câu hỏi của một anh tiếp tân của một khách sạn lớn ở Cần Thơ. Câu hỏi thoạt đầu làm tôi sốc, nhưng bình tĩnh nghĩ lại thì đó chính là một kiểu làm du lịch rất phản cảm và là một trong những nguyên nhân cho du khách đến Việt Nam không muốn quay lại ….


Đã lâu lắm rồi tôi không có dịp ghé qua Cần Thơ. Thật ra, nói vậy cũng không đúng, vì mới năm ngoái tôi đã có dịp đến và lưu lại ở Cần Thơ 2 ngày dự hội nghị. Nhưng hai ngày đó tôi chẳng đi đâu được, vì suốt ngày chỉ loanh quanh trong hội trường, còn ban đêm thì có bạn rủ nhau đi … nhậu. Điều mà tôi muốn là đi ra ngoài Cần Thơ để nhìn thấy tận mắt những người làm nghề nông đồng hương của tôi bây giờ ra sao. Dịp đó đã đến hôm 27/12 khi một người bạn mời đi dự tiệc ở Ô Môn. Thế là chỉ một vài giờ từ Sài Gòn về đến nhà ở Giồng Riềng, tôi lại khăn gói lên đường đi Cần Thơ.

Cái nghèo đeo đuổi những vùng cách mạng 

Chuyến đi từ Giồng Riềng đến Cần Thơ là một chuyến đi đầy kỉ niệm. Từ làng tôi, xe băng ngang qua Bến Nhứt, đến Vị Thanh (tức Chương Thiện ngày xưa), và từ đó trực chỉ đi Cần Thơ. Đây là đoạn đường khá chông gai thời trước 1975, bởi vì vùng Vị Thanh nổi tiếng là vùng “xôi đậu” trong thời chiến. “Xôi đậu” ở đây có nghĩa là cả hai phía “Quốc gia” và “Cách mạng” đều làm chủ vài địa bàn, hay thậm chí trong cùng một địa bàn. Có nơi, ban ngày là Quốc gia, còn ban đêm là Cách mạng. Đi xe đò ngang vùng này ai cũng ngán vì sợ bị trúng đạn.

Nhưng ngày nay thì khác lắm rồi. Con đường từ Giồng Riềng đi Vị Thanh được làm lại chỉnh chu hơn và êm ru so với ngày xưa. Nhưng đường vẫn còn hẹp, vì chỉ có 2 làn xe mà thôi. Thỉnh thoảng cũng rất nguy hiểm, vì xe gắn máy lẫn lộn với xe ôtô chen nhau từng tất đường để được … đi trước! Tuy nhiên, con đường này theo tôi là đẹp vì hai bên đường là đồng ruộng xanh rì. Đồng ruộng đang mùa xạ lúa. Mở cửa xe còn ngửi được mùi mạ non rất đặc biệt. Ôi, cái mùi mạ non này nó thơm dìu dịu và ngọt làm ngây ngất người ta chứ không phải chơi đâu nhé. Tôi bây giờ mới cảm nhận và trân quí nó qua một ca khúc của nhạc sĩ Thanh Sơn. Phải đi trên con đường này mới thấy quê mình đẹp, đẹp mộc mạc theo cách riêng của vùng Đồng bằng Nam Bộ.

Nhưng con đường đẹp đó chẳng kéo dài bao lâu thì đến khu vực làm cho tôi chùng lòng. Đó là vùng Ngọc Chúc, cũng thuộc Giồng Riềng. Đi ngang đây, tôi mới thấy cái nghèo vẫn còn đeo theo người dân ở đây. Rất nhiều nhà tranh, vách lá, xiêu vẹo như có thể sập bất cứ lúc nào. Rất hiếm thấy nhà tường. Nhiều căn nhà mà từ ngoài nhìn vào chẳng thấy tài sản nào đáng kể. Trống trơn. Phía ngoài là vài cái khạp đựng nước mưa, bên cạnh là cái giếng chắc bị ô nhiễm từ lâu vì toàn là rác rưởi. Người dân thì có vẻ lam lũ lắm, chỉ nhìn mặt cũng thấy họ không vui, không hạnh phúc, ánh mắt tỏ ra lo lắng, thiếu năng lượng. Có lẽ vì lo toan cho cuộc sống đã làm hao mòn năng lực của họ. Đây là vùng của Cách mạng ngày xưa. Tôi đi nhiều và rút ra một “qui luật” rằng những vùng nào từng là căn cứ của cách mạng ngày xưa thì đó cũng là những vùng nghèo khó nhất. Từ đó, có thể nào rút ra nhận xét rằng những người từng cưu mang cách mạng đã và đang bị bỏ quên?

Tôi bảo thằng em dừng xe để vào xin nước mưa uống và cũng là dịp để trò chuyện với chủ nhà. Vào nhà một người nông dân tuổi khoảng 60, đen đúa, khắc khổ, mùa nóng nên ông ở trần chỉ cái quần xà lỏn, đang hì hụt đào mương. Tôi hỏi xin nước uống, ông vui vẻ chỉ cho cái lu đựng nước mưa bên mái hiên, rồi dừng tay hỏi vài ba câu xã giao. Coi chú em chắc hổng phải người địa phương hả? Ông hỏi. Tôi nói rằng tôi là người huyện Giồng Riềng, nhưng khác xã, và nay thì sống ở nước ngoài. Không cần tôi hỏi, ông nói về cái nghèo ở đây như thế nào. Quanh năm suốt tháng chỉ sống nhờ vào 5 công đất. Tôi hỏi ông có biết nhà cô Hùynh Mai ở đâu không, thì ông cho biết cũng chẳng xa đây lắm đâu. Đây chính là quê hương của cô Huỳnh Mai, người con gái đi lấy chồng Hàn Quốc để có vài trăm đôla cho gia đình và để rồi phải chết thảm nơi đất khách quê người (và tôi từng có một bài viết trên báo Người lao động). Nghĩ đến thảm cảnh này máu trong người tôi như nóng dần lên. Chưa bao giờ người Việt Nam nhục như hiện nay, bị ngoại bang vào xem mắt như xem hàng hóa, bị người ngoại bang sát hại hàng trăm (hay hàng ngàn người ?)

Vị Thanh: thành phố ruộng 

Khoảng 1 giờ sau tôi đến Vị Thanh. Vị Thanh ngày xưa chỉ là một thị xã nhỏ, nhưng bây giờ là thành phố cấp 2, một “thủ đô” của tỉnh Hậu Giang. Cần nói thêm rằng Hậu Giang và Cần Thơ được tách ra từ tỉnh Hậu Giang cũ, và nay thành phố Cần Thơ trở thành thành phố cấp 1 trực thuộc trung ương. Có thể nói rằng Vị Thanh là một thành phố ruộng, bởi vì chung quanh là ruộng, và thực chất thì tỉnh Hậu Giang cũng là tỉnh ruộng. Tuy là thành phố ruộng, nhưng Vị Thanh có cái duyên dáng của vùng sông nước, với con sông chảy qua thành phố (xuất phát từ một nhánh của sông Hậu) rất đẹp. Ngày nay, chính quyền làm bờ kè hai bên sông, và đại lộ chính của thành phố cũng chính là con đường dài chạy dọc theo bờ sông, với mé sông là hàng ghế để người dân hóng mát. Tuy nhiên, chắc vì cái nắng gay gắt và con đường thiếu cây xanh, nên tôi chẳng thấy một bóng người nào ngồi mấy cái ghế đó cả.
Chúng tôi ghé vào một quán cơm để ăn dằn bụng và cũng là dịp để ngồi lại cảm nhận những thay đổi của thành phố ruộng này. Quán rất đông khách. Thực khách nam nữ mặt đỏ bừng bừng đang cầm lon bia chúc tụng nhau “dzô dzô” tưng bừng. À, thì ra hôm nay là ngày gần cuối năm, nên các cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp kéo nhau ra nhà hàng … chơi xả láng. Dân miền Tây mà! Tôi chọn một cái bàn nhỏ ở góc quán, nhưng có thể nhìn ra đường lộ và bờ sông. Kêu vài món đặc sản vùng sông nước, như gỏi xoài khô cá sặc, cá rô kho tộ chấm rau luộc, cá lóc nướng … Mấy loại cá này thật ra là cá nuôi, con nào con nấy lớn ơi là lớn, lớn đến nổi mất đi cái bình thường của con cá rô đồng tôi từng biết. Tôi nghĩ thầm trong đầu biết đâu họ dùng hormone tăng trưởng để nuôi cá, nhưng thôi thì cứ thưởng thức một món cho xong, chứ tối ngày cứ nghĩ vẩn vơ như thế thì còn ăn với uống gì ở quê hương mình.


Một góc Vị Thanh - Ảnh: Thanh Triều

Trong khi chờ đồ ăn, uống một lon bia Sài Gòn đỏ. Ngon. Tôi nhìn ra bờ sông Vị Thanh thấy tàu bè qua lại tấp nập, phần lớn là những chiếc ghe tam bản chở lúa và xà lan chở đất cát. Lâu lâu có dịp nhìn những chiếc ghe tam bản lớn trên sông, tôi thấy thú vị về cách người ta “trang trí” cho ghe. Ghe nào cũng có cái mũi ghe sơn màu đỏ và lúc nào cũng có 2 con mắt tròn xoe, còn phía sau thì có cái mui cho tài công. Chẳng hiểu truyền thống vẽ mắt cho ghe xuất phát từ đâu, nhưng chắc chắn đó là một nét văn hóa của những nước có văn hóa sông nước. Tôi thấy bên Thái Lan người ta cũng có những cái ghe được sơn như thế. Đối với nhiều gia đình, cái ghe không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là một nhà lưu động. Cả gia đình sinh hoạt trên ghe, ăn uống, tắm rửa, học hành … tất tần tật đều diễn ra trong cái ghe. Nhìn toàn cảnh, có thể nói Vị Thanh hay Chương Thiện giờ đây đã khá nhiều so với trước đây, không còn là vùng mà chỉ nghe cái tên người ta đã ngán đi. Tuy nhiên, thỉnh thoảng thấy mấy em bé lang thang bán vé số tôi nghĩ sự phát triển của Vị Thanh (hay miền Tây nói chung) vẫn chưa xóa được cái nghèo vẫn còn đeo đuổi một số không ít những người kém may mắn trong xã hội. Ước gì một ngày nào đó những em bé này không còn bán vé số mà cắp sách đến trường như mọi người và có cùng ước mơ như người viết bài này.

Xong bữa ăn trưa, chúng tôi tiếp tục hành trình đi Cần Thơ. Chỉ còn khoảng 1 giờ nữa thì sẽ đến Cần Thơ, dù khoảng đường từ Vị Thanh đến Cần Thơ chỉ khoảng 50 hay 60 km gì đó mà thôi. Thằng em họ và cũng là tài xế cho tôi không dám chạy nhanh, vì sợ công an “bắn tốc độ” và bị phạt rất nặng. Những ngày cuối năm này cảnh sát giao thông làm việc rất hăng, nên tài xế rất ngán. Dù thấy bất tiện một chút, nhưng tôi thì ủng hộ việc kiểm tra tốc độ và phạt những tài xế lài xe ẩu và nguy hiểm. Ở đâu thì tài xế có thể “bôi trơn” cho cảnh sát giao thông, chứ ở miền Tây thì nói chung là không có chuyện đó. Có hôm ở Sài Gòn, nghe những câu chuyện của tài xế taxi mà tôi không biết nên cười hay nên méo. Có tài xế của Mai Linh kể rằng ngày 24/12 em lái xe taxi bình thường, chợt bị cảnh sát thổi còi. Em đậu xe và đến cảnh sát giải trình “Ơ, em đâu có lỗi gì đâu anh, sao thổi em?” Anh chàng cảnh sát cười nói “Ừ, em có lỗi gì đâu, nhưng em không biết hôm nay là ngày gì sao, anh cũng cần lì xì chứ”. Một trăm ngàn đồng lì xì. Kể xong câu chuyện, anh tài xế gốc Nam Định chửi thề. Lại có chuyện anh tài xế của Vinasun kể rằng hôm đó anh bị phạt vì chạy quá tốc độ, anh chủ động bôi trơn, nhưng cảnh sát không chịu vì chê số tiền “mỏng” quá. Anh tài xế nói, “Chú biết không, anh chỉ vào cái đồng phục cảnh sát và hỏi con ‘mày biết để mặc được bộ đồ này tao tốn bao nhiêu không?’.” Hết nói. Tài xế có rất nhiều chuyện về cảnh sát giao thông mà tôi nghĩ viết thành sách sẽ rất thú vị.

Con đường từ Vị Thanh đi Cần Thơ càng lúc càng hẹp (chỉ có 1 làn xe mỗi bên), nhưng xe cộ thì càng lúc càng nhiều. Xe gắn máy chen lẫn xe bốn bánh, cộng với xe ngược chiều, và nhà cửa dân hai bên đường, cực kì nguy hiểm. Tuy tôi thấy nguy hiểm, nhưng tài xế và người địa phương thì chẳng thấy gì là nguy hiểm cả. Hình như người ta đã đối diện với cái chết và tai nạn hàng ngày nên cảm thấy chai lì chăng? Có khi một chiếc xe đạp nghênh ngang đi qua đường với xe bốn bánh chạy cả 60-70 km/giờ. Phải nói rằng ý thức người dân về an toàn giao thông còn kém lắm. Nhà nước cũng cố gắng vận động nâng cao ý thức an toàn giao thông, nhưng cách làm thì rất … bao cấp. Vẫn là những khẩu hiệu nền đỏ chữ trắng kiểu “An toàn là bạn, tai nạn là thù”. Đọc cái khẩu hiệu có thể nói là hết sức vô duyên và vô nghĩa này, tôi thấy nó chẳng giúp gì cho người dân cả. Vận động bằng khẩu hiệu là một cách vận động lười biếng, vì người ta chỉ treo khẩu hiệu một thời gian rồi thôi. Chính vì làm theo phong trào và lười biếng nên hiệu quả chẳng có bao nhiêu. Đã đến lúc học cách làm của nước ngoài để nghiên cứu về thái độ và hành vi cũng như nâng cao nhận thức của người dân về an toàn giao thông.

Cầu Cần Thơ và bức tranh phát triển

Đi Cần Thơ mà không đi cầu Cần Thơ là một thiếu sót. Tôi bảo thằng em quầy xe đi lên cầu Cần Thơ để biết sự tình ra sao trước khi quay vào trung tâm thành phố. Đây là cây cầu bắc ngang qua sông Hậu, dài gần 16 km (toàn tuyến, còn cầu chính chỉ dài 2.57 km), tốn đến gần 343 triệu USD để xây. Cái giá của cây cầu này cao gấp 3.5 lần giá cầu Mỹ Thuận do Úc xây. Cầu chính do nhà thầu Nhật xây, còn đường dẫn lên cầu thì do nhà thầu Việt Nam và Trung Quốc xây. Cầu Cần Thơ được khánh thành ngày 24/4/2010, tức là chỉ khoảng 8 tháng trước đây, và nay thì xe cộ qua lại rất đông.
Đi suốt chiều dài 16 km, tôi thấy rõ ràng chất lượng rất khác nhau giữa đường do Trung Quốc và VN xây với cây cầu chính. Tuyến đường dẫn do Trung Quốc xây thì gập ghềnh, lên xuống cứ như là vợn sóng, nếu tài xế không quen đường mà chạy nhanh thì dễ bị … xuống ruộng như bỡn. Có nhiều nơi đường bị hư, ổ gà nhỏ. Xin nhắc lại rằng đường chỉ mới đưa vào sử dụng chưa đầy 8 tháng. Khó có thể chấp nhận chất lượng xây đường xá như thế. Lên cầu thì thấy sự nhếch nhác của người mình. Người ta vô tư dừng xe gắn máy giữa cầu để … ngắm sông. Tôi còn nghe tài xế nói cây cầu này cũng là nơi mà vài cặp nam nữ yêu nhau trong nghịch cảnh nắm tay nhau nhảy xuống sông … tự tử. Đó là chưa kể đến lực lượng bán thức ăn dạo, bán vé số quanh quẩn trên cầu để tìm khách hàng. Rác rưởi thì tha hồ vứt xuống đường, hay có người “tử tế” hơn là vứt xuống sông. Thật là buồn khi thấy cảnh tượng này trên cầu. Một cây cầu hiện đại mang tầm vóc quốc tế mà rất “tiểu thương” như thế! Chẳng biết các nhà quản lí ở đâu và làm gì.

http://www.autotv.vn/upload/2010/09/02160448_ktxh33.jpg

Cầu Cần Thơ

Xuống cầu qua miệt Vĩnh Long thì đã thấy nhà cửa bắt đầu mọc hai bên đường, chắc là chờ cơ hội kinh doanh. Vẫn những căn nhà vách lá, mái tranh rất ư là tạm bợ, nhếch nhác. Có những hàng rào đường bị phá. Đó cũng là tình trạng tôi thấy trên đường cao tốc Sài Gòn – Trung Lương. Nói là “cao tốc” cho oai thế thôi, chứ thật ra thì tiêu chuẩn chưa phải cao tốc như mình hiểu ở Mĩ. Đường cao tốc đó chỉ bằng hay thấp hơn đường cao tốc dỏm của Úc mà thôi (thật ra, có thể nói Úc không có đường cao tốc), chứ không thể so với Mĩ được. Nhìn cây cầu hoành tráng, nhìn đường xá cao tốc (từ xa) cũng bóng loáng lắm, nhưng nhìn qua những căn nhà này tôi thấy toát lên một bức tranh thu nhỏ của tình trạng phát triển ở nước ta. Đó là sự phát triển không đồng bộ, chẳng khác gì khoác một cái áo veston rất thời trang và đắt tiền cho người nông dân đen đúa, mà chính người nông dân cũng chưa biết mặc cái áo đó ra sao.

Cần Thơ

Cuối cùng thì tôi cũng đến Cần Thơ. Đến nơi tôi mới thấy tính chủ quan của mình về nơi ăn ở có vấn đề. Tìm khách sạn ở Cần Thơ hôm đó (27/12) không dễ chút nào. Có lẽ đó là ngày gần cuối năm, du khách nhiều, nên nhiều khách sạn lớn đều không còn phòng trống. Những khách sạn trung thì giá đắt hơn so với ở Sài Gòn, còn những khách sạn nhỏ thì có vấn đề về vệ sinh và phòng ốc. Chúng tôi lái xe vòng vòng khu trung tâm thành phố gần 1 giờ mới tìm được một nơi hội đủ hai điều kiện (sạch sẽ và giá cả phải chăng) có thể lưu lại qua đêm. Đó là một khách sạn ở bến Ninh Kiều, nhìn ra bờ sông rất hay. Từ khách sạn có thể đi dạo các khu phố gần đó cũng vui, chỉ có điều là không có những nhà hàng hay quán ăn coi cho được.

Nhưng trong số những khách sạn mà tôi ghé qua, có một khách sạn gây ấn tượng cho tôi nhiều nhất: đó là khách sạn Hoàng Cung. Khách sạn, nhìn từ bề ngoài, cũng kha khá, trang trí coi cũng được (nhưng chưa đạt). Hình như khách sạn này còn có tên là “Sài Gòn – Cần Thơ”. Khi biết khách sạn có phòng trống, tôi hỏi giá bao nhiêu, thì nhận được một câu hỏi của anh tiếp viên: “Anh là người Việt Nam hay Việt kiều?” Tôi bị sốc và ngỡ ngàng trước câu hỏi mà tôi nghĩ là không thích hợp cho thế kỉ 21. Anh tiếp viên khoảng 30 tuổi không nhìn tôi, tiếp tục nhìn xuống tài liệu gì đó mà anh đang đọc. Thái độ này cho thấy anh không cần khách. Thấy anh không cần khách, tôi cũng không có ý định sẽ ở đây, nhưng vẫn phải hỏi một câu cho chắc ăn: Tại sao anh cần biết tôi là người trong hay ngoài nước? Vẫn không nhìn tôi, anh nói: Việt kiều thì giá phòng phải cao hơn Việt Nam.

Saigon_cantho_hotel_1

Khách sạn Hoàng Cung (Sài Gòn - Cần Thơ) của Saigon Tourist

“Anh là người Việt Nam hay Việt kiều” Câu hỏi đó và cách dùng chữ cho thấy anh ta không phân biệt được “Việt kiều” cũng là người Việt Nam, hoặc anh ta xem “Việt kiều” là những kẻ có tội: tội sống ở nước ngoài. Vì có tội đó, nên người Việt ở nước ngoài bị phạt, bị kì thị. Chúng ta còn nhớ đến qui định giá cả cho người Việt ở nước ngoài vào những năm đầu thập niên 1990s cao hơn so với người Việt ở trong nước. Người ta có khi xem “Việt kiều” ở ngoài hái tiền trên cây. Do đó, người ta sẵn sàng chặt chém “Việt kiều”. Chặt chém cho chúng nó cháy túi. Nhưng đó là những gì xảy ra gần 20 năm trước, nay thì Việt Nam không còn kì thị người Việt ở nước ngoài nữa. Ấy thế mà tôi không ngờ rằng ở đây, ngay tại miền Tây quê tôi, có một khách sạn có cái tên cao sang là Hoàng Cung còn cái qui định kì thị mang tính chặt chém như thế. Điều này cho thấy Cần Thơ tuy là “thành phố” nhưng cách hành xử đâu đó vẫn chưa văn minh, chưa theo kịp chính sách của Nhà nước. Đó cũng có thể chính là lí do tại sao người ta không muốn đi du lịch ở miền Tây. Ai dại gì chui vào đó để bị chặt chém? Thật ra, số tiền mà họ chặt chém để có chút thêm thu nhập chẳng là bao, nhưng tự nó nói lên một kiểu làm du lịch dã man.

Dù trải qua một cái sốc với khách sạn Hoàng Cung, tôi đã có hai ngày vui và đẹp ở Cần Thơ. Buổi sáng tôi đi bộ dọc theo bến đò Ninh Kiều, để thấy cảnh sinh hoạt náo nhiệt và năng động của thành phố sông nước này. Từng đoàn xuồng ghe từ Vĩnh Long và một số địa phương lân cận tấp nập cập bến với hành khách và nông sản. Nhìn cảnh này tôi nhớ đến thời còn nhỏ ở trong quê. Thời đó, để đi Rạch Giá, tôi phải thức rất sớm, ra bến đò xã để tìm được chỗ ngồi vốn rất nhỏ. Đến 4 giờ sáng thì đò chạy và mãi đến 6 hay 7 giờ sáng mới đến Rạch Giá. Tôi lúc đó cũng như những hành khách này đây, cũng lỉnh kỉnh đủ thứ đồ ăn thức uống và rau cỏ để đi học ở tỉnh. Nhưng ngày nay thì đò chạy nhanh hơn thời đó rất nhiều, vì họ dùng toàn bo bo hay tàu cao tốc. Chẳng những nhanh hơn mà còn tiện nghi hơn nữa. Mỗi sáng tôi tạt vào quán sát mé sông để uống cà phê nhìn sông nước. Quán cà phê này nằm ở một nơi rất lí tưởng, nhưng cà phê thì dở không tưởng được! Tôi đến đây chủ yếu là để đọc báo, hóng gió, và nhìn cảnh mà thôi, chứ cà phê thì chịu, không thưởng thức được. Tôi phát hiện ra quán này là của … Nhà nước. Đã từng ăn uống trong nhiều nhà hàng và ở trong các khách sạn do Nhà nước quản lí, tôi đi đến một kết luận: họ làm kinh doanh rất dở. Tất cả các doanh nghiệp Nhà nước có 2 mẫu số chung: họ chiếm những khu đất rất đẹp, rất đắt tiền; nhưng chất lượng phục vụ thì quá kém.


Cảnh chợ đêm ở bến Ninh Kiều 

Ở bến Ninh Kiều có chợ tối mỗi đêm. Nhưng cách tổ chức và buôn bán thì vẫn còn rất … tiểu nông, và có cái đặc tính rất Việt Nam. Đó là khu chợ chật hẹp, manh mún, tủn mủn, nơi mà người ta bán tạp nhạp. Từ quần áo đến thức ăn uống. Quần áo thì toàn là đồ nhái, đồ dỏm, phần lớn là nhập từ Trung Quốc. Nhưng cái dỏm của chúng nó thô đến nổi chỉ nhìn qua bề ngoài là thấy, chứ chẳng cần đến nhìn phía trong một cách cẩn thận làm gì cho tốn thì giờ. Còn hàng quán ăn uống thì có vấn đề về vệ sinh, nước nôi tràn ra lề đường lênh láng, chẳng ai quan tâm. Ấy thế mà các nam thanh nữ tú thản nhiên xì xụp với những tô bún nước và vô tư bàn tán như chỗ không người! Tôi chỉ đi cho biết “sự tình”, chứ cũng chẳng mua được gì. Có điều tích cực ở đây là người ta không có chặt chém, không có phân biệt “Việt Nam” và “Việt kiều”. Tôi thấy những người bán hàng ở đây có vẻ thật thà hơn người bán hàng ở Sài Gòn. Đó là điều an ủi khi tôi ghé qua Cần Thơ.

Ở bến Ninh Kiều, chính quyền cho xây tượng cụ Hồ rất lớn. Tượng cụ Hồ mặc áo khoác hờ, dơ tay như chào và mắt nhìn ra sông. Nghe nói tượng này được xây theo tấm hình nổi tiếng mà một nhà báo Nhật đã chụp được khi cụ Hồ vẫy tay chào ai đó. Không có gì để nói, ngọai trừ đây là khu vực … dễ bị té. Tôi đi ngang qua đó và suýt bị té vì quá trơn. Định thần nhìn kĩ thì tôi mới thấy rằng người ta dùng toàn đá cẩm thạch, bóng loáng để làm nền chung quanh tượng. Với loại đá này, vì quá trơn tru, nên chỉ cần có chút nước là người qua lại té ngay. Tôi hỏi chủ khách sạn trong quá khứ đã có ai té chưa, thì bà chủ cười nói: ôi, ngày nào cũng có người té, trời mưa thì té nhiều nữa, nhất là khách không để ý, chứ người địa phương thì cẩn thận hơn và ít bị té. Đây là một ví dụ tiêu biểu cho việc biến sự kính trọng thành một gánh nặng y tế!



Tượng cụ Hồ (Ảnh Dân Trí) ở bến Ninh Kiều

Tôi thấy hình như cách làm du lịch miệt vườn ở Cần Thơ chưa có hệ thống. Bất cứ lúc nào tôi tản bộ vòng bến Ninh Kiều, tôi đều được hàng tá người đến chào hàng đi du lịch trên những chiếc bo bo hay vỏ tắc ráng. Tôi đã từng đi “du lịch” kiểu này năm ngoái, nên nay không muốn đi thêm, và đành phải từ chối. Nói cho ngay, họ không có chèo kéo hay hung hãn như ở Huế. Về khoản kinh doanh du lịch Người miền Tây coi bộ vẫn hiền lành hơn người Huế. Tuy nhiên, kiểu làm du lịch hiện nay theo tôi vẫn rất đơn điệu và nghèo nàn về hình thức. Khách đi một vòng chợ Cái Răng, lên bờ ăn uống, nghe đờn ca tài tử, rồi lại đi về thành phố. Tôi đã đi du lịch kiểu này và thấy không hứng thú chút nào cả, vì rất chấp vá và thiếu tính chuyên nghiệp. Tôi tự hỏi tại sao miền Tây không ứng dụng mô hình du lịch tại chỗ mà tôi thấy ngoài Hội An họ đã làm. Theo mô hình nay, du khách đến tá túc nhà của một nông dân vài ngày, họ sẽ theo chủ nhà ra làm việc đồng áng như xạ lúa, cấy lúa, cày bừa, tát đìa, hay đập lúa, còn nữ thì ở nhà lo việc nội trợ. Nói tóm lại, đó là mô hình du lịch mà khách có cơ hội làm người nông dân vài ngày, mà tôi tin chắc rằng sẽ rất thành công nếu được tổ chức chu đáo và an toàn.

Hai ngày ở Cần Thơ cho tôi một dịp “cưỡi ngựa xem hoa” những phát triển chung quanh thành phố. Cần Thơ bây giờ là thành phố cấp 1, trực thuộc trung ương, sánh vai cùng Đà Nẵng và Huế. Cần Thơ lại là Tây Đô như ngày xưa. Đã có đường bay trực tiếp từ Hà Nội vào Trà Nóc. Hôm tôi đến Cần Thơ nghe nói người ta đang chuẩn bị khánh thành sân bay quốc tế Trà Nóc. Một tin mừng. Đáng lẽ hai ngày ở Cần Thơ sẽ gặp vài anh bạn trong trường y, nhưng vì họ đều bận việc cuối năm nên chẳng có dịp hàn huyên tâm sự. Người thì đi phản biện luận án gì đó ngoài Vũng Tàu, người thì về quê ăn tết Tây, người thì đi du lịch bên Campuchea. Do đó, tôi không có dịp đi thăm các đại học ở đây. Bây giờ ở Cần Thơ có quá nhiều đại học mà tôi không thể nào nhớ hết tên. Tôi chỉ có dịp đi xe và để ý đến Đại học Tây Đô ngoài ngoại ô TP Cần Thơ. Đại học to đùng, được thiết kế theo mô hình Tây cổ điển, trông cũng được lắm. Chung quanh thì toàn là ruộng. Nhìn tổng thể thấy một quần thể building cao to và ruộng chung quanh cũng là lạ mắt lắm. Nó cũng giống như bức tranh phát triển mà tôi đề cập trên.

Tôi đã có những kỉ niệm vui và buồn ở Tây Đô. Vui là vì thấy quê mình bây giờ phát triển hơn trước, nhất là nhìn thấy Vị Thanh ngày nay “ngon lành” quá và Cần Thơ bây giờ văn minh hơn xưa nhiều. Vui nhiều mà buồn cũng không ít. Buồn nhất là bị kì thị ngay giữa vùng quê của mình. Nói gì thì nói, du khách Tây có thể “một đi không trở lại”, chứ tôi thì vẫn quay lại Cần Thơ vì đó là láng giềng của quê tôi. Tôi vẫn tin tưởng rằng tương lai miền Tây sẽ tốt hơn, chỉnh chu hơn, và sẽ xanh hơn như màu xanh muôn đời của ruộng vườn.

(còn tiếp)
Read more ...

Ghi chép cuối năm 2: Vietnam Airlines

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011
Có lẽ nhiều bạn đọc đã quá quen với những nhận xét và góp ý của tôi về phong cách phục vụ và dịch vụ của Vietnam Airlines (VNA), hãng hàng không mang cờ Việt Nam ra nước ngoài. Trong entry này, tôi tiếp tục ghi lại những cảm nhận của tôi về VNA. Có tiến bộ, nhưng vài vấn đề vẫn còn tồn tại ...


Như thường lệ, tôi chọn Vietnam Airlines (VNA) để đi Việt Nam. Chuyến bay VN782 (Boeing 777) khởi hành từ Sydney lúc 11:45 đúng giờ. Lần này, do một ưu ái nào đó (có thể tôi là hội viên Bông Sen Vàng) tôi được sắp xếp tôi ngồi ghế 1A tương đối thoải mái. Nhìn chung quanh chỉ thấy có khoảng 10 khách hạng thương gia. Cơ trưởng là một người Việt tên là Hoàng Xuân Dự (nếu tôi nghe không lầm), và tiếp viên trưởng có tên rất đẹp: Hương Giang (làm tôi nhớ đến biên tập viên của tờ Hoạt động Khoa học có tên là Trần Thị Hương Giang). Đi máy bay về quê nhà, với người của mình điều khiển máy bay và phục vụ thì còn gì hay hơn. Tôi nghĩ thế nên lúc nào đi Việt Nam cũng đều chọn hãng hàng không có logo rất ý nghĩa: đem văn hóa Việt Nam đến thế giới - bringing Vietnamese culture to the world.

Chuyến bay nói chung êm xuôi, chẳng có gì đáng chú ý, nhưng điều thú vị tôi muốn đề cập ở đây là cuộc trò chuyện giữa tôi và chị Hương Giang. Chị Hương Giang chắc ở độ tuổi 30, người Bắc nói giọng gần gần với giọng Hà Nội. Nhân một câu hỏi về chuyển hành lí, chẳng hiểu sao câu chuyện chuyển sang phong cách phục vụ của VNA. Tôi cũng không dấu diếm với chị ấy rằng tôi chính là người từng viết một loạt bài về phong cách phục vụ của VNA, cũng như đề nghị hàng loạt biện pháp để nâng cao phẩm chất phục vụ cho tốt hơn. Chị Hương Giang vui vẻ bàn chuyện với tôi về rất nhiều đề tài. Chị hỏi tôi chất lượng phục vụ trong chuyến bay này ra sao, và tôi cũng thành thật nói ra những cảm nghĩ của mình, chỉ ra những bất cập trong chuyến bay.

Trước hết là cách chào khách vẫn còn nặng tính bao cấp và công thức. Khi khách lên máy bay, tiếp viên chỉ đơn giản cười và cho chúng tôi cái khăn giấy (rất tầm thường) và lựa chọn nước trái cây (đóng hộp) hay một li rượu champagne, chẳng thấy chào hỏi gì cả. Tôi nói cho chị ấy biết rằng các hãng hàng không khác người ta phục vụ theo phong cách rất “personalized”, có nghĩa là chú ý đến cá nhân của khách. Chẳng hạn như trước khi khách lên máy bay thì tiếp viên đã biết tên khách là gì, danh xưng, sở thích ăn uống, thậm chí ngày tháng năm sinh. Do đó, tiếp viên chào khách bằng danh xưng và tên một cách thân mật, kèm theo một món trái cây hay li nước lịch sự theo sở thích của khách, chứ đâu phải theo kiểu bao cấp của VNA! Nếu biết sinh nhật, tiếp viên có thể chúc mừng luôn. Chị Hương Giang ghi lại những góp ý đó, nhưng không biết trong tương lai sẽ có thay đổi gì hay không.
Thứ hai là vấn đề vệ sinh toilet. Nhìn qua toilet của VNA tôi phải nói là … chưa đạt yêu cầu. Phòng ốc thiếu sự ấm cúng. Khô khốc. Không có hoa. Sàn thì có khi ướt (chắc do khách trước rửa mặt). Không có đồ vệ sinh cá nhân. Giấy serviette thì khi có, khi không, và chất lượng giấy cực kì thấp. Giấy đi cầu thì thuộc loại chất lượng quá thấp, không xứng đáng có mặt trên chuyến bay quốc tế. Tôi không khỏi phì cười khi thấy xà phòng dùng để rửa tay trong toilet được mua từ siêu thị (mà cũng là hàng rẻ tiền). Từng đi máy bay của rất nhiều hãng trên thế giới, tôi phải nói là cái toilet của VNA thuộc vào hàng tệ nhất.

Viết đến đây tôi chợt nhớ ví đồ cá nhân (tôi hay nói đùa là “hành trang” cho khách hạng thương gia) của VNA. Trước đây hành trang cho khách là một cái ví nhỏ có dụng cụ vệ sinh cá nhân (như kem, bàn chải đánh răng, vớ, v.v…) mà phía ngoài có logo của VNA, nhưng cái bag quá nhỏ giống như đồ chơi cho con nít. Nay thì cái bag lớn hơn chút, nhưng logo VNA biến mất dành cho nhãn hiệu Clarins! Không hiểu sao họ không đặt các hãng sản xuất và để nhãn hiệu VNA? Đáng lẽ lên VNA thì tất cả phải là của VNA, chứ sao lại đi mua từ siêu thị như thế?

Thứ ba là thức ăn. Trong suốt chuyến bay đi và về, tôi không thể nào có can đảm để ăn thức ăn của VNA. Hôm tôi đi, nghe nói món ăn do đầu bếp Úc nấu. Nhìn qua thì ôi thôi rất ư là nhếch nhác. Hôm về thì có tô phở gà mà khi dọn ra tôi phải nói với tiếp viên là nên dọn vào cho khuất mắt tôi (nhìn hình). Tô phở gì mà chẳng thấy soup đâu cả, toàn là bún mà cũng thuộc loại (xin lỗi bạn đọc) dành cho heo ăn, chứ không phải dành cho người. Đó là chưa kể đến cái mâm dọn ra trông rất ư là “bao cấp”, với những món ăn cứ chồng chéo lên nhau trông không thể nào ăn được. Chẳng hiểu sao các bạn trong VNA không có cặp mắt tinh tế hay thẩm mĩ một chút để nhận ra những loại thức ăn và cách dọn bữa ăn rất ư là nhếch nhác và vô văn hóa như thế. Tôi chắc chắn rằng đó không phải là văn hóa ăn uống của người Việt mà VNA muốn giới thiệu cho thế giới.

Đó là chưa nói đến cách rót rượu của tiếp viên. Rót theo kiểu hà tiện. Chưa bao giờ thấy tiếp viên VNA rót rượu “đong đầy”, mà chỉ phân nửa li. Ngoài ra, tôi chưa bao giờ thấy tiếp viên VNA rót rượu đúng cách. Họ cũng chẳng có kiến thức về rượu, nên không thể nói gì với khách. Chỉ có 2 loại rượu (trắng và đỏ) mà chất lượng thì thuộc vào hạng bét, giá chắc khoảng 9-10 đôla một chai mua ngoài siêu thị (mà có lẽ tiếp viên cũng chẳng biết đó là rượu hạng bét). Nhiều khi họ cũng chẳng biết dùng li loại gì cho rượu gì! Sau khi ăn thì chẳng có trái cây gì cả, chẳng có cracker, chẳng có cognac để làm món "finale" gì cả.

Thứ tư là sự nhiệt tình trong phục vụ. Tôi để ý thấy tiếp viên VNA phục vụ theo công thức: dọn bữa ăn, thức uống, cà phê hoặc trà, và sau đó là dọn mâm cơm. Họ làm rất nhanh bước thức uống và cà phê, hình như để tiết kiệm thời gian. Sau chu kì đó họ … biến mất. Tôi thường tò mò tìm hiểu xem họ làm gì sau chu kì phục vụ thì thấy họ tụm nhau ngồi tán dóc hoặc … ngủ. Trong khi đó đi với các hãng khác, tiếp viên liên tục luân phiên đi để xem hành khách có nhu cầu gì và phục vụ; họ phục vụ tận tình đến nỗi có khi khách không có thì giờ làm việc! Sau bữa ăn là đĩa trái cây; sau đĩa trái cây là cognac; sau cognac là bánh gì đó; và sau bánh là thức uống kèm theo một bịt snack, v.v… Còn di với VNA thì sau bữa ăn là … ngủ. Tại sao người ta phục vụ tận tình như thế, mà VNA thì không làm theo được?

Chị HG ghi chép cẩn thận những gì tôi chỉ ra, chị ấy cũng đồng ý với tôi, hứa là sẽ phản ảnh với cấp trên để cải tiến phục vụ.

Nếu bạn đọc còn nhớ, tôi từng phàn nàn rằng bay với VNA là chấp nhận mù thông tin, và tôi có đề nghị cơ trưởng nên cung cấp thông tin về chuyến bay cho hành khách. Tôi có thể vui lòng để báo cho các bạn biết rằng trong chuyến bay này, VNA đã làm như thế. Tuy nhiên, thay vì cơ trưởng nói, thì tiếp viên trưởng lại là người xướng ngôn. Hiện nay, họ chỉ nói máy bay đang bay ở cao độ nào, thời tiết ra sao, và ... hết. Đáng lí ra họ phải nói thêm về chuyến bay qua vùng đất nào, về hành khách, hay quảng cáo Việt Nam một chút chứ, hay có vài câu pha trò để làm bớt căng thẳng trong chuyến bay dài. Theo tôi, cách nói hiện nay của tiếp viên VNA ... chưa đạt. Tôi có nói với chị HG rằng những thông tin chị cung cấp cũng ok, nhưng chị có thể làm tốt hơn nữa. Tôi đề nghị chị có thể scan hành khách để biết ngày sinh của họ, và nếu ngày sinh trùng vào ngày bay, chị nên nói lời chúc mừng sinh nhật đến hành khách. Chị ấy có vẻ thích thú với đề nghị này, nhưng hiện thời thì chưa thể nói thế được, bởi vì còn phải … chờ cấp trên cho phép. Hình như ở Việt Nam, nhân viên không có độc lập trong công việc, cái gì cũng chờ cấp trên và cái gì cũng làm theo công thức. Do đó, muốn cải tiến dịch vụ VNA thì cần đến sự tác động của cấp trên.

Tôi còn có dịp bay nhiều chuyến với VNA trong các chuyến đi công tác quốc nội. Bay từ Sài Gòn ra Hà Nội (và ngược lại), hoặc từ Sài Gòn về Rạch Giá. Nói chung những chuyến bay ngắn thì tôi thấy dịch vụ VNA tốt. Chỉ có vấn đề trễ giờ, gần như trở thành một cái "bệnh" của VNA. Tôi cố tình nhớ lại và hình như không có chuyến bay nào là đúng giờ cả. Hôm 20/12 bay từ Sài Gòn ra Hà Nội, tôi được báo rằng chuyến bay trễ 3 giờ đồng hồ. Vì sợ trễ hẹn với các đồng nghiệp ngoài đó, tôi phải năn nỉ họ mới chuyển sang chuyến bay kế tiếp, nhưng vẫn trễ hơn 1 giờ. Ngồi trong lounge, tôi cũng gặp vài nạn nhân người ngoại quốc. Có một ông khách ngoại quốc gọi điện thoại cho ai đó cằn nhằn rằng VNA cứ trễ hoài. Quay sang tôi, ông ta hỏi bằng tiếng Anh giọng lơ lớ: "Ông cũng là nạn nhân hả?" Tôi gật đầu. Ông khách bức xúc hỏi tôi rằng có biết hãng này tên là gì không, rồi không đợi tôi trả lời, ông nói "Sorry Airlines". Rồi ông gật gù coi rất khó ưa. Vì trễ chuyến bay hoài nên nhân viên phải nói "xin lỗi" (sorry) và giới thương gia đặt VNA cái tên Sorry Airlines. Tôi là người Việt, cũng thấy chạm tự ái, nên lợi dụng lợi thế tiếng Anh của mình giảng cho ông ta một mạch: Tao nghĩ mày nói hơi oan cho VNA. Ừ thì họ chưa tốt như mình muốn, nhưng sự thật là hãng nào trên thế giới cũng bay trễ cả, có khác nhau là tần suất trễ mà thôi. Tao đi mấy hãng bên Mĩ hoài, có khi chúng nó còn cho tao ngủ bờ ngủ bụi ở phi trường nữa kìa, mà chúng nó có xin lỗi gì bọn tao đâu. Ông khách nhìn tôi kinh ngạc hỏi: Mĩ mà còn thế à? Tôi hỏi lại thì mới biết ông này là khách người Nga! Hèn gì tiếng Anh của ông ta tệ quá. Nga mà còn làm phách chê VNA trễ ?! Đúng là chuyện ngược đời!

Nói tóm lại, tôi nghĩ VNA đã cải tiến rất nhiều về phục vụ và dịch vụ, nhưng còn rất rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Tôi hi vọng rằng những nhận xét và góp ý chân tình trên đây sẽ giúp cho VNA nhìn lại phong cách phục vụ của mình để cải tiến tốt hơn và cạnh tranh với các hãng hành không quốc tế khác.

(Còn tiếp)

PS. Viết xomg entry này, tôi nhận được một phản hồi như sau:


"Thầy kính mến,

Em mới đọc bài "Ghi chép cuối năm 2" trên trang web của thầy. Nhìn chung em rất đồng tình với đóng góp của thầy về vấn đề phục của Vietnam Airlines và hi vọng họ sẽ tiếp thu những ý kiến đó. Tuy nhiên ở cuối bài, thầy có nói: "Nga mà còn làm phách chê VNA trễ ?! Đúng là chuyện ngược đời!". Em có cảm giác rằng thầy không có cảm tình với nước Nga và người Nga.


Với trang web của thầy, em là bạn đọc thường xuyên. Trong số những bài viết của thầy có liên quan đến nước Nga hay con người Nga thì thường thầy nói lên những mặt trái. Thầy không thích kiến trúc Nga, rằng Nga có thể mạnh về toán và vật lý nhưng y học Nga thì đại loại giết người giỏi hơn cứu người...Em hoàn toàn tôn trọng quan điểm riêng của thầy, nhưng quay lại câu nói ở trên:"Nga mà còn làm phách chê VNA trễ ?! Đúng là chuyện ngược đời!" thì em thực sự không đồng tình. Theo như thầy nói thì chuyến bay bị trễ, tất nhiên là hành khách không thoải mái vì điều đó và người ta có quyền "chê" bất cứ họ là nguời Việt, người Nga hay người Úc. Em không hiểu vì sao thầy lại nói như trên. Dù bản thân nước Nga và con người Nga hiện đang có rất nhiều vấn đề nhưng so với Việt Nam thì có lẽ không ai phủ nhận họ hơn rất rất nhiều.


Em gửi tới thầy lời chúc sức khỏe và thành công."
Read more ...

Ghi chép cuối năm 1: Những người bạn

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011
Hơn 3 tuần ở Việt Nam, tôi có dịp quan sát và lắng nghe những chuyển động trên quê hương. Trong những entry sau đây, tôi cố gắng ghi lại những gì mình thấy và cảm nhận được ...


6/12. Tôi lên đường đi Hà Nội. Những ngày tháng cuối năm và đầu năm luôn là những thời điểm bận rộn đối với tôi. Chẳng hiểu vì lí do gì mà ở Việt Nam có rất nhiều hội nghị, hội thảo, seminar, workshop, v.v… thường được tổ chức vào dịp cuối năm. Năm nay cũng không phải là ngoại lệ. Tôi được vinh hạnh đóng góp một phần nhỏ của mình cho vài hội thảo, tập huấn và seminar từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Đầu tiên là 2 workshop về “getting papers published in academic journals” (cách thức công bố bài báo khoa học trên các tập san học thuật) do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức ở Hà Nội (14/12) và TPHCM (16/12). Kế đến là một tập huấn 5 ngày cho một nhóm y tế phi chính phủ ở Hà Nội. Sau đó là hội thảo về “physical activity and non-communicable diseases” (vận động thể lực và các bệnh không lây nhiễm) do WHO tổ chức ở Hà Nội (21/12). Tiếp theo và xen kẽ là một workshop 10 ngày về ứng dụng thống kê học trong nghiên cứu khoa học (nằm trong chương trình nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của Ngân hàng Thế giới) của Đại học Quốc gia TPHCM. Ngoài ra, còn có những buổi seminar tại Đại học Tôn Đức Thắng, Viện Phát triển bền vững (một cái tên khá nực cười, mà thực chất là Viện khoa học xã hội ở phía Nam), vài bệnh viện, và một buổi trao đổi với vài anh chị trong Đại học Quốc gia TPHCM. Chỉ có 4 ngày về thăm nhà dưới quê. Nói chung là một chuyến đi bận rộn, bận từ ngày đặt chân xuống Việt Nam cho đến ngày lên máy bay về Sydney.

Điều may mắn là tôi “sống sót” qua những ngày làm việc bận rộn như thế. Mấy năm trước, tôi thường đi chung với một cộng sự của tôi để tiếp giảng bài, nhưng lần này chỉ có một mình tôi … lãnh đủ. Với hơn 50 bài giảng, và 4 bài lecture, tôi lo lắng không biết mình còn sống sót được bao lâu, bởi vì kinh nghiệm trước đây cho thấy chỉ nói đến ngày thứ 4 hay cao lắm là ngày thứ 5 thì giọng tôi bắt đầu có vấn đề. Có khi các học viên thương tình cho uống nước giá (vì họ nói các ca sĩ uống nước giá mà hát được lâu!) Lần này thì chẳng có cộng sự viên và cũng chẳng có nước giá, nhưng nhờ trời [sanh voi sanh cỏ] nên tôi chẳng hề hấn gì cho đến ngày cuối cùng rời Việt Nam. Như vậy là một sự sống sót rất đáng kể!

Trong chuyến đi này tôi đã có dịp làm quen với nhiều bạn Việt Nam và Úc. Một trong những người tôi từng nghe qua và thỉnh thoảng có đọc bài là anh LQT, từng là vụ trưởng Vụ Đại học của Bộ GDĐT, người đã có nhã ý mời tôi về giảng trong workshop về “getting papers published in academic journals”. Tôi cũng có dịp quen với 3 giáo sư người Úc nhưng nặng lòng với giáo dục Việt Nam. Chúng tôi bàn luận về nhiều vấn đề liên quan đến giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, những câu chuyện mà hình như không có hồi kết. Ai cũng muốn làm gì đó để gây tác động tích cực đến giáo dục, một lĩnh vực có thể đưa Việt Nam lên một tầm cao hơn nữa trên trường quốc tế, nhưng hình như ai cũng cảm thấy … bó tay. Thôi thì mỗi người đồng ý với nhau là làm hết mình trong khả năng có thể để góp một tay vào việc chung.

Những ngày ở Hà Nội cũng là những ngày kỉ niệm, vì tôi có dịp gặp các bạn mà xưa nay chỉ biết qua các bài viết. Đó là các anh PĐC, ĐHC, TQB (và bà xã là BTN), và một vài bạn bên Đại học Bách khoa mà tôi rất tiếc không nhớ hết tên. Chúng tôi đã có một buổi trao đổi vui vẻ, ý hợp tâm đầu về những vấn đề khoa học, những vấn đề mà Tia Sáng đã và đang nêu từ những 10 năm qua. Hôm đó còn có một người khách đặc biệt của Bộ Khoa học và Công nghệ là anh PHS. Tôi nói “đặc biệt” vì vai trò của anh trong Quĩ Nafosted, một chương trình đang gây tác động tích cực đến nghiên cứu khoa học trong nước. Có một bạn trẻ ở TPHCM nói với tôi là từ ngày đi du học về nước đến giờ, lần đầu tiên anh xin được tiền tài trợ cho nghiên cứu một cách công minh và không có “bôi trơn” gì cả, nhờ vào Quĩ Nafosted. Cách đây vài tháng tôi có viết một bài trên Tuổi Trẻ, phân tích nêu lên sự mất cân đối trong việc phân phối tài trợ của Quĩ Nafosted mà tôi đoán là anh PHS đã phải rất vất vả với giới báo chí. Tôi nghĩ gặp tôi chắc anh ấy sẽ hầm hầm nhắc đến chuyện “ân oán” đó (như một quan chức y tế từng làm như thế với tôi). Nhưng hoàn toàn không, anh PHS vui vẻ chuyện trò với tôi, và nói về những khó khăn và bất cập trong việc tài trợ cho nghiên cứu một cách rất cởi mở. Anh ấy nói rằng đã đi từ Bắc chí Nam để quảng bá cho Quĩ Nafosted, cũng từng có người ủng hộ nhưng cũng gặp vài chống đối. Trong một buổi nói chuyện ở Viện phát triển bền vững (TPHCM), anh viện trưởng cũng có nói rằng anh PHS từng vào Sài Gòn để nói về Nafosted, nhưng chẳng hiểu tại sao rất ít nhóm nghiên cứu ở phía Nam xin tài trợ. Điều làm tôi thấy “ấm lòng” từ anh PHS là một “quan chức” trong Bộ có tầm nhìn tốt, tư cách trong sáng, và cách ứng xử văn minh khoa học. Có thể người của Bộ Khoa học và Công nghệ có khoa học tính hơn các Bộ khác chăng?

Lần đầu tiên tôi có dịp làm quen với các bạn trong nhóm CHIP ở Hà Nội do Bs THM lãnh đạo. Đây là một nhóm y tế phi chính phủ, chuyên thực hiện những dự án nghiên cứu do nước ngoài “đặt hàng” hoặc tài trợ. Đó là một nhóm bạn trẻ, có học thức cao, có kinh nghiệm thực tế dồi dào, và rất năng động. Lần đầu tiên gặp các bạn ấy tôi có cảm tình ngay, vì phong cách làm việc rất Tây và hữu hiệu (tức là không có những màn “hành là chính”). Tôi đã có suốt 5 ngày làm việc với nhóm về các vấn đề phương pháp nghiên cứu rất hào hứng và thú vị.

Tôi cũng đã có dịp gặp nhiều bạn từ Bắc chí Nam, một số bạn mà trước đây chỉ biết tôi qua website cá nhân. Ngày đầu tiên đến Hà Nội, việc đầu tiên của tôi là tìm đường đi từ khách sạn Melia đến khu bán sách Tràng Tiền. Đây là khu phố có nhiều tiệm sách, nhưng tôi thất vọng về hàm lượng sách vở trong các tiệm này. Vào nhà sách nào cũng “hoành tráng”, nhưng sách thì chẳng có bao nhiêu. Những cuốn sách mình cần thì họ không có; ngược lại, những cuốn sách họ có thì mình chẳng cần, thậm chí chẳng thèm nhìn đến. Tôi lang thang hết nhà sách này sang nhà sách khác mà không thể nào tìm được cuốn “Một thởi để mất” của Bùi Ngọc Tấn và “Văn hóa Việt Nam - tự ngấm mình” của Nguyễn Hoàng Đức. Thất vọng ê chề.

Hết các tiệm sách lớn của Nhà nước, tôi lang thang vĩa hè với nhiều tiệm sách nhỏ tư nhân. Trong số này tôi ấn tượng một tiệm sách của một anh tên là Đức. Anh chắc ở độ tuổi đầu 60, tóc hoa răm kiểu nghệ sĩ, và phong cách bán sách cũng rất … văn nghệ. Nếu cần và tùy vào khách hàng (chẳng hạn như tôi), anh ấy tặng sách mà không lấy tiền. Thấy anh ấy đang ngồi uống bia hơi và bàn chuyện văn học với một anh (mà sau này tôi biết là một nhà thơ tên là Sơn ở Melbourne), tôi chú ý đến người chủ tiệm sách. Anh ấy cũng chú ý đến tôi, có lẽ vì tôi nấn ná tìm sách cũ và quyết chí hỏi đến nơi đến chốn những gì tôi muốn biết. Anh mời tôi uống bia hơi, và thế là chủ và khách trò chuyện rơm rả. Một lúc sau thì có một người khách khác đáp xe Honda đến: đó là Nhà văn Nguyễn Văn Thọ (Việt kiều Đức, nhưng hình như đã hồi hương hay lưu lại ở Việt Nam một thời gian dài). Chuyện trò một hồi câu chuyện lan sang Nam Phong tạp chí, Tự Lực Văn Đoàn, và cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Anh Đức chỉ tay lên căn gác của tiệm sách và cho biết cụ Nguyễn Văn Vĩnh từng làm việc ở trên đó. Hà Nội đúng là nơi có nhiều dấu vết lịch sử.

Từ tiệm sách của anh Đức tôi dạo phố Tràng Tiến và gặp một bạn đọc. Trong khi chờ đèn giao thông để băng qua đường, thì một anh nhìn tôi và nói gì đó tôi nghe không rõ vì xe cộ quá ồn ào. Tôi xin lỗi anh và hỏi lại anh nói gì. Hóa ra, anh ấy hỏi “Anh có phải là thầy Tuấn không?” Một chút ngỡ ngàng! Tôi nói vâng, và hỏi làm sao anh biết tôi tên Tuấn. Anh ấy nói anh là là một độc giả trang web của tôi. Anh còn cho biết rằng đã download tất cả những bài về kĩ năng mềm trong trang web. Tối hôm đó, anh sẽ bay đi Nhật để theo học PhD về chất độc da cam. Tôi bán tín bán nghi, và hai chúng tôi qua đường thì gặp 2 phụ nữ Nhật, một người là người cô hướng dẫn tương lai của anh và một người khác có lẽ là chuyên gia gì đó. Anh giới thiệu tôi với chị người Nhật, và thêm rằng tôi quan tâm đến vấn đề dioxin. Tôi không còn nghi ngờ gì nữa: anh ta là một nghiên cứu sinh chứ không phải […:-)]. Thế là chúng tôi đứng ngay góc đường đó, bên cạnh siêu thị Tràng Tiền, nói chuyện sôi nổi về đề tài này. Tôi đề nghị một số mô hình nghiên cứu cho hai người. Chúng tôi tiêu ra gần 20 phút, đến nỗi chị người Nhật kinh ngạc nói “không bao giờ nghĩ rằng chúng ta bàn chuyện khoa học ở cái nơi trớ trêu này”. Chia tay hai người mà tôi quên hỏi tên, nhưng anh bạn hứa sẽ liên lạc qua email. Thế giới này thật đúng là là một vòng tròn!

Trong chuyến bay từ Sài Gòn ra Hà Nội ngày 6/12 tôi lại có thêm một tình cờ. Trong khi loay hoay tìm chỗ ngồi, thì một nam tiếp viên tươi cười nói với tôi từ phía sau lưng “Anh Tuấn có thể ngồi bất cứ đâu, vì hôm nay chỉ có 5 khách trong khoan này thôi”. Tôi kinh ngạc vì tưởng những đề nghị “personalized greeting” của mình đã được ghi nhận, nhưng thật ra thì không phải. Tôi hỏi làm sao anh biết tên tôi, thì anh nói rằng anh nhận ra tôi vì đã thường xuyên đọc trang web của tôi. Tôi đoán thầm chắc là đọc những bài tôi viết về các hãng hàng không và VNA. Anh còn nhận xét dạo cuối năm tôi có vẻ viết ít đi, và tôi chỉ cười nói vì phải lo chuyện cơm áo gạo tiền ... Rất tiếc là tôi quên tên anh, nhưng tôi chỉ nhớ đó là chuyến bay VN782 từ Sài Gòn đi Hà Nội, 6PM ngày 6/12/2010.

Hôm ở Sài Gòn, tôi cũng gặp một anh bạn trong tình huống khá đặc biệt. Hôm đó, tôi đang ăn ở quán bún bò Huế trên đường Cao Thắng, thì có một nhóm người gồm 2 Việt Nam và 2 Tây đi ngang. Hai anh người Việt nhìn tôi một hồi và hỏi tên tôi. Nhận ra ngay vì biết qua ... trang web cá nhân. Đó là anh HBH và hai giáo sư người Hà Lan trong nhóm EYECare Foundation. Anh H cho biết đã đăng kí lớp học, nhưng chắc không tham dự được vì phải đi công tác xa. Còn hai người Hà Lan thì sẽ bay về nước hôm đó. Thế là chúng tôi chụp chung một bức hình lưu niệm.

Tương tự, hôm đi Bến Tre, mới ghé qua quán hủ tíu Mỹ Tho, đã có hai người đang uống cà phê vỉa hè nhận ra tôi. Hai anh bạn này hỏi tài xế lái xe có phải là tôi vừa ghé quán, và anh tài xế hỏi tôi. Rồi khi ghé qua nhà của Má của M ở Tiền Giang cũng thế, hai anh bạn bên cạnh nhà cũng nhận ra tôi, nhưng chúng tôi không có dịp trò chuyện vì phải đi Bến Tre ngay. Những người bạn dọc đường như thế đôi khi làm cho tôi thấy mình ấm lòng ...

Hội thảo và seminar cũng là dịp tôi biết được những người bạn mới, nhưng là những bạn đọc của trang web. Hai buổi hội thảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo là dịp tôi gặp những người bạn đã biết tôi qua những bài viết trên trang web cá nhân và báo chí. Có người nói (và làm tôi cảm động) rằng phải lái xe cả trăm cây số đến đây để trước là tham dự hội thảo, và sau là gặp mặt tôi cho biết. Chẳng hạn như trong hội thảo về “physical activity and non-communicable diseases” ở Khách sạn Fortuna hôm 21/12, có một chị bác sĩ trẻ đến tự giới thiệu là người đã liên lạc tôi qua email và quyết đến tham dự vào buổi hội thảo, và chị ấy nhận xét rằng tôi nói cũng như viết. Chị ấy còn cho biết cách đây vài tuần Bộ Khoa học và Công nghệ có tổ chức một buổi tập huấn về cách viết bài báo khoa học và sử dụng nhiều tài liệu cũng như những bài viết của tôi trên trang web cá nhân. Chị ấy còn kể hôm đó, thầy giảng hỏi học viên có ai từng ghé qua trang web thì khoảng 2/3 dơ tay là từng ghé thăm. Ngoài các bạn trên, tôi còn có dịp gặp nhiều bạn khác ở các đại học và trung tâm nghiên cứu. Điều làm tôi cảm động là các bạn ấy nói đã từng biết tôi qua trang web cá nhân, và có nhiều lời khuyên rất thiết thực.
Mười ngày tập huấn ở Đại học Bách khoa TPHCM cũng là dịp tôi gặp lại nhiều bạn cũ và mới. Gặp gỡ và trao đổi với các bạn ấy (rất nhiều là giảng viên đại học hay chuyên viên trong các công ti lớn) tôi thấy nhu cầu về khoa học thống kê ở VN cực kì lớn, nhưng không có một đại học nào có bộ môn này. Thật ra, có đại học trên danh nghĩa là có bộ môn xác suất thống kê, nhưng chương trình dạy thì quá cổ điển, chẳng ăn nhập gì với thực tế. Nếu có thể lấy một bộ môn để làm ví dụ tiêu biểu về sự kém thích ứng của giáo dục đại học Việt Nam thì bộ môn thống kê là một ví dụ tuyệt vời. Những gì nhà trường dạy không đáp ứng được nhu cầu thực tế; ngược lại, những gì cần được dạy thì trường không có giảng viên để đảm trách. Hi vọng rằng trong tương lai gần một đại học sẽ đứng ra đảm nhiệm và lấp vào khoảng trống này. Tôi đã có dịp quen biết (hay “phát hiện”) vài bạn mà theo tôi là giỏi và có tiềm năng rất tốt cho nghiên cứu thống kê học, nếu gặp đúng thầy cô định hướng đúng cho họ.

Buổi nói chuyện ở ĐH Tôn Đức Thắng cũng là một vinh hạnh cho tôi. Đây là lần đầu tiên tôi đến đây, nên tôi không ngờ ĐH TDT có qui mô khá lớn (trên 25 ngàn sinh viên) và có một khuôn viên đẹp như hiện nay ở Quận 7. Mới vào đại học, tôi thấy ngay lối kiến trúc “khoa bảng”, khác hẳn lối kiến trúc của ĐHQG TPHCM (rất u ám, đe dọa kiểu Liên Xô, và bên trong thì giống như một siêu thị hơn là một đại học). Hôm đó, tôi cũng nói về các vấn đề liên quan đến khoa học và công bố kết quả nghiên cứu (mà Thanh Niên đã có phỏng vấn), và có một trao đổi thú vị với các giảng viên trẻ từ nước ngoài về. Một số giảng viên là cựu nghiên cứu sinh của anh Nguyễn Đăng Hưng hay trong chương trình du học Bỉ của anh ấy. Tôi phải ghi thêm rằng các bạn ở đó đã rất chuyên nghiệp trong việc thể hiện lòng “hiếu khách”, một điều tôi rất hiếm thấy ở các đại học VN.

Những ngày ở Việt Nam luôn là những ngày bận rộn nhưng ấm lòng. Xin mượn entry này để nói lời cám ơn chân thành đến các bạn đã dành cho tôi lòng "hospitality" trong thời gian qua. Hi vọng lần sau sẽ gặp lại một số bạn mà lần này chưa gặp được do thời gian eo hẹp (và tôi phải xin lỗi).

(còn tiếp …)
Read more ...

Vị thế khoa học là thể diện quốc gia

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

Hôm 4/1 tôi được mời nói chuyện tại Đại học Tôn Đức Thắng, nơi cháu gái tôi từng theo học ở đây (và bây giờ nó thành quan chức rồi). Buổi nói chuyện xoay quanh vấn đề vị thế khoa học VN trên trường quốc tế, và vấn đề nghiên cứu khoa học trong nước. Hội trường đông nghẹt người, và tôi nói trong vỏng 3 giờ đồng hồ.  Hôm đó có phóng viên báo chí, trong đó có báo Thanh Niên, đến dự.  Bài phỏng vấn sau đây do phóng viên Đăng Nguyên thực hiện ngay sau khi buổi nói chuyện kết thúc.  Xin nói thêm rằng các bạn bên ĐH Tôn Đức Thắng không hài lòng tấm hình, vì chụp trong giờ giải lao, và do đó không phản ảnh đúng số lượng cũng như sự chăm chỉ của người nghe. Tôi thì ít khi nào dám nhìn hình mình :-).

Nhân đây, tôi muốn cám ơn các bạn bên ĐH Tôn Đức Thắng và các bạn bên báo Thanh Niên.  




Vị thế khoa học là thể diện quốc gia

06/01/2011 15:07
GS Nguyễn Văn Tuấn trong buổi nói chuyện tại trường ĐH Tôn Đức Thắng ngày 4.1 - Ảnh: Đăng Nguyên
Giáo sư (GS) Nguyễn Văn Tuấn - Viện Nghiên cứu y khoa Garvan ĐH New South Wales (Úc), vừa về nước tham gia các cuộc hội thảo khoa học và những buổi nói chuyện chuyên đề nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học (NCKH) cho giảng viên Việt Nam (VN).

Ông cho rằng lực lượng chính để tăng cường sự hiện diện của VN trên bản đồ khoa học thế giới chính là giảng viên và nghiên cứu sinh.

Theo GS, hoạt động NCKH của VN đang đứng ở đâu?

Số lượng bài báo NCKH công bố quốc tế của chúng ta tăng hơn trước. Năm 2010, theo thống kê, lần đầu tiên chúng ta vượt con số 1.000 bài báo/năm, cao hơn số lượng các bài báo NCKH của Indonesia và Philippines. Chứng tỏ chúng ta có tiềm năng rất lớn về vấn đề này. Sự xuất hiện của Quỹ NAFOSTED (Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia) là một bước rất quan trọng trong việc đẩy mạnh hoạt động NCKH. Hơn nữa, Bộ Khoa học và Công nghệ nhận ra tầm quan trọng của NCKH nên đã có nhiều hành động để thúc đẩy công tác này.

Nhưng hoạt động NCKH của chúng ta còn khá khiêm tốn. Chất lượng bài báo công bố quốc tế đang còn thấp (41% bài báo đã được đăng trong lĩnh vực Toán, Kỹ thuật không ai trích dẫn). Đầu tư cho NCKH cũng chưa được đồng bộ. Chúng ta cũng thiếu các trung tâm xuất sắc (hiện tại chỉ có một Trung tâm xuất sắc John Von Neumann vừa được thành lập tại ĐH Quốc gia TP.HCM trong năm 2010 - PV). Và hoạt động NCKH cũng đang thiếu sự đóng góp nhiều của Việt kiều, thành phần có nhiều tiềm năng để đẩy mạnh công tác này.

Nạn “đạo văn” đang là vấn đề trong hoạt động NCKH tại VN. Theo GS, nên làm gì để hạn chế việc này?

Để cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới, hướng đi của công tác NCKH là chú trọng chất lượng chứ không phải số lượng



Ở những nước có hoạt động NCKH mạnh đều có một Hội đồng đạo đức. Chính Hội đồng đạo đức này sẽ thông qua đề cương nghiên cứu, xem cách làm, thông tin có vi phạm về đạo đức không. Một số nước, trong hội đồng này còn có cả đại diện của quần chúng. Bởi vậy, VN cũng cần có một Hội đồng đạo đức để thông qua những công trình NCKH mới có thể hạn chế tình trạng “đạo văn” như hiện nay.

Để đẩy mạnh công tác NCKH, nâng cao vị thế khoa học trên thế giới, trước mắt chúng ta cần phải làm gì, thưa GS?

Theo thống kê, hiện có đến 71% bài báo NCKH của VN công bố quốc tế là cộng tác với các nhà khoa học ngoài VN. Điều này một phần là do nước ta chưa có nhiều chuyên gia, giáo sư hàng đầu. Bởi vậy, hiện tại nên hợp tác nhiều với nước ngoài để tạo nên các công trình NCKH ấn tượng. Nhưng cũng không nên để mất quyền làm chủ của mình trong việc NCKH. Thái Lan trước kia cũng đi theo hướng này và hiện tại tần suất hợp tác đã giảm hơn cũng như làm chủ nhiều hơn với các công trình NCKH của mình.

Nguồn: GS Nguyển Văn Tuấn cung cấp

Để cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới, hướng đi của công tác NCKH, theo tôi, là chú trọng chất lượng chứ không phải số lượng. Số lượng bài báo NCKH của chúng ta đang thua kém so với nhiều nước khác thì khi chúng ta tăng số lượng lên, các nước cũng sẽ tăng lên. Vì vậy, cần đầu tư vào những chương trình có hiệu quả nghiên cứu cao, phương án tốt, công bố tại những tập san khoa học có uy tín để nâng cao vị thế của chúng ta lên.

Dự định của GS trong tương lai về lĩnh vực NCKH nói riêng?

Tôi vẫn sẽ giúp đỡ các đồng nghiệp, nghiên cứu sinh công bố các bài báo khoa học, giảng dạy các khóa ngắn hạn. Tôi không đủ điều kiện về VN thường xuyên nhưng đã làm hết sức mình với việc góp tay cho khoa học nước nhà.

Trong tương lai, tôi mong sẽ thành lập được một trung tâm nghiên cứu y sinh học ngay tại VN, là nơi hội tụ nhiều chuyên gia về y sinh trong và ngoài nước làm những chương trình nghiên cứu có chất lượng. Có như vậy thì NCKH mới không bị phụ thuộc những quốc gia khác. Nhưng nói thật, với sức một mình tôi, điều ấy là khó vô cùng.
Đăng Nguyên
Read more ...

Nghiên cứu khoa học và giấc mơ top 200

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011
Đây là bài "khai bút" đầu năm 2011 cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần. Thật ra, đây là bài thứ nhất trong loạt bài bàn về khoa học và vấn đề "công bố quốc tế" mà tôi nói chuyện trong Hội thảo "Getting papers published in academic journals" do Bộ GD ĐT tổ chức vào cuối tháng 12 ở Hà Nội và Sài Gòn vừa qua. Ngoài tôi còn có anh Phạm Duy Hiển cũng nói chuyện trong Hội thảo, và bài phỏng vấn của anh được đăng lại dưới đây để các bạn tham khảo. NVT


Nghiên cứu khoa học và giấc mơ top 200

TTCT - Việt Nam đang phấn đấu để đến năm 2020 có một vài trường đại học hàng đầu lọt vào danh sách 200 đại học hàng đầu trên thế giới.

Một trong những tiêu chuẩn quan trọng của top 200 này là nghiên cứu khoa học và thành tích công bố quốc tế. Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình công bố quốc tế hiện nay, ước vọng top 200 có lẽ sẽ chỉ là một ước mơ thiếu thực tế.

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động thiết yếu, nếu không muốn nói là số 1 của một đại học đẳng cấp quốc tế. Các đại học ngày nay nói chung được xây dựng dựa trên ý tưởng và mô hình của Von Humboldt, theo đó đại học đóng vai trò một trung tâm văn hóa và nhân văn, với chức năng giảng dạy, nghiên cứu, sáng tạo tri thức mới và chuyển giao công nghệ cho nền kinh tế. Chính thực lực và thành tích nghiên cứu khoa học là một chỉ tiêu định hình và phân biệt một đại học đẳng cấp quốc tế với một đại học “xoàng”.

Đại học đóng góp vào sáng tạo tri thức mới qua ba hoạt động chính: nghiên cứu tri thức mới, đào tạo nhân tài, và dung hòa những khác biệt văn hóa, trong đó vai trò nghiên cứu của đại học ngày càng được xem là quan trọng. Một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế tri thức mà VN đang hướng tới là khả năng sáng tạo, thể hiện qua cải tiến công nghệ, mà thước đo cụ thể là số bài báo khoa học và bằng sáng chế.

Công bố quốc tế: Chúng ta đang ở đâu?

Trong năm 2010, các nhà khoa học VN công bố được khoảng 1.000 bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế. Con số này tăng so với thời gian 2004-2009, nhưng vẫn còn rất khiêm tốn so với các nước trong vùng. Số lượng công trình khoa học của VN được công bố trên các tập san khoa học chỉ bằng khoảng 1/4 Thái Lan và 1/8 Singapore, và vị thế này không thay đổi đáng kể trong năm năm qua.
Một đại học, 6 cái tên
ĐH Khoa học tự nhiên Hà Nội xuất hiện trên các tạp chí quốc tế dưới ít nhất sáu tên gọi khác nhau, điều mà theo GS Phạm Duy Hiển, có thể tác hại đến việc xếp hạng.
Hanoi Natl Univ
Hanoi Univ Sci
Vietnam Natl Univ, Coll Nat Sci
VNU Hanoi, Univ Sci
Univ Hanoi
Vietnam Natl Univ Hanoi, Coll Sci

Một điều đáng quan tâm khác là trên 60% công trình khoa học VN công bố trên các tập san quốc tế là do hợp tác hay làm việc chung với các nhà khoa học nước ngoài. Nói cách khác, chỉ có khoảng 40% công trình nghiên cứu là “thuần Việt”. Do đó trên thực tế, thực lực khoa học nước ta còn rất thấp, chưa đủ để cạnh tranh trên trường quốc tế.

Số lượng như vậy, chất lượng cũng không cao. Đa số nghiên cứu khoa học của VN chỉ công bố trên những tập san có hệ số ảnh hưởng rất thấp. Ở bất cứ lĩnh vực khoa học nào, chỉ số trích dẫn của các nghiên cứu VN thuộc vào hàng thấp nhất. Khoảng 30-40% các bài báo về toán và vật lý VN chưa bao giờ được ai trích dẫn. Tỉ lệ không trích dẫn này trong ngành kỹ thuật lên đến 41%!

Nghiên cứu khoa học của VN vẫn tập trung vào những lĩnh vực lý thuyết và công nghệ thấp, với thế mạnh là toán học, vật lý, y tế công cộng và y học nhiệt đới... Ngược lại, các nước có nền kinh tế phát triển hơn VN có thế mạnh về các ngành khoa học ứng dụng như dược học, công nghệ sinh học, sinh hóa và sinh học phân tử, kỹ thuật...

Đã có nhiều người phân tích nguyên nhân tình trạng yếu kém của khoa học VN, từ thiếu đầu tư cho nghiên cứu khoa học, nhiều giảng viên và giáo sư không mặn mà với nghiên cứu khoa học, thiếu động cơ làm nghiên cứu khoa học đến thiếu môi trường khoa học lành mạnh, cơ chế quản lý khoa học còn nhiều bất cập, kém tiếng Anh...

Một trong những nguyên nhân các nhà khoa học không mặn mà với nghiên cứu khoa học là cơ chế cung cấp kinh phí vẫn “hành là chính”. Một giáo sư đã nghỉ hưu từng nói với người viết rằng ông rất sợ phải xin tài trợ từ sở hay Bộ Khoa học - công nghệ, vì ông phải đương đầu với hội đồng phản biện không am hiểu về lĩnh vực chuyên môn mình nghiên cứu, và ông càng hãi hơn khi phải tốn rất nhiều thời gian để làm thủ tục tài chính cho dự án nghiên cứu. Tất cả những nguyên nhân này dẫn đến tình trạng thiếu các nhà khoa học hàng đầu để dìu dắt khoa học VN.

Nhìn thách thức, thấy cơ hội

Nhưng những thách thức vừa trình bày thật ra cũng là những cơ hội. Có lẽ nên bắt đầu từ những giải pháp cụ thể, có thể tóm lược trong bốn lĩnh vực: đầu tư cho khoa học cơ bản, nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực trí thức, và chuẩn mực.

Đầu tư cho khoa học cơ bản: Không giống hoạt động sản xuất kỹ nghệ với những sản phẩm vật chất cụ thể mà công chúng có thể sử dụng được cho cuộc sống hằng ngày, sản phẩm của nghiên cứu khoa học cơ bản thường mang tính trừu tượng. Trong nhiều trường hợp, thành tựu của nghiên cứu khoa học chỉ hiển nhiên sau vài ba chục năm sau khi công trình nghiên cứu kết thúc.

Dựa vào mối liên hệ giữa đầu tư cho khoa học và công nghệ, có thể giải thích rằng sự đóng góp khiêm tốn của VN là do đầu tư của Nhà nước cho hoạt động này còn quá thấp? Mỗi năm, Bộ Khoa học - công nghệ phải hoàn trả trên 100 tỉ đồng cho ngân sách nhà nước vì không thể phân phối hết số tiền đó cho nghiên cứu khoa học. Do đó, vấn đề không phải là tăng đầu tư, mà là đầu tư và phân phối ngân sách sao cho có hiệu suất cao.

Khuyến khích nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực trí thức: Một ưu tiên quan trọng là cần có quy chế đảm bảo nhà khoa học và giảng viên có thể sống với đồng lương của mình, ngoài ra cần phải tưởng thưởng cho các giảng viên có công bố quốc tế.

Nghiên cứu khoa học ở tầm quốc tế đòi hỏi các phương tiện khoa học tương đối đắt tiền, có lẽ đó cũng chính là lời giải thích tại sao các nhà khoa học trong nước phải hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài.

Hợp tác trong nghiên cứu là một điều tốt trong hoạt động khoa học hiện đại, nhưng hợp tác như thế nào để thành quả và tri thức khoa học dựa trên chất liệu của VN vẫn là của người VN mới là vấn đề, nhất là hiện tượng “hợp tác khoa học theo kiểu nhảy dù”, trong đó các tác giả VN chỉ là “lính đánh bộ” và sở hữu tri thức vẫn là tác giả nước ngoài, dù chất liệu nghiên cứu là từ VN và của người VN!
Chuẩn mực: Khoa học VN còn quá khiêm tốn trên trường quốc tế và trong vùng một phần là do các đại học và trung tâm nghiên cứu khoa học nước ta chưa có những quy định về chuẩn mực nghiên cứu khoa học phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Hệ thống đề bạt giáo sư ở nước ta vẫn dựa vào các tiêu chuẩn “nội địa”, mà không mấy quan tâm đúng mức đến mức độ đóng góp vào khoa học có công trình đăng trên các tập san khoa học quốc tế.

Nên xem công bố kết quả nghiên cứu trên các tập san quốc tế là một chỉ tiêu để đánh giá các công trình nghiên cứu do Nhà nước tài trợ. Dự thảo về đào tạo tiến sĩ của Bộ Giáo dục - đào tạo mới đây cũng có quy định các nghiên cứu sinh tiến sĩ công bố ít nhất một bài báo khoa học trên các tập san quốc tế trước khi bảo vệ luận án. Nếu tiêu chuẩn hay quy định này được thực hiện tốt, có thể kỳ vọng rằng sự có mặt của khoa học VN trên trường quốc tế sẽ được nâng cao trong vài năm tới.

Mỗi năm, nước ta chi ra khoảng 400 triệu USD cho nghiên cứu khoa học. Con số này chiếm khoảng 0,17% GDP toàn quốc. Nhưng thành quả từ sự đầu tư đó vẫn chưa thể đo lường được do thiếu các chuẩn mực cụ thể.

Công bố quốc tế là một thước đo khách quan mà các nước tiên tiến đã áp dụng thành công để đánh giá hiệu quả của đồng tiền mà người dân bỏ ra. Nếu chúng ta chưa tạo ra được một thước đo mới, thì cách hay nhất là dựa vào chuẩn mực mà cộng đồng khoa học quốc tế chấp nhận: đó là công bố quốc tế.

“Cổ phần” ấn phẩm khoa học trên thế giới đang thay đổi nhanh chóng, với sự hiện diện của các nước đang phát triển ngày càng gia tăng. Năm 1985, số ấn phẩm khoa học từ Mỹ và Canada chiếm gần 40% tổng số ấn phẩm trên thế giới, nhưng đến năm 1991 con số này giảm còn 28,2%, và năm 1998 là 31,4%. Trong thời gian đó, số ấn phẩm từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hong Kong... lại tăng “cổ phần” từ 10% đến 24%.

Số ấn phẩm từ các nước Đông Nam Á, kể cả Việt Nam, cũng tăng nhanh trong thời gian 10 năm gần đây, tuy con số tuyệt đối vẫn còn khiêm tốn so với các cường quốc khoa học như Mỹ, Canada và các nước Tây Âu.

Đây chính là thời điểm lý tưởng để nâng cao sự hiện diện của khoa học Việt Nam lên một nấc thang cao hơn, qua việc tăng cường số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học trên trường quốc tế, cũng là bước cần thiết ban đầu để nghĩ đến ước nguyện “top 200” cho các đại học của Việt Nam.
Nguồn: http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/418583/Nghien-cuu-khoa-hoc-va-giac-mo-top-200.html

Phản hồi từ bạn đọc trên TTO

Có cần thiết không

Có cần thiết không khi phải làm mọi cách để đưa khoa học Việt Nam "chen chân" vào "top" thế giới khi nền khoa học Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu cho việc phát triển đất nước. Giả sử ta có được "ngón chân" trong "cơ thể khoa học" thế giới thì cũng được gì khi mà ngón chân đó bị "tật". nói thế không phải tôi muốn phủ nhận thành tựu của khoa học Việt Nam ,mà tôi muốn đề cập ở đây là chúng ta hãy nhận thức nghiên cứu khoa học ta đang nằm ở vị trí nào của khoa học thế giới.
Chúng ta chưa có những thiết bị hiện đại để nghiên cứu khoa học, chưa có những con người khoa học đầu ngành lão luyện tầm GS Ngô Bảo Châu để thực hiện ước mơ "lọt vào top 200". Mà có lọt vào đi chăng nữa khi mà ta vẫn đang cậy nhờ vào thành tựu khoa học nước ngoài để phục vụ cho chúng ta thì có đứng top mấy cũng như không. Thời gian để ta tính toán làm thế nào để "lọt vào top 200" thì hay hơn là ta dành thời gian đó để đề ra kế hoạch đúng đắn để phát triển khoa học nước nhà là hợp lý hơn cả. Vì khoa học trước tiên phải phục vụ cho nước mình cái đã.
Tuấn Ngọc

Khổ lắm giáo sư Tuấn ơi!

Theo qui chế mới về chế độ làm việc của giảng viên thì càng lương cao, số giờ dạy càng nhiều. Số giờ dạy hiện nay của giảng viên chính theo qui định mới là 320 giờ, giáo sư là 360 giờ chưa kể số giờ nghiên cứu khoa học. Số giờ dạy càng cao thì thời gian đâu mà nghiên cứu. Mà nghiên cứu thì lại theo kiểu qui bài viết để trừ giờ, một bài viết tính một hai chục giờ thì một năm phải viết bao nhiêu bài mới đủ để trừ số giờ nghiên cứu khoa học kia?!

Một bạn đọc
Nhờ tòa soạn gửi đến GS Nguyễn Văn Tuấn

Trước tiên xin cám ơn GS Nguyễn Văn Tuấn đã cung cấp các số liệu về tình trạng giáo dục và nghiên cứu khoa học của Việt Nam, có so sánh với các nước trong khu vực. Tôi không biết GS đang làm việc ở đâu, song GS có biết đến hiện tình của các trường đại học của chúng ta ra sao không? Tôi chỉ nói tới cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo và nghiên cứu khoa học thôi.

Mình là con nhà nghèo, thì cũng không nên lúc nào cũng ngắm thiên hạ mà tự ti, mà ước mơ hão huyền. Không biết GS có biết là: các thầy giáo ở các trường đại học của chúng ta đang quá tải trong giảng dạy, thời gian đâu mà nghiên cứu khoa học; trưởng bộ môn có khi chỉ là kỹ sư, thạc sỹ hay tiến sỹ, khác với nước ngoài, đã là trưởng bộ môn thì là GS với các điều kiện làm việc tương ứng; lương của các giảng viên chưa đủ để có thể nuôi con mình học hành đến nới đến chốn trong bối cảnh hiện nay, đương nhiên nếu chấp nhận cái tình trạng chung thì cũng tàm tạm, vậy thì phải lo làm thêm kiếm sống.

Nói tóm lại, đồng lương, khối lượng công việc điều kiện nghiên cứu của chúng ta đang ở tình trạng như vậy, GS có so sánh với các nước xung quanh không? Đã so sánh thì phải so sánh tổng thế. Một sinh viên đi xe máy hoặc xe công cộng đến trường chắc nhanh hơn một sinh viên đi bộ cùng quãng đường đó đến trường. Vài lời trao đổi, có thể cũng không toàn diện, cũng chưa chặt chẽ, chắc GS cũng thông cảm. Nhân dịp năm mới chúc GS sức khỏe và thành công.

Le Minh

===


Bài phỏng vấn anh Phạm Duy Hiển trên TTO

http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Chuyen-de/418584/Khoa-hoc-Viet-Nam---tim-bang-de-ten.html

Khoa học Việt Nam - tìm bảng đề tên

TTCT - Giáo sư Phạm Duy Hiển - nguyên viện trưởng Viện Hạt nhân Đà Lạt - trao đổi với TTCT về sự hòa nhập và tìm chỗ đứng của giới khoa học VN trên “mặt tiền” khoa học thế giới.

Công bố hay là chết?

* Thưa giáo sư, nhiều năm qua ông nói khá nhiều đến tầm quan trọng của việc viết và công bố các bài báo khoa học ra quốc tế. Nghiên cứu khoa học có nhất thiết phải có công bố quốc tế?

- Nghiên cứu khoa học là tìm ra những cái mới, mới trên thế giới chứ không chỉ ở VN. Nhà khoa học trước khi nghiên cứu vấn đề gì đều phải hỏi: ta định tìm cái gì mới ở đây? Công bố quốc tế là đưa nghiên cứu của mình ra cho mọi người xem, qua đó những đồng nghiệp quốc tế sẽ đánh giá anh có gì mới, sáng tạo.

* Có người hỏi “công bố trong nước cũng được chứ sao?”. Ta nên nhớ rằng hiện chưa có tạp chí khoa học nào của VN lọt vào danh sách gần mười nghìn tạp chí khoa học quốc tế có uy tín được đưa vào cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin khoa học quốc tế (ISI).

Lại có người hỏi “công bố quốc tế là chuyện của một số người làm khoa học, tại sao nhà nước lại phải quan tâm?”. Để trả lời câu hỏi này, ta phải nhìn ra các nước, trước hết là trong vùng. Năm 2008, VN công bố được 802 bài trên ISI, nghĩa là 1 triệu dân mới công bố chưa đầy 10 bài, năng suất này tuy có cao hơn Indonesia và Philippines, nhưng lại thấp hơn Thái Lan đến 6 lần, Malaysia 10 lần và thấp hơn Singapore tới... 167 lần.

Tại sao người Thái, người Mã và nhất là người Singapore lại “phí sức” công bố nhiều như vậy? Vì công bố quốc tế có thể xem như thước đo chất lượng nghiên cứu khoa học, mà đây là hoạt động phản ánh trình độ phát triển của một quốc gia, tương tự bình quân GDP hay các tiêu chí kinh tế - xã hội khác.

Giữa nghiên cứu khoa học trình độ quốc tế với phát triển kinh tế - xã hội có quan hệ tác động qua lại với nhau. Do đó, nhà nước phải quan tâm đến công bố quốc tế nếu không muốn đất nước mình bị lạc hậu. Công bố quốc tế còn là thước đo hiệu quả đầu tư cho khoa học của một quốc gia.

Hiểu đúng chữ “lợi ích” trong khoa học
Mỗi người hiểu một cách về chữ “lợi ích” trong nghiên cứu khoa học. Tôi nghĩ nghiên cứu khoa học phải nhằm ba lợi ích lớn: Một là nâng cao tầm tri thức của đất nước, qua đó nâng cao dân trí. Hai là hướng đến các sản phẩm cho quốc kế dân sinh. Ba là tìm ra quy luật tác động đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Nhưng lợi ích bao trùm nhất vẫn là đào tạo được đội ngũ, nhất là người tài, học giả cho đất nước. Quy luật “tích lũy và kế thừa” sẽ nhân số người tài giỏi lên, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Không làm được việc nhân sức mạnh của cộng đồng nghiên cứu khoa học lên thì tác dụng của nghiên cứu khoa học vẫn hạn chế lắm.
* Nhưng nói như giới khoa học và đại học ở các nước “công bố hay là chết” (publish or perish) liệu có quá chăng?

- Ở đây có cả hai mặt. Ở các trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới, nếu không có công bố quốc tế trong thời gian dài, anh sẽ rất khó chứng minh sự tồn tại của mình. Không có công bố quốc tế trong thời gian dài có nghĩa là không theo kịp trình độ thế giới trong lĩnh vực của mình, vậy làm sao có thể đào tạo được nhân lực trong cuộc hội nhập toàn cầu hiện nay?

Song nói một cách công bằng, đây là cách làm hành chính, không phải lúc nào cũng đúng. Muốn đánh giá một nhà khoa học phải xem xét những hoạt động học thuật của họ ích lợi như thế nào đối với đất nước. Xem công bố quốc tế là tiêu chí độc tôn để đánh giá, xếp người có mười bài giỏi hơn người có năm bài là cực đoan. Ngược lại, cũng sẽ rất cực đoan và tai hại nếu xem công bố quốc tế là thứ trang sức, không cần thiết.

* Công bố quốc tế của VN thuộc diện thấp nhất trong khu vực. Theo giáo sư, nguyên nhân có thể nằm ở đâu: do ít tiền, do coi công bố quốc tế là một loại “trang sức” hay do vấn đề nội tại của đội ngũ khoa học?

- Chúng ta đang ở trình độ phát triển thấp. Đó là lý do bao trùm. Nhưng tự mình cũng làm cho mình thấp. Thứ nhất, giới khoa học trước đây ít quan tâm đến chuyện công bố quốc tế. Có lẽ trong vòng mười năm nay, người ta mới để ý nhiều đến chủ đề này, công bố quốc tế bắt đầu được làm tiêu chí xét duyệt các đề tài nghiên cứu cơ bản, nhiều cơ quan khoa học có chế độ thưởng cho các cán bộ có công bố quốc tế. Nhưng công bố quốc tế lại gần như bị đánh đồng với công bố nội địa khi xét duyệt các chức danh khoa học, đây là chuyện rất không thỏa đáng, cần sớm sửa chữa.

Tôi cho rằng rất cần tập trung nghiên cứu khoa học nhiều hơn trong các trường đại học. Số lượng công bố quốc tế từ đại học VN chỉ chiếm khoảng 50%, trong khi ở Thái Lan con số này lên đến hơn 90%. Công bố quốc tế từ trường đại học sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên, vì đừng quên rằng nhân lực “thiếu và yếu” là thách thức lớn nhất của VN trong thập kỷ tới.

Một diện mạo mới sẽ xuất hiện bằng cách xây dựng các nhóm nghiên cứu xuất sắc ở các trường đại học được lãnh đạo bởi các học giả đầu đàn trong nước - những người vẫn được coi là có thẩm quyền nhất về mặt học thuật trong xã hội.

Đương nhiên các vị này đã có chỗ đứng trên thế giới qua các công bố quốc tế của mình. Thế giới nhìn nền khoa học của ta qua họ. Thế hệ sau phán xét thế hệ này qua họ. Với chính sách cào bằng trong học thuật được hợp thức bằng những quy chế hành chính hóa như hiện nay, chúng ta rất khó tiến xa hơn trong thế giới này.

* Nói như thế, giáo sư nhận xét ra sao về truyền thống khoa học của VN, sự kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác?

- Khoa học cũng như phát triển kinh tế - xã hội, đều dựa trên quy luật “tích lũy và đầu tư”, ai làm kinh tế đều biết quy luật này. Khoa học muốn phát triển theo quy luật tích lũy và kế thừa mà thế hệ sau lại vứt bỏ những thành quả của thế hệ trước, làm lại từ đầu từ số 0 thì bao giờ chúng ta mới tiến lên được.

Tôi xin đơn cử một ví dụ. Đội ngũ làm việc tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt được xây dựng gần 30 năm qua, có chỗ đứng nhất định trong cộng đồng hạt nhân quốc tế. Nhưng khi chuẩn bị làm điện hạt nhân thì đội ngũ ấy lại hầu như đứng ngoài cuộc. Tuy chưa phải là những “người khổng lồ”, nhưng thiết nghĩ cũng nên trèo lên vai họ để dễ thấy hơn những gì đang ở phía trước (cười).

Tự do và tự trọng dụng

* Nghiên cứu khoa học bản chất vẫn là tự do trong sáng tạo. Tự do trong khoa học đối với giáo sư có ý nghĩa như thế nào?

- (Im lặng hồi lâu) Tôi luôn chọn con đường tự do trong tư duy, không lệ thuộc vào một ý niệm, chỉ dẫn của ai. Quyền, tiền và danh (nhất là hư danh) là ba thứ luôn làm ta mất tự do. Nhưng rất khó vượt lên chính mình. Không có tiền lấy đâu ra tự do? Mà nhà khoa học VN muốn có tiền phải có quyền. Nhưng giữ được quyền thì còn tâm trí và thời gian đâu để có thể tự do theo đuổi những đam mê sáng tạo của mình.

Thậm chí phải có nhiều quyền hơn mới bảo vệ được những thành quả lao động khoa học của mình và tập thể. Cứ thế mà “chiến đấu không ngừng” trên con đường quan lộ, con đường độc đạo đó luôn dẫn ta đi xa khỏi mục tiêu khoa học và thủ tiêu hết các đam mê. Tôi nghiệm thấy đây là một rắc rối lớn trong xã hội chúng ta ngày nay. Chúng ta không có người tài vì như vậy.

Chuẩn bị cho những người nghiên cứu trẻ
Khi viết một bài báo khoa học và công bố ra quốc tế, tức là anh đang đối thoại với các đồng nghiệp của mình trên thế giới. Họ có thể đồng ý hay phản bác, song đây là một quá trình đối thoại rất cần thiết và hữu ích cho người làm khoa học.
Tôi luôn yêu cầu các cộng sự của mình phải đọc ít nhất 50 công bố quốc tế thuộc chủ đề mà họ định nghiên cứu để hiểu người ta đã và đang làm gì trong vòng mười năm qua. Như vậy, tự anh phải hòa mình vào cộng đồng trên thế giới. Công bố quốc tế không phải để chứng tỏ cho ông thủ trưởng thấy tài năng của mình, mà thực chất là để hòa nhập và tìm được chỗ đứng của anh trên “mặt tiền” khoa học thế giới.
* Vậy đâu là giải pháp cho rắc rối này, thưa giáo sư?

- Chuyện đáng nói ở ta là không tạo được một môi trường để mọi người tự do theo đuổi những đam mê sáng tạo của mình. Cũng chính vì thiếu môi trường ấy mà chúng ta ngày càng thiếu nhân tài khoa học. Mong đừng hiểu hai chữ tự do mà tôi nói như một đòi hỏi vốn được xem là nhạy cảm, mang màu sắc ý thức hệ. Hoàn toàn không!

Quan niệm tự do này đơn giản lắm: làm sao nhà khoa học đủ điều kiện (nhất là tiền lương) để sống và tự do theo đuổi những đam mê sáng tạo của mình mà không bị ai cản trở. Muốn vậy, môi trường ấy phải có những nấc thang chuẩn mực khoa học minh bạch để đánh giá con người.

Môi trường ấy lại phải bảo đảm điều kiện để đội ngũ luôn lớn mạnh về chất lượng và số lượng nhờ biết tích lũy và kế thừa để hướng tới những mục tiêu ngày càng cao cho đất nước. Đương nhiên, không thể thiếu một nhà khoa học đầu đàn, có uy tín, biết “kinh bang tế thế” để tập thể chẳng những không bơ vơ mà còn có chỗ đứng trong xã hội. Chỉ từ một môi trường lành mạnh như vậy người tài mới xuất hiện.

* Khi nhìn vào đội ngũ khoa học trẻ, giáo sư thấy đâu là những điều đáng khích lệ, đâu là những điểm yếu của họ?

- Tôi không thích câu hỏi này lắm. Tôi không thích cậy mình già để được quyền phán xét thế hệ trẻ. Vả lại thế hệ trẻ giờ đây có nhiều em rất giỏi, tôi từng ngạc nhiên khi tiếp xúc với họ. Cứ thả họ vào môi trường tự nhiên mà tôi vừa nói trên, các em sẽ lớn lên. Người lớn cứ nói bọn trẻ kém quá, trách chúng ham chơi, không chịu rèn luyện, không theo đuổi con đường khoa học, mới xin vào cơ quan xong là cứ mắt trước mắt sau chuồn sang chỗ khác để có nhiều tiền hơn...

Trách như vậy là không đúng. Nếu trường đại học, viện nghiên cứu tạo ra được môi trường lành mạnh như tôi nói trên, nếu chúng ta xây dựng được những nhóm nghiên cứu xuất sắc do những nhà khoa học có uy tín đứng đầu, thì dứt khoát sẽ hút giới trẻ vào, nhất là những em giỏi.

Tôi thấy nhiều người hay than phiền “trí thức VN không được trọng dụng”, hình như có ý trách cứ cấp trên không tham vấn, không bố trí mình vào chỗ này chỗ khác. Tôi nghĩ khác. Tự anh phải biết “dụng” anh, phải “xài” anh đến nơi đến chốn, như thế chính là xã hội đã trọng dụng anh.

* Xin trân trọng cảm ơn giáo sư.

CẦM PHAN thực hiện
Read more ...

Chuyện “đầu thai”

Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010
Đêm qua, nhân dịp ghé thăm anh bạn hàng xóm và nghe một câu chuyện mà tôi phải ghi lại đây để gọi là làm chứng từ cho hiện tượng “đầu thai”. Vâng, đúng là chuyện li kì, mà nếu không nghe từ chính miệng anh tôi kể thì chắc tôi sẽ gạt phắt là chuyện tầm phào ...

Câu chuyện bắt đầu từ bài báo trên VNN (xem dưới đây) nhưng lại trùng hợp với câu chuyện của anh bạn tôi. Nhân dịp ghé chơi nhà anh bạn, tôi kể cho các bạn bè nghe câu chuyện tôi mới đọc trên Vietnamnet hôm qua, viết về một em bé được tin là đầu thai sau vài năm chết vì một tai nạn. Nghe xong, anh bạn tôi (tên D) thản nhiên hỏi lại “vậy ông có muốn nghe chuyện của tôi không”. Câu chuyện của anh cũng li kì không kém, và có nhiều nét tương đồng với câu chuyện đầu thai trên Vietnamnet ...

Nhà anh D ở một làng ven sông thuộc tỉnh Trà Vinh. Gia đình anh có 4 anh chị em, nhưng chỉ có một mình anh đi vượt biên và đã định cư ở Úc gần 30 năm qua. Năm nay anh đã 60 tuổi. Sau ngày anh đi Úc, Ba anh đã qua đời, để lại má và mấy anh em.

Gia đình vẫn làm nghề nông và cuộc sống vẫn trôi theo thời gian một cách bình thản, cho đến một ngày câu chuyện “thằng nhỏ hỗn láo” xảy ra. Ở đầu sông có một cậu bé khoảng 7 tuổi, là con đầu lòng của cặp vợ chồng, có những lời nói bất thường. Cứ mỗi lần thấy má anh đi ngang nhà, cậu bé cứ chỉ vào bà và nói “Nó là vợ tao đó”. Thoạt đầu, má anh và mấy người hàng xóm chỉ cười vì nghĩ thằng bé nó tập nói, nên chẳng ai chấp nhứt cả. Nhưng cậu bé nói câu đó rất nhiều lần như thế mỗi khi thấy mặt má anh, làm cho má anh nổi giận và mắng cặp vợ chồng trẻ không biết dạy con. Thế là cậu bé ăn đòn. Nhưng dù ăn đòn thế nào đi nữa, nó vẫn khẳng định điều nó nói. Chẳng những thế, cậu bé còn chỉ mặt những người trong gia đình anh, và nói giọng kẻ cả “thằng này là con tao, nó thứ 3; con kia thứ 4”, và kể ra vanh vách những chuyện và thông tin mà chỉ có gia đình anh mới biết. Đến lúc đó thì không ai có thể xem là thằng bé hỗn láo hay nói bậy.

Anh em bên nhà gọi điện sang anh D và kể câu chuyện li kì trên, rồi hỏi anh phải làm gì. Trong một chuyến về thăm nhà anh quyết định tìm hiểu và tự mình chứng kiến mới tin. Ngày đầu tiên về thăm nhà, anh mua một con heo quay và mâm trái cây đem ra mộ để cúng ba anh, như là một việc làm rất thông thường của những người con đi xa mới về quê. Xong việc cúng bái, anh ghé thăm nhà người hàng xóm đầu sông (vốn không phải là chỗ quen biết hay bà con với gia đình anh). Vào nhà, anh gặp thằng bé và hỏi “Con có ăn gì không?” Cậu bé thản nhiên nói “Ăn hết một con heo quay rồi, no lắm rồi”. Anh kể nghe xong câu trả lời mà anh lạnh cả người. Anh thử hỏi thêm “biết tôi là ai không”, cậu bé cũng thản nhiên nói “Mày là thằng Hai chứ ai, mày ở xa mới về”. Lúc anh rời Việt Nam thì cậu bé chưa ra đời (và ba anh vẫn còn sống). Dù đã có vài ý niệm rằng con mình là một trường hợp đặc biệt, nhưng nghe qua cuộc đối thoại, cha mẹ của cậu bé cũng ngạc nhiên. Lại thêm những câu hỏi về những kỉ niệm riêng tư mà chỉ anh và ba anh biết, và cậu bé trả lời vanh vách, không sót một chi tiết nào. Điều đáng nói là cậu bé thản nhiên xưng “tao” và gọi anh là “mày” y như là ba anh lúc sinh tiền, nếu có khác thì giọng nói của một đứa bé! Đến đây thì anh tin rằng đứa bé chính là hiện sinh của ba anh, hay nói theo dân gian là ba anh đã “đầu thai”.

Sự xuất hiện của đứa bé làm cho gia đình anh khó ứng xử. Má anh không biết gọi cậu bé bằng gì, mấy người anh em cũng không biết gọi nó là “ba” hay không. Ba má cậu bé cũng lúng túng. Cả làng ai cũng biết câu chuyện ba anh đầu thai. Không giống như câu chuyện dưới đây, đứa bé vẫn ở nhà của cha mẹ nó, chứ không về ở nhà anh. Nay thì cậu bé đã lớn và lên thành phố theo học, nên ít ai nhắc lại chuyện xưa, dù ai trong làng cũng biết.

Tôi vẫn thường hay nghe người khác kể những câu chuyện đầu thai, và cũng đọc nhiều chuyện như thế trong sách báo phương Tây. Nhiều câu chuyện đầu thai (hay reincarnation) bên Tây còn li kì hơn câu chuyện tôi vừa kể. Nhưng thú thật tôi chỉ nghe và bỏ ngoài tai, chứ chẳng quan tâm. Một phần vì tôi chẳng thấy có bằng chứng khoa học nào nên làm sao tin được; một phần khác tôi nghĩ những câu chuyện đó bạn tôi chỉ nói cho vui hay nghe chuyện “tam sao thất bổn”. Thế nhưng khi đọc phóng sự của Vietnamnet và chính tôi nghe qua câu chuyện của anh bạn thì tôi bắt đầu dao động … Dù quen anh bạn rất lâu năm, nhưng anh chưa bao giờ nói chuyện này cho đến hôm qua tôi thuật lại câu chuyện trong bài báo trên Vietnamnet. Anh nói tôi nên kể cho Vietnamnet biết. Anh bạn tôi thuộc vào nhóm người nghiêm chỉnh, không thích đùa giỡn. Không một ai trong bạn bè đặt dấu hỏi về sự thật của câu chuyện gia đình anh, nhưng không ai giải thích được hiện tượng đầu thai. Trong khi những câu hỏi với mẫu tự w và h (what, when, where, why, how) cứ lởn vởn trong đầu, tôi nghĩ mình nên ghi lại câu chuyện để xem như là một bằng chứng thực tế cho những ai quan tâm và nghiên cứu về hiện tượng đầu thai.

NVT
====

http://www41.vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/1858/chuyen-ky-bi-ve-linh-hon--song-lai-.html

Chuyện kỳ bí về linh hồn "sống lại"

Thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn (Hoà Bình) đang tồn tại câu chuyện khá ly kỳ. Một cháu bé cứ nằng nặc nhận mình là đứa trẻ đã chết cách đây hơn mười năm và đòi về ở với bố mẹ người đã chết. Sau khi đưa ra nhiều “bằng chứng” chứng tỏ mình là người đã chết, cháu bé đã được nhận về nuôi như một sự sống lại của linh hồn đã chết trước đó.


Bài 1: Linh hồn sống lại

Anh Tân và chị Thuận đều là cán bộ công tác tại thị trấn Vụ Bản. Anh chị kết hôn năm 1987, đến năm 1992 chị Thuận sinh cháu trai đặt tên là Nguyễn Phú Quyết Tiến, Tiến khoẻ mạnh bụ bẫm và lớn lên trong sự vui mừng khôn tả. Tai họa ấp đến trong một lần ra sông chơi, Tiến chẳng may chết đuối, khi ấy cháu 5 tuồi. Lúc này chị Thuận cũng không thể sinh thêm con vì lý do sức khỏe.

Có kiếp luân hồi?

Con mất, vợ chồng anh Tân suy sụp. Anh nghỉ việc, ra làm tự do. Vợ chồng anh tưởng như sẽ phải sống với nhau trong sự côi cút không con, thì một ngày đầu năm 2006, bỗng có một cháu bé tự khẳng định cháu chính là cháu Tiến, người đã bị chết đuối năm 1997!

Nhấp chén nước, thả những vòng khói thuốc lá chậm rãi, anh Tân đã kể lại cho tôi nghe câu chuyện ly kỳ này. Khi Tiến mất, cháu đang là học sinh trường mầm non Hoa Hồng ở thị trấn Vụ Bản. Cô giáo dạy cháu Tiến là cô Đông và chính cô Đông là người đã phát hiện ra cháu Tiến đã “lộn về nguyên bản” ở cháu Bình con anh Hoan, chị Dự, người trong bản. Cháu Bình sinh ngày 06/10/ 2002.

Lần đầu tiên cô Đông thấy cháu Bình có những biểu hiện rất lạ, cô hỏi chuyện, cháu bảo cháu không muốn học ở đây, cháu muốn được học ở trường của cháu. Cô Đông hỏi lại, thế trường cháu ở đâu? "Trường Hoa Hồng ở ngoài thị trấn", cháu Bình trả lời.

Sao lại là trường Hoa Hồng, làm sao cháu biết trường đó, cô Đông thắc mắc. “Nhà cháu ở ngoài đó, nhà cháu gần nhà ông Lai”. Nghe Bình nói đến đây, cô Đông sởn hết cả tóc gáy. Cạnh nhà ông Lai là nhà anh Tân, và lẽ nào…

Thời gian tiếp theo, cô Đông âm thầm tìm hiểu và biết thêm. Một lần chị Dự mẹ cháu Bình đánh cháu vì cháu nghịch bẩn hết áo quần. Rơm rớm nước mắt, thằng bé bảo: “Mẹ đừng đánh con, bẩn áo quần thì mẹ đưa con về nhà con để con lấy”.

Chỉ nghĩ trẻ con nói nên chị Dự không để ý gì. Những lần khác chị Dự có đánh Bình lại bảo “con đã chết một lần rồi, mẹ đừng đánh con lại chết lần nữa đấy”. Sau mỗi lần bị mắng là cháu lại đòi được về nhà.

Một lần cháu Bình đòi chị đưa về nhà, điên tiết chị Dự bảo "thích thì ngồi lên xe tao chở đi". Bình ngồi sau xe bảo mẹ chở ra thị trấn, từ chợ thị trấn Bình bảo mẹ chở đến cuối sân vận động và rẽ vào phố Hữu Nghị. Đến số nhà 25, chính là nhà anh Tân, Bình xuống xe nói với mẹ “nhà con đây”.

Tuy nhiên nhà đóng cửa, chị Dự lại chở Bình về. Một lần nữa, chị Dự đi chợ thị trấn và cho Bình đi cùng. Khi đến chợ, Bình lại nằng nặc đòi mẹ “đưa về nhà con”, hai mẹ con lại đến trước nhà anh Tân. Sau khi thấy cửa đóng then cài, mẹ con lại ra về.

Mặc dù Bình nói vậy nhưng chưa bao giờ bao giờ chị Dự để ý gì vì nghĩ Bình chỉ là một đứa trẻ mới 4 tuổi. Câu chuyện thực sự “nóng” từ ngày cô Đông phát hiện ra những biểu hiện lạ ở Bình cùng với lời chị Dự kể. Từ đó, cô Đông mới hoài nghi thực sự.

Cô Đông đem chuyện kể lại với những giáo viên trong trường, trong đó có cô Phương. Là người quen biết với chị Thuận, nên cô Phương đã lập tức kể lại câu chuyện ly kỳ này cho chị Thuận nghe: “Cô vào trong bản Cọi xem sao, nghe nói thằng Tiến nó “lộn” về vào cháu Bình đang học ở trường trong đó”.

Cũng chẳng dám tin và đem chuyện kể lại với chồng, anh Tân lập tức giục vợ phải vào xem sao. Trước đây, khi cháu Tiến mới mất có một bà xem bói người Mường nói với anh rằng: “Anh đừng buồn, cháu Tiến linh thiêng lắm rồi sẽ quay về với anh thôi”. Lần khác anh đi xem bói tận Hoà Bình, ông thầy cũng nói điều tương tự.

Là người không mê tín nên lúc đó anh chỉ nghĩ rằng người ta động viên mình. Thế nhưng lúc nghe vợ kể lại câu chuyện Tiến "lộn" về trong bản Cọi, anh Tân cũng bán tín bán nghi và phân vân liệu lời thầy bói năm xưa có chăng lại là sự thật? Anh đã quyết định phải một lần đi tìm hiểu xem sao.

Hành trình tìm lại con

Một ngày sau, anh Tân đã cùng với chị Thuận tìm đến bản Cọi, tìm đến nhà vợ chồng Hoan - Dự. Vốn chưa biết nhau, nhưng khi đến nhà, anh Tân cứ làm như đã quen biết gia đình từ lâu lắm. Không nhận ra ai nhưng chị Dự, anh Hoan cũng không dám hỏi vì nhỡ đâu người quen lâu rồi mình không nhận ra nếu hỏi lại…vô duyên.

Sau mấy câu hỏi thăm anh Tân bắt đầu hỏi đến cháu bé: Thằng bé Bình đâu nhỉ bác ngắm tý xem lớn đến đâu rồi? Chị Dự cho biết cháu đang đi chơi cùng chúng bạn, một lát sau chị Dự cũng gọi cháu về để anh Tân gặp mặt. Về đến nhà thằng bé cứ lấm lét nấp sau cảnh cửa.

Anh Tân buông lời: Có nhớ bác không, bác mua nhiều bi cho cháu đây này. “Biết rồi, lúc nãy thấy hai người đi đầu làng, biết rồi”. Nghe thằng bé nói vậy anh Tân phát hoảng. Sao nó lại biết mình vào đây cơ chứ.

Sau vài câu chuyện hai bên trở nên thân tình, anh Tân ngỏ ý muốn đưa cháu Bình về nhà chơi, anh Hoan chị Dự đồng ý. Riêng thằng bé nghe nói được đi là leo tót lên xe và chiều hôm đó anh Tân đưa cháu Bình về nhà mình.

Trên đường về, để thử thằng bé, anh Tân dừng xe trước một ngôi nhà cao tầng bảo cháu, nhà bác đấy cháu vào đi. Lập tức Bình bảo, đây không phải, nhà ở dưới kia cơ. Đi qua rất nhiều đường trong thị trấn, anh Tân không đi theo đường chính vì muốn thử thằng bé. Ngạc nhiên là Bình cứ chỉ rành rọt và cho đến ngôi nhà anh Tân thì mới thôi.

Vừa mở cửa nhà, Bình lập tức xuống xe và chạy tót vào trong và mở tủ bới đồ đạc. Chị Dự đi cùng đã định ngăn lại vì sợ vợ chồng anh Tân đánh giá con mình thiếu giáo dục, nhưng anh Tân đã ngăn lại. Mặc cho cháu Bình tìm kiếm.

Anh Tân hỏi: “Cháu đang tìm gì?” - “Tìm cái máy bay và cần cẩu”. Nghe Bình nói, anh Tân giật mình vì đây là hai món đồ chơi anh đã mua cho cháu Tiến trước đây. Đến lúc cháu qua đời anh mới mang vứt đi. “Bác cất đi rồi, để lúc nào bác tìm lại cho cháu”, anh nói với cháu Bình.

Sau bữa cơm, anh Tân bảo cháu ra xe để chở hai mẹ con về, nhưng thằng bé bảo, nhà ở đây, không về đâu. Nói rồi Bình chạy vào nhà leo lên giường:

- Đây là giường con, chỗ con nằm ở đây.
- Thế cháu hay nằm thế nào?
- Con nằm thế này này (nói rồi Bình nằm sấp xuống giường).

Nhìn cái dáng Bình nằm y như Tiến năm xưa, vợ chồng anh Tân lặng người, chị Thuận chỉ còn biết úp mặt vào lưng chồng khóc sụt sùi, bởi thằng bé có những cử chỉ giống con mình năm xưa quá.

Trước sự tha thiết của thằng bé đêm hôm đó chị Dự đã miễn cưỡng cho con ở lại với gia đình anh Tân. Biết chuyện thằng bé, đêm hôm đó hàng xóm láng giềng kéo đến chật kín nhà. Ai cũng thử Bình bằng những câu hỏi để xem nó kể lại chuyện ngày xưa có chính xác không...

http://www57.vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/1858/chuyen-ky-bi-ve-linh-hon--song-lai-.html


Ly kỳ chuyện cậu bé chết đuối "trở về"

Đêm đầu tiên Bình ở với anh Tân - chị Thuận, anh chị đã hỏi cháu rất nhiều chuyện. Hỏi chuyện… con chết thế nào, tại sao lại về trong bản Cọi. Bình bảo "con cũng đã quay về nhà, nhưng đến cái cống đầu ngõ có một người to lớn cứ chặn con lại rồi đuổi đi nên không vào được nhà... ".


Từ lời đồn trở thành sự thật

Cũng đêm đó, anh Tân giả vờ gọi lớn "Tiến ơi!", lập tức ở trong nhà Bình "Dạ" và còn hỏi lại "Bố gọi gì con?". Anh chỉ vào chị Thuận hỏi đây có phải là mẹ con không, cháu cũng trả lời "phải". Những lời nói, những hành động rất giống Tiến đã làm cho anh Tân - chị Thuận nghĩ rằng Bình chính là do Tiến “lộn” về.

“Việc cháu gọi chúng tôi cũng hoàn toàn tự nhiên, chẳng ai bảo với cháu cả”, anh Tân nhớ lại.

Đưa cháu Bình trả về với bố mẹ đẻ của cháu, anh Tân vẫn canh canh trong lòng. Nghĩ đến chuyện thằng bè khóc lóc khi phải bắt về, anh lại thương nó vô cùng, từ ngày nó đến với gia đình, anh cứ nghĩ nó chính là Tiến. Thế nhưng, nó là con nhà người ta, mình nói ra không chỉ vợ chồng Hoan - Dự mà cả thị trấn này sẽ nói là muốn cướp con người ta nên dựng chuyện.

Bao nhiêu suy nghĩ cứ giằng xé trong con người anh Tân. Về phần nhà chị Dự, mặc dù con cứ nằng nặc đòi ở với anh Tân chị Thuận nhưng đó là điều không thể. Anh chị lấy nhau cũng sáu năm mới có được cháu Bình, chị cũng không thể sinh được con nữa. Nhà anh Tân lại giàu có, nếu cho cháu về ở dư luận lại cho rằng mình bịa chuyện chỉ vì hám tiền.

Ba ngày hôm sau, vì nhớ thằng bé anh Tân lại vào bản Cọi thăm. Vừa thấy anh Tân, Bình đã nhảy tót vào lòng anh như người thân thiết từ lâu lắm, mặc cho bố mẹ, bà nội vẫn đang ngồi bên cạnh. Điều ngạc nhiên là chính bà Thỉn - bà nội cháu Bình nói với anh Tân: “Từ ngày thằng Bình bắt đầu bi bô tập nói, tôi đã biết nó không phải người Mường mà là người Kinh. Nó nói tiếng Kinh rành rọt, điều mà chưa một đứa bé người Mường nào giống thế”.

Chính Bình cũng đã có lần nói với mẹ: “Con là người Kinh, con không phải người Mường. Mẹ không đưa con về con sẽ chết”. Bà Thỉn đưa Bình đi học, cháu khóc và nói: “Cháu không học trường này đâu, cháu học trường gần nhà cháu cơ, trường ở ngoài thị trấn”.

Một thời gian sau đó, Bình liên tục đòi bố mẹ “đưa về nhà con” và doạ “không đưa về con sẽ chết”. Một lần Bình ốm nặng, anh Hoan - chị Dự đã rất lo lắng, sợ điều thằng bé nói sẽ linh, nó sẽ chết thật.

Dù được mỗi mình cháu nhưng không còn cách nào khác, cuối năm 2006 anh chị đã đồng ý cho Bình về ở hẳn với nhà anh Tân - chị Thuận. Từ ngày về với “nhà của con”, Bình chơi vui vẻ và không còn bệnh tình gì nữa.

Ở Lạc Sơn, chuyện “con lộn” xưa nay không phải là hiếm, không có gì là quá lạ lẫm. Thế nhưng, “con lộn” về ở hẳn với bố mẹ người đã chết như Bình thì chưa từng xảy ra. Sau khi Bình về ở với anh Tân - chị Thuận, cả hai gia đình đã làm thủ tục cho nhận con nuôi.

Bình được chuyển về trường mầm non Hoa Hồng nơi Tiến ngay xưa học và tiếp tục đi học. Kể từ ngày về ở với bố Tân, mẹ Thuận, Bình cũng được đổi thành tên Tiến và mang họ Nguyễn Phú Quyết Tiến, tên họ trùng với cháu Tiến con anh Tân đã chết đuối cách đây hơn 10 năm.

Chị Thuận bảo, thời gian cháu Bình về ở với vợ chồng chị, câu chuyện này đã trở thành đề tài bàn tán xôn xao. Không chỉ ở thị trấn Vụ Bản, cả tỉnh Hoà Bình đi đâu cũng nghe nói về chuyện “lộn con” có một không hai này.

Những “bằng chứng” khó giải thích


Trong cuốn sách phật Hương Hiếu Hạnh xuất bản năm 2007, câu chuyện về “con lộn” Tiến - Bình đã được đưa vào sách với nhan đề “Một trường hợp tái sinh ở Vụ Bản”. Cuốn sách không đưa ra sự phủ nhận hay khẳng định mà chỉ ghi nhận đó là trường hợp người thật việc thật đang hiện diện tại Vụ Bản. Và câu chuyện kỳ lạ nay cũng đã đến tai những người nghiên cứu về tâm linh.

Anh Tân cho biết, nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người đã nhiều lần điện thoại gặp anh chị để xin được tìm hiểu, nhưng anh Tân từ chối. Hiện Bình - Tiến đã đi học lớp 1 và cũng bình thường như bao đứa trẻ khác. Anh Tân không muốn sự việc lại trở nên phức tạp và được thêu dệt thêm.

Trước khi gặp gia đình anh Tân, tôi thật sự ái ngại khi đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, trái hẳn với lo lắng của tôi, anh Tân rất vui vẻ kể lại câu chuyện một cách tỷ mỉ. Thậm chí, đang giờ hành chính nhưng anh vẫn gọi chị Thuận về để hai vợ chồng kể chuyện Tiến - Bình cho tôi nghe.

Tuy nhiên, hôm tôi đến nhà, Tiến đang đi học, cháu học cả ngày và trưa ở lại trường. Để giúp tôi hiểu rõ hơn, trưa đó chị Thuận đã đón cháu về nhà.

Vừa về đến cổng, Tiến đã nhanh miệng gọi bố, thấy tôi, Tiến khoanh tay chào rất lễ phép. Cháu rất khôi ngô, nói chuyện tự nhiên. Vừa vào nhà là kể chuyện cô, chuyện lớp, hết chuyện này sang chuyện khác. Cháu cứ ôm lấy anh Tân mà kể, chẳng biết ngại ngùng mặc cho lúc đó trong nhà có rất nhiều người, và cả mẹ đẻ của cháu, chị Dự.

- Bình này, chú ở trong bản Cọi ra đưa cháu về với mẹ Dự đây? (Tôi hỏi cháu)
- Cháu là Tiến chứ
- Không. Cháu là Bùi Văn Bình, hôn nay trong bản có lễ hội chú ra đưa cháu về xem
- Không về đâu, cháu là Nguyễn Phú Quyết Tiến, cháu không phải Bình, cháu ở với bố Tân mẹ Thuận cơ!

Anh Tân ngồi cạnh cháu cũng thêm vào:

- Chú nói đúng đó, con là Bình không phải Tiến đâu
- Bố nói dối, con là Tiến. Bố đừng đuổi con nghe bố, bố thương con mà!

Nói rồi thằng bé rơm rớm nước mắt, hai tay ôm chặt lấy anh Tân như van xin trông đến tội nghiệp.

Lúc mới về, Tiến còn vui mừng nói cười và mỗi lần thấy tôi cầm máy ảnh lên cháu lại làm dáng. Thế nhưng khi nói đưa cháu đi về bản Cọi cháu chẳng còn nói cười nữa mà chỉ ôm lấy bố Tân.

Câu chuyện đang dang dở với Tiến thì cũng là lúc cháu phải vào lớp. Trước lúc đi, Tiến lại khoanh tay dõng dạc chào chú và không quên dặn “cháu không về bản Cọi đâu nhé!”. Thời gian tiếp xúc với cháu không được bao lâu nhưng tôi thật sự ấn tượng với thằng bé. Tiến thật khôn và lanh lợi nhất là khi tiếp xúc với người lạ, mới 6 tuổi hiếm có cháu nào được như Tiến.

Bây giờ, mỗi tuần anh Tân lại đưa Tiến - Bình về ở với mẹ đẻ của mình một lần. Dù Tiến chẳng muốn về, nhưng anh Tân buộc phải làm như vậy, bởi anh muốn cháu luôn biết rằng: chị Dự mới là người sinh thành ra cháu. Anh Tân luôn khẳng định, Tiến giờ hoàn toàn bình thường như các bạn cùng trang lứa. Chuyện của cháu ở Vụ Bản ai cũng biết, anh cũng chẳng có ý định dấu giếm điều gì.

Trước, đây là đề tài “hot” được bàn tán từ đầu làng đến cuối ngõ, nhưng bây giờ mọi người cũng đã quen với sự hiện diện của Tiến - Bình tại nhà anh Tân, chị Dự.
Read more ...

Mỡ trắng, mỡ nâu

Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010
Lịch sử y học có nhiều giả định và giả thuyết tồn tại rất lâu và chỉ bị “đánh đổ” khi có bằng chứng khoa học mới. Một trong những giả thuyết đó là ở người mỡ nâu chỉ hiện diện ở trẻ sơ sinh chứ không có trong cơ thể người trưởng thành. Tuy nhiên, 3 nghiên cứu mới công bố cho thấy giả thuyết đó sai. Ba công trình nghiên cứu phát hiện mỡ nâu trong cơ thể có khả năng đốt cháy năng lượng và giảm trọng lượng cơ thể. Phát hiện này mở ra một cánh cửa mới trong việc phòng chống béo phì.
 
Béo phì được định nghĩa là tình trạng khi trọng lượng cơ thể tăng cao đến mức độ có thể gây tác hại cho sức khỏe. Trọng lượng cơ thể bao gồm hai thành phần chính: lượng mỡ (fat mass) và lượng nạc (lean mass). Đứng trên quan điểm bệnh lí, tăng lượng mỡ là điều đáng quan tâm, vì người có lượng mỡ càng cao thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường và tử vong càng cao.

Trọng lượng cơ thể chúng ta là kết quả của quá trình tiếp thu và tiêu thụ năng lượng. Khi năng lượng tiếp thu nhiều hơn năng lượng tiêu thụ, trọng lượng cơ thể gia tăng. Do đó, tìm hiểu yếu tố nào dẫn đến sự mất quân bình giữa tiếp thu và tiêu thụ là một trong những định hướng nghiên cứu quan trọng của giới y học.

Ít người biết rằng có hai loại mỡ trong cơ thể động vật (kể cả người): mỡ trắng và mỡ nâu. Mỡ trắng trữ năng lượng dưới dạng lipid (cụ thể là dưới dạng triglyceride) và sản xuất các hormone. Mỡ nâu đốt cháy năng lượng và tỏa nhiệt. Do đó, đứng trên quan điểm giảm cân, mỡ nâu là một loại “mỡ tốt” và mỡ trắng là “mỡ xấu”.

Ở chuột, mỡ nâu được tích tụ trên lưng, và lượng mỡ này tồn tại trong suốt quãng đời của chuột. Ở người, trong một thời gian dài, giới y học nghĩ rằng mỡ nâu cũng tích tụ trên lưng, nhưng chỉ tồn tại lúc mới ra đời, và “biến mất” trong thời gian trưởng thành hay về già. Đó cũng là một trong những giải thích tại sao phụ nữ sau mãn kinh có xu hướng tăng trọng lượng cơ thể. Nhưng 3 nghiên cứu mới đây cho thấy giả thuyết trên hoàn toàn sai. Ba công trình nghiên cứu đăng trên tập san New England Journal of Medicine cho thấy rõ ràng và nhất quán rằng mỡ nâu vẫn “ở” trong cơ thể chúng ta, và điều này mở ra một tia hi vọng trong việc kiểm soát béo phì.


Hình chụp cắt ngang một mô mỡ từ chuột. Những đốm màu trắng là các tế bào mỡ trắng. Những đốm nhỏ màu nâu chính là tế bào mỡ nâu. Mỡ nâu có chức năng đốt cháy năng lượng từ mỡ trắng

Trong nghiên cứu thứ nhất, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Harvard phân tích 1972 scan, và phát hiện mỡ nâu ở 7.5% nữ và 3% nam. Mỡ nâu thường hay thấy ở nam giới dưới 50 tuổi, hay ở những người không béo phì. Ngược lại, những người có lượng mỡ và trọng lượng càng cao thì lượng mỡ nâu càng thấp. Ở người, mỡ nâu thường hay thấy ở phía sau cổ, và chỉ khi nào dùng PET-CT scan mới thấy rõ ràng hơn.

Một nghiên cứu khác ở Hà Lan trên 25 đàn ông khỏe mạnh được cho ở trong môi trường 16°C và 22°C để xác định kích hoạt của tế bào mỡ nâu. Ở môi trường lạnh (tức 16°C) mỡ nâu tìm thấy trong 23 người, nhưng ở môi trường 22°C thì không phát hiện mỡ nâu. Người có trọng lượng thấp có nhiều mỡ nâu hơn người có trọng lượng cao. Quan sát này cho thấy mỡ nâu được kích hoạt trong môi trường lạnh hơn là môi trường nhiệt độ bình thường hay nóng.

Một nghiên cứu trên chuột cũng cho thấy tế bào mỡ nâu chỉ kích hoạt trong môi trường lạnh. Một nhóm nghiên cứu khác thuộc Đại học Louisiana cho 41 chuột sống trong môi trường lạnh 5oC 1 tuần, và trong thời gian đó chuột được cho ăn thức ăn chứa nhiều béo. Họ phát hiện rằng trong thời gian đó các tế bào mỡ nâu được kích hoạt, và hệ quả là các chuột này giảm 14% trọng lượng!

Các nghiên cứu trên cho thấy tế bào mỡ nâu chỉ kích hoạt trong điều kiện lạnh. Vậy câu hỏi đặt ra ngược lại là: nếu các tế bào mỡ nâu được làm cho tê liệt (không kích hoạt) thì hệ quả là gì? Để trả lời câu hỏi này, một nhóm nghiên cứu Thụy Điển nghiên cứu trên một nhóm chuột được tạo ra mà tế bào mỡ nâu hoàn toàn “bất động”, được cho sống trong môi trường lạnh. Kết quả cho thấy chuột tăng trọng lượng khá nhanh.

Hình PET-CT scan bên phải cho thấy rất ít mở nâu xuất hiện trong cơ thể một thanh niên khi ở trong điều kiện nhiệt độ 22oC. Nhưng khi người thanh niên đó được ở trong môi trường 16oC sau 1 giờ thì mở nâu kích hoạt rất nhiều. Những đốm đen là mở nâu. Nguồn: New England Journal of Medicine. PET-CT scan có thể phát hiện mở nâu vì PET (posittron emission tomography, một loại kĩ thuật dùng để thẩm định ung thư) được thiết kế để phát hiện tín hiệu đốt glucose trong tế bào.

Tất cả các nghiên cứu trên đây cho phép chúng ta phác họa một bức tranh về vai trò của mỡ nâu. Về cấu trúc, mỡ nâu bao gồm rất nhiều mitochondria, và mitochondria hàm chứa sắt, do đó làm cho mỡ có màu nâu đỏ. Cần nói thêm rằng mitochondria có thể ví von như là những “hãng” năng lượng trong cơ thể. Mỡ nâu chỉ kích hoạt trong môi trường lạnh, và hiệu quả của mỡ nâu là đốt cháy năng lượng (tức đốt mỡ trắng), dẫn đến giảm trọng lượng hay giảm lượng mỡ trong cơ thể. Nhưng nếu cơ thể không có mỡ nâu thì sẽ trở nên béo phì dễ dàng hơn là người có mỡ nâu.

Một người đàn ông không béo phì, với trọng lượng 68 kg, có thể có khoảng 15 kg mỡ, và trong số này có khoảng 60 – 90 gram mỡ nâu. Nhưng dù chỉ 60 gram mỡ nâu cũng có khả năng đốt cháy 300 đến 500 calorie năng lượng mỗi ngày, và có thể giảm nửa kilogram mỗi tuần.

Những khám phá trên dẫn đến một định hướng quan trọng trong việc chống béo phì là tìm cách “cấy” mỡ nâu (nếu thiếu chất này), hay kích hoạt mỡ nâu (nếu đã có) để đốt cháy năng lượng từ mỡ trắng. Đây là một hành trình tương đối gay go, nhưng vài thí nghiệm trên chuột cho thấy kết quả khả quan. Một số công ti dược đang tích cực nghiên cứu bào chế thuốc để kích hoạt mỡ nâu, nhưng cần phải 10 năm nữa thì chúng ta mới biết hiệu quả ra sao.

Tuy những nghiên cứu về mở nâu lóe một tia hi vọng mới trong việc phòng chống béo phì, nhưng chúng ta vẫn không thể chủ quan phó thác mọi chuyện cho mỡ nâu. Cơ thể con người có một hệ thống tự điều chỉnh có thể nói là “diệu kì”, cho nên can thiệp vào một yếu tố rất khó cho ra kết quả tối ưu. Với béo phì, điều này có nghĩa là không nên quá tùy thuộc vào mỡ nâu để kiểm soát trọng lượng, mà còn phải thường xuyên tập thể dục và kiểm soát chế độ ăn uống lành mạnh.

PS. Bài đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối tuần, 17/06/2010.
Read more ...