Pages

Ghi chép trên xứ chùa tháp 4 – Một thoáng Angkor Wat

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013



http://www.admin.angkorvisitor.com/Administrator/images/users_images/angkor-wat%20001.jpgNgày đầu năm mới (10/2/2013) đã có niềm vui: website của tôi đã được phục hồi! Xin chân thành cám ơn H (Cần Thơ) và các bạn kĩ thuật. Đế Thiên – là đền thờ Ấn Độ Giáo lớn nhất thế giới, và cũng là biểu tượng của đất nước Campuchea hay Cambodia (theo tiếng Anh). Bất cứ du khách nào đến Siem Reap cũng đều ghé thăm Angkor Wat, và tôi cũng không phải là một ngoại lệ. Vì là lần đầu tiên ghé đây, nên tôi phải tìm hiểu một chút về lịch sử, nhưng rất khó. Buổi sáng hôm 1/1/2013 tôi vớ được cuốn sách từ một em bé bán sách dạo, nên có trong tay một tài liệu chỉ dẫn rất đầy đủ. Dưới đây là một vài cảm nhận của tôi khi ghé qua Đế Thiên lần đầu tiên trong đời …


Đi du lịch nhiều lần, tôi nghiệm ra một điều là mình cần phải có tự do. Tuy rằng đi theo sự dẫn dắt của hướng dẫn viên là một lợi thế, nhưng lợi ích của hướng dẫn viên thường không tương đồng với lợi ích cá nhân. Có thể hướng dẫn viên muốn tiết kiệm thời gian, nên họ dẫn đến những nơi tham quanh cho nhanh, và chỉ nói qua loa. Trong khi đó, với những người đi du lịch để học, để tìm hiểu, thì không thể đi như thế được. Thành ra, tôi phải tự kiếm một cuốn sách hướng dẫn để tự mình tìm chỗ đi tham quan trong khu Angkor Wat và Angkor Thom. May mắn cho tôi, mới sáng sớm đã có một em bé gạ bán sách viết về Angkor, nhưng giá đến 20 USD. Tôi nghe nói ở đây phải trả giá, nên tôi phải … thương lượng. Thương lượng một hồi, em bé đồng ý bán sách cho tôi với giá 10 USD. Trả xong 10 USD, tôi cho thêm 5 USD và nói là quà buổi sáng, làm em bé ngẩn ngơ chẳng biết chuyện gì! Tính tôi cũng lạ, tuy là trả giá, nhưng sau khi xong việc tôi thường cho thêm, vì nghĩ làm vậy sẽ tăng tỉ số Zen trong ngày. :-) Cầm được sách trong tay, tôi mừng lắm, và lật ngay những trang viết về Angkor Wat để tìm đường đi. Cuốn sách này (Ancient Angkor do Michael Freeman và Claude Jacques soạn thảo) đã giúp tôi rất nhiều trong suốt chuyến tham quan Siem Reap.

Sáng hôm sau (1/1/2013) chúng tôi đi thăm các phế tích nổi tiếng của Siem Reap. Thật ra, hôm nay chúng tôi chỉ đi thăm hai phế tích thôi: Angkor Thom và Angkor Wat. Tên của hai phế tích này cũng cần ghi lại ở đây. Angkor là từ gốc Phạn có nghĩa là thành phố hay kinh đô. Thom có nghĩa là lớn; do đó, Angkor Thom có thể hiểu là Kinh đô lớn. Wat có nghĩa là đền; và vì thế Angkor Wat có thể hiểu như là Kinh đô của những ngôi đền. Người Việt chúng ta thì biết đến Angkor Wat là Đế Thiên và Angkor Thom là Đế Thích. 

Chúng tôi mua vé vào thăm hai Đế Thiên – Đế Thích. Giá vé là 20 USD mỗi người. Nhưng nếu là người Khmer hay gốc Khmer thì miễn phí. Trong đoàn chúng tôi, có 3 người hàng xóm của tôi là gốc Khmer (ghi trong căn cước) nên được miễn phí. Người hướng dẫn đoàn giải thích rằng vì chính quyền CPC muốn tỏ thái độ đoàn kết dân tộc, nên họ ra qui định miễn phí cho đồng hương. Anh giải thích thêm rằng chính phủ CPC nghĩ rằng tổ tiên của họ xây dựng những đền đài này là để cho tất cả con cháu hưởng, nên không có lí do gì lấy tiền của người Khmer. Nghe qua lí do tôi phải nói là rất ấn tượng. Nghe nói trước đây, chính phủ CPC đã xoá bỏ chế độ visa cho tất cả kiều bào Khmer. Nay nghe thêm câu chuyện miễn phí vé vào thăm Đế Thiên – Đế Thích tôi càng có cảm tình và kính nể chính phủ CPC hơn.

Tôi không thể không so sánh với chính sách của Việt Nam. Chính phủ VN lúc nào cũng khẳng định kiều bào là một bộ phận không thể tách rời khỏi cộng đồng dân tộc, hay ví von hình tượng hơn là “khúc ruột ngàn dặm”, nghe rất cảm động. Nhưng nói thể thôi chứ nhìn kĩ việc làm thì thấy không như thế. Có thời chính phủ nói là miễn visa cho Việt kiều, nhưng đừng có lầm, vì chỉ có visa 5 năm (chứ không có chuyện miễn visa như bên CPC). Tuy chính sách phân biệt Việt kiều về giá cả không còn nữa, nhưng đây đó thì các khách sạn vẫn ra tay chặt chém bất cứ người Việt nào cầm hộ chiếu nước ngoài. Có lần ở Cần Thơ, người tiếp tân khách sạn hỏi tôi anh là Việt kiều hay Việt Nam, tôi nói Việt kiều cũng là người Việt Nam, tôi không hiểu anh hỏi gì. Anh giải thích rằng Việt kiều thì trả giá phòng hơn Việt Nam. Lần đó có một bác sĩ ở Hải Phòng có chồng người Mĩ, và khi tính tiền phòng, họ tính giá gấp 2 người trong nước. Khi đi ăn uống, người ta tính tiền chồng chị gấp 2 chị. Đó là một cách đãi ngộ của người Việt dành cho người Việt. Ôi, mỉa mai làm sao. Tôi tự nhũ lòng: thôi thì welcome to Vietnam! Hôm nay nhân chuyến tham quan CPC, tôi chợt đặt câu hỏi đơn giản: đến khi nào thì Việt Nam nên học Campuchea đây?

Một chút lịch sử

Đế Thiên – Đế Thích là những công trình kì vĩ. Có lẽ cần phải có vài dòng về cổ sử CPC để hiểu hơn về bối cảnh ra đời của Đế Thiên – Đế Thích. Theo sách sử thì người Khmer thuộc hệ tộc Mon-Khmer ngày xưa (3000 năm về trước) sống trong vùng Đông Nam Á. Lịch sử hình thành dân tộc Khmer cũng chính là lịch sử của nước CPC. Dân tộc Khmer chịu sự ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ và Tích Lan qua đường thương mại từ thế kỉ thứ III đến thế kỉ thứ VII. Trong quá trình tương tác rất lâu dài như thế, không ngạc nhiên khi thấy rất nhiều đền đài ở CPC có dấu ấn của văn hoá Ấn Độ. Cũng như các nước lân cận, CPC từng trải qua một thời gian dài tranh chấp nội bộ và đấu tranh chống xâm lăng từ ngoài. Mãi đến thế kỉ 9 thì một anh quân xuất hiện: vua Jayavarman II.  Vị vua này lên ngôi, thống nhất lãnh thổ, và tuyên bố độc lập (không chịu sự đô hộ của đế chế Java nữa). Jayavarman II xây dựng kinh đô ở vùng núi Kulen, và chính nơi đây, ông đã ra sức xây dựng những đền đài còn đến ngày nay. 

Sau Jayavarman II là vua Suryvarman I (thế kỉ 11) cũng là một vị vua anh hùng của CPC. Vua Suryvarman I chinh phục vương quốc Mon và thiết lập một đế chế trải dài từ những vùng đất ngày nay được biết đến là Thái Lan và Lào. Trong thời gian này, ông cho xây cung điện hoàng gia, và đặt nền móng cho Angkor Wat, tức Đế Thích. Đến khi vua Suryvarman II lên ngôi thì ông cho xây Angkor Wat, và công trình này được xem là đỉnh cao của văn minh Khmer. 

Sau khi vua Suryvarman băng hà (thế kỉ 12), CPC lâm vào cảnh loạn lạc, nội chiến. Đến khi Jayavarman VII (1181-1218) lên ngôi, ông xây dựng một kinh đô mới, và đó chính là Angkor Thom. Vì vua Jayavarman VII là một Phật tử, nên ông lấy Phật giáo làm quốc giáo. Do đó, Angkor Thom có kiến trúc và phù điêu chịu ảnh hưởng văn hoá Phật giáo. Có thể nói rằng Angkor Thom hay Đế Thiên thật ra là một kinh đô của vua Jayavarman VII. Bảng dưới đây tóm lược một số công trình kiến trúc nổi tiếng gắn liền với một số vua Khmer và niên đại.

    Một số đời vua và công trình kiến trúc nổi tiếng còn lưu lại
Vua
Năm
Công trình
Jayavarman II
790 – 835
Dựng kinh đô ở vùng núi Kulen
Jayavarman III
835 – 886
Prei Monti, Trapeang Phong, Nakong
Jayavarman V
968 – 1000
Ta Keo
Suryavarman I
1002 – 1049
Preah Vihear, Cung điện hoàng gia
Suryavarman II
1113 – 1150
Angkor Wat, Banteay Samré, Phnom Rung (hiện thuộc Thái Lan)
Jayavarman VII
1181 – 1220
Angkor Thom, Bayon, Ta Prohm, Preah Khan, Banteay Chhmar
  Nguồn: Ancient Angkor (của Michael Freeman và Claude Jacques)

Angkor Wat

Angkor Wat hay Đế Thiên là một ngôi đền Hindu lớn nhất thế giới. Toàn bộ quần thể Angkor Wat có diện tích 200 ha. Ngày nay, Angkor Wat là biểu tượng của CPC. Quốc kì của CPC in hình Angkor Wat. Do đó, không ngạc nhiên khi biết rằng Angkor Wat là điểm du lịch nổi tiếng nhất của CPC. Mỗi năm có hàng triệu du khách đển đây để chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc kì vĩ. Phu nhân của Tổng thống Kennedy là Jacqueline Kennedy cũng từng ghé đây trong thời chiến tranh.Angele Jolie cũng đóng phim ở đây và xin làm công dân danh dự của CPC. Có du khách Tây chối lại rằng bà muốn khi qua đời thì rải tro xuống đây. Tất cả những điều đó nói lên rằng đây là một phế tích cực kì quan trọng của CPC và là một di sản văn hoá của thế giới.  

Theo sách vở phương Tây (tôi mới mua một cuốn để đọc), Angkor Wat bị bỏ quên sau thế kỉ 16. Nhưng người Khmer nói rằng họ không bao giờ bỏ quên công trình vĩ đại này của tổ tiên họ. Một trong những người Tây phương đầu tiên ghé qua Angkor Wat là nhà sư người Bồ Đào Nha Antonio de Madalena. Trong chuyến du hành năm 1586, de Madalena viết rằng Angkor Wat là một kiến trúc kì vĩ không thể nào mô tả bằng ngòi bút vì nó không giống bất cứ một công trình nào trên thế giới. Ông ghi chú thêm rằng tất cả các tháp đều được khắc những hoa văn và phù điêu mà chỉ có bậc thiên tài mới nghĩ đến. Trong ghi chú xuất bản năm 1589 có đoạn viết:

“Cách nửa dặm từ thành phố này là một đền gọi là Angar. Đây là một công trình ngoại hạng đến nổi không có thể diễn tả bằng ngòi viết, nhất là đây là một kiến trúc không giống bất cứ kiến trúc nào khác trên thế giới. Angar có các tháp, kiến trúc trang trí và tất cả những cái tinh tuý mà thiên tài con người đã nghĩ ra được. Đền được bao bọc bởi hào nước, đi vào đền bằng một cầu, được bảo vệ bằng hai tượng cọp bằng đá rất lớn và dữ dằn làm cho du khách phải sợ hãi …” 


Đi du lịch cần phải có sách hướng dẫn. Sáng hôm đó, tôi may mắn vớ được một cuốn sách có tựa đề là Ancient Angkor(của Michael Freeman và Claude Jacques, viết rất công phu về các công trình kiến trúc trong quần thể Angkor. Hình này do "nhiếp ảnh gia" của đoàn chụp lén, nhưng hóa ra lại hay hay, vì nó cho thấy tôi đang dò đường để đi :-). Phía sau lưng tôi là bức phù điêu rất công phu. 

Đến giữa thế kỉ 19, một nhà tự nhiên học người Pháp tên Henri Mouhot ghé thăm Angkor Wat, và qua sách, cả thế giới mới biết đến công trình vĩ đại này. Cũng như nhiều học giả phương Tây khác, Mouhot không tưởng tượng nổi người Khmer có thể xây dựng Angkor Wat, nên ông cho thời gian xây dựng là thời La Mã. Nhưng sự thật (qua các di chỉ khảo cổ) thì Angkor Wat, như chúng ta biết ngày nay, được xây trước thời La Mã cả 500 năm! 

Angkor Wat có kiến trúc và lịch sử khác hẳn Angkor Thom, một di tích quan trọng khác trong quần thể Angkor. Như đề cập trên Angkor Wat do vua Suryavarman II xây vào đầu thế kỉ 12 (tức thời Lý Thần Tông bên nước ta). Phải mất 60 năm mới xây xong. Người đứng đằng sau công trình kì vĩ này là vua Suryavarman II, được xem là một trong những vị vua vĩ đại nhất của người Khmer. Vua Suryavarman II cũng từng cầm quân sang đánh Chiêm Thành, chiếm luôn thành Vijaya (tức Bình Định ngày nay). Chẳng những đánh Chiêm Thành, ông vua này từng mang quân sang đánh nước ta, nhưng bị tướng Lý Công Bình đánh bại tại Nghệ An và bắt khá nhiều lính Khmer.


Angkor Wat soi bóng trước hồ sen. Phía sau là 5 tháp tượng trưng cho 5 ngọn núi bên Ấn Độ, với tháp cao nhất (65 m) tượng trưng cho núi Meru.

Như đề cập trên Angkor Wat do vua Suryavarman II xây vào đầu thế kỉ 12 (tức thời Lý Thần Tông bên nước ta). Phải mất 60 năm mới xây xong. Người đứng đằng sau công trình kì vĩ này là vua Suryavarman II, được xem là một trong những vị vua vĩ đại nhất của người Khmer. Vua Suryavarman II cũng từng cầm quân sang đánh Chiêm Thành, chiếm luôn thành Vijaya (tức Bình Định ngày nay). Chẳng những đánh Chiêm Thành, ông vua này từng mang quân sang đánh nước ta, nhưng bị tướng Lý Công Bình đánh bại tại Nghệ An và bắt khá nhiều lính Khmer.


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/3d/Angkor-wat-central.jpg
Mô hình xây dựng Angkor Wat

Tổng diện tích của Angkor Wat lên đến 200 ha (bề ngang 1.5 km, và bề dài 1.3 km). Angkor Wat không chỉ là một đền, mà thực chất là một thành phố (đúng với cái tên Angkor – thành phố). Đền Angkor Wat thật ra chỉ khoảng 9 ha (ngang 332 m và dài 258 m).   Phần còn lại là thành phố, kể cả cung diện hoàng gia. Nhưng ngày nay chỉ còn đền Angkor Wat mà thôi, dấu vết về một thành phố và hoàng gia thì chỉ tìm thấy qua các di chỉ.

Vì vua Suryavarman II là tín đồ đạo Ấn Độ giáo, nên kiến trúc của Angkor Wat chịu ảnh hưởng của vũ trụ quan theo Ấn Độ Giáo. Với một diện tích rộng như vừa đề cập, các kiến trúc sư Khmer có một không gian để thể hiện vũ trụ quan theo Ấn Độ giáo. Theo vũ trụ quan này, bốn hào nước chung quanh tượng trưng cho bốn biển bao bọc trái đất, và hàng loạt hành lang vòng tròn tượng trưng cho những rặng núi bao quanh Núi Meru. Núi Meru được xem là nhà của thượng đế.
Một điểm khác biệt giữa Angkor Wat và các đền đài khác là cổng chính của Angkor Wat hướng về hướng Tây, trong khi các đền khác (kể cả Angkor Thom) hướng về phía Đông. Tại sao Angkor Wat quay về hướng Tây là một trong những bí mật chưa thật sự có lời giải đáp. Nhiều giả thuyết đã được đặt ra, nhưng giả thuyết khả tín nhất là vì Angkor Wat được xây để dành cho thần Vishna trong huyền thoại Ấn Độ giáo. Mà, thần Vishna thì gắn liền với hướng Tây. Đó có lẽ là lời giải thích tại sao Angkor Wat quay về hướng Tây, khác với tất cả các đền khác quay về hướng Đông. Do đó, nhiều du khách thích đến viếng Angkor Wat vào buổi chiều để nhìn hoàng hôn lặng tắt dưới chân trời sau rặng cây thốt nốt.

Những mô tả của giáo sĩ de Madalena vào năm 1589 vẫn còn đúng nguyên vẹn. Để vào đền Angkor Wat, du khách phải đi qua một cây cầu đá bắt ngang cái hào nước (dài độ 200 m), và bề ngang chừng 20 m. Hai bên cầu là tượng rắn thần Naga với 54 thần thiện và 54 thần ác ôm rắn, nhưng nay chỉ còn lại vài tượng vì đã bị phá huỷ hay ăn trộm trước đây.


Trên cầu đá vào đền Angkor Wat, y như những gì nhà sư Bồ Đào Nha de Madalena mô tả vào thế kỉ 17. Người đứng sau tôi là anh Hai, người Khmer hàng xóm của tôi dưới quê. Anh ấy thuộc thế hệ 3 hay 4, sinh đẻ ở Việt Nam, chưa bao giờ đi Campuchea, và thế là anh đi cùng chúng tôi lần này. Vì căn cước của anh có đề dân tộc Khmer nên anh được vào thăm Angkor Wat hoàn toàn miễn phí.

Khách tham quan vào đền Angkor Wat từ hướng Tây bằng cách băng qua một cầu đá. Khách sẽ đến hành lang của đền. Hành lang có chiều ngang chỉ khoảng 3 m, nhưng dài hun hút. Khi đã vào đền, có thể đi về phía tây mặt và sẽ thấy một điện thờ thần Vishnu. Phía trái của cổng chính cũng là một nơi đáng xem, vì có những bức phù điêu rất lớn và tinh vi. Những tiên nữ Apsara được khắc chạm ở phía dưới tường rất đáng xem. Có hơn 2000 Apsara trong những bức phù điêu ở Angkor Wat! Mỗi Apsara là đặc thù, không ai giống ai. Trong số đó, có nàng tiên nữ Apsara ngay tại cổng vào rất đặc biệt vì nàng cười (và hở răng!)

Dọc theo bức tường dài, chúng ta có thể chiêm ngưỡng những bức phù điêu được khắc hoạ cực kì tinh vi. Những bức phù điêu mô tả cảnh sinh hoạt hàng ngày trong cuộc sống của người dân, cảnh các vũ nữ Apsara đủ kiểu trong những tình huống có khi ... gợi cảm, v.v.


Hành lang Ankor Wat dài hun hút. Tất cả đều có chạm khắc những bức phù điêu. Phải nhìn kĩ mới thấy; nếu chỉ đi ngang qua sẽ chẳng cảm nhận được sự tinh vi và kì công của những công trình này. 

http://www.promotiontravels.com/gallery/var/albums/Cambodia/Angkor%20Wat/AngkorWat%20054.jpg?m=1259872828
Một bức phù điêu trên tường ngay tại hành lang, nơi tôi đứng để chiêm ngưỡng

http://adamandmegstravels.files.wordpress.com/2009/08/angkor-wat-detail-shots-10.jpg
Một bức phù điêu khác cũng rất hoành tráng. Chú ý những nét khắc thể hiện cơ thể trong thế động và tĩnh.

http://s3.amazonaws.com/picable/2009/02/26/755701_Stone-carving-at-Angkor-Wat_620.jpg
Một tượng nổi mô tả nữ thần Apsara. Chú ý cách khắc họa rất sắc sảo và tinh tế. Eo thon, ngực nở, tay dài. Rất cân xứng, đúng với định nghĩa cái đẹp theo hình thể học ngày nay. Tượng đã bị phá, nên các chuyên gia Pháp và Đức đang trùng tu lại theo đúng với thành phần vật liệu ngày xưa.

http://www.blurrytravel.com/sea2003/wallpaper/wallpaper10/DSC00192_1024.jpg
Một nữ thần Apsara khác. Chú ý vú của nữ thần này hình như được sờ hơi nhiều nên rất bóng. Ở đền này có hơn 1000 điêu khắc vũ nữ Apsara, nhưng mỗi điêu khắc là đặc thù, không cái nào giống cái nào.

Đi sâu vào chính điện chúng ta sẽ thấy hai bên là hai “thư viện”. Nói là thư viện, nhưng nhìn cách thiết kế, thì đây có lẽ là điện thờ thần thánh thì đúng hơn chứ không phải nơi lưu trữ sách vở. Gần đền và ở hai bên là hai cái ao, có lẽ được xây thêm vào khoảng thế kỉ 16.

Tại khu đền chính có đến 398 gian phòng. Bất cứ phòng nào, bất cứ bức tường nào, bất cứ cây cột nào hay lan can nào, thậm chí trên trần cũng đều được chạm khắc rất tinh vi. Có thể nói rằng những phù điêu ở Angkor Wat là những sáng tác tuyệt vời của nghệ thuật Khmer. Rất nhiều bức phù điêu được khắc chạm trên tường đá ở đây. Thử tưởng tượng suốt 600 m chiều dài và 2 m chiều cao là phù điêu, thì chúng ta sẽ cảm nhận được sự vĩ đại như thế nào. Tất cả đều được khắc trên đá, và khắc một cách tinh tế, sắc nét, chứ không phải như thấy trên Trống Đồng (đường nét không mấy tinh tế). Có thể xem đây là một tác phẩm vĩ đại mà ngay cả những tác phẩm của Michelangelo cũng khó so sánh nổi với những nghệ nhân vô danh người Khmer.

Phần lớn những bức phù điêu được sáng tác dựa trên những thiên sử thi của Ấn Độ giáo. Đó là trận đánh Kurukshetra, cái chết của thần Valin, khỉ khóc về cái chết của thần Valin, v.v. Có bức phù điêu mô tả sinh hoạt của người dân, người ngồi trên lưng trâu, cảnh đánh bắt cá, cảnh làm ruộng, và … cảnh đá gà. Một phù điêu độc đáo mô tả cuộc diễu hành của vua Suryavarman đệ nhị cũng rất sống động.

Nơi chánh điện là một toà nhà ba tầng, liên kết nhau bằng những hành lang. Tầng thứ nhất là địa ngục, tầng thứ hai là trần gian, và tầng ba là thiên đàng. Tầng cao nhất là 65 m cũng chính là cổng thiên đàng. Để bước lên “thiên đàng”, khách phải đi bằng một cầu thang bằng đá. Người ta xây cầu thang với ý rằng người lên cổng thiên đàng mỗi bước đi phải cuối đầu, và nếu đi xuống thì cũng cuối đầu và mặt vẫn nhìn vào thiên đàng. Những bậc thang có dốc đứng khoảng 45 độ, nên rất khó đi. Trong quá khứ, nghe nói đã có tại nạn xảy ra. Hôm tôi ghé thì người ta đã xây một cầu thang phụ để dễ đi hơn. Trong đoàn tôi, chỉ có 3 người (kể cả tôi) là “dám” lên cổng thiên đàng. Khi đã lên thiên đàng, chúng ta có thể nhìn toàn cảnh thành phố Siem Reap và những quần thể đền đài chung quanh.


Đường lên "thiên đàng". Ban quản lí đã xây một cầu thang tạm để du khách có thể lên tầng thứ 3 của tháp (tầng thiên đàng). Trong lúc xuống "trần gian" tôi cũng phải chụp một tấm ảnh để làm kỉ niệm.


Xuống trần, chụp chung với các vũ công một bức hình làm kỉ niệm

Một trong những đền được du khách ghé thăm nhiều nhất có tên nôm na là đền chung thuỷ. Trong đền có chạm trổ nhiều tiên nữ, trong đó có tiên nữ há miệng nhe răng, chẳng biết với ý nghĩa gì. Du khách đến đây vỗ ngực để nghe tiếng vang vọng lại như tiếng trống. Nếu nghe tiếng vọng thì người đó được xem là chung thuỷ, còn không thì … không chung thuỷ. Thật ra, chỉ là đùa thôi, chứ cách xây dựng như thế thì chỉ cần một cái gõ nhẹ cũng đã nghe tiếng vọng lại.
Angkor Wat là nơi tôi và các bạn trong đoàn dừng chân lâu nhất. Lí do là vì có quá nhiều điện đền phải ghé qua cho biết. Đi từ điện này sang điện khác, tôi thán phục khả năng và kĩ năng của các nghệ nhân ngày xưa đã làm nên một tác phẩm không chỉ vĩ đại mà còn độc đáo trên thế giới, xứng đáng là một trong những kì quan của thế giới, một di sản của nhân loại. Nhưng Angkor Wat không còn nguyên vẹn như thời xưa. Qua nhiều thời gian chiến tranh và tranh chấp nội bộ, nhiều hiện vật ở đây đã bị mất mát. Người Khmer vẫn không quên được rằng ngày xưa quân Thái Lan đã từng tràn sang CPC và khi rút về họ ăn cắp những hạt kim cương và đá quí tại đây. Tôi hỏi đùa người hướng dẫn rằng thời quân đội Việt Nam sang đây đánh đuổi Pol Pot, Angkor Wat có mất gì không, thì chỉ nhận được nụ cười hiền hậu của hướng dẫn viên!



Dì cháu: Dì Út tôi cũng tháp tùng chuyến đi thăm xứ chùa tháp

Thư giãn trước cầu đá dẫn vào Đế Thiên - Angkor Wat

(Còn tiếp ...)





Read more ...

Ghi chép trên xứ chùa tháp 3 – Siem Reap và Nụ cười Angkor

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013
http://travel.roro44.com/asia/cambodia/Street_Siem_Reap_Cambodia.jpgĐến 5 giờ chiều thì xe chúng tôi vào Thành phố Siem Reap. Hai bên đường có vẻ trù phú hơn và cây cối cũng xanh tươi hơn các tỉnh chúng tôi mới đi qua. Thành phố Siem Reap là thủ phủ của tỉnh Siem Reap (cùng tên), nằm hướng tây bắc của CPC. Người hướng dẫn đoàn nói Siem Reap từng là kinh đô của vương quốc CPC ngày xưa, làm tôi liên tưởng đến Hoa Lư là kinh đô cổ của Việt Nam. Vì là kinh đô, nên Siem Reap có một lịch sử lâu đời và đầy màu sắc chiến tranh. Nhưng ngày nay thì Siem Reap là một khu đô thị êm đềm, và theo tôi, cũng có một cái “duyên dáng” của một thành phố cổ, nhất là nằm bên cạnh Biển Hồ.


Siem Reap 

Tên của Siem Reap cũng có một lịch sử thú vị. Siam hay Siem dĩ nhiên có nghĩa là Thái Lan. Reap có nghĩa là đánh bại. Do đó, chữ Siem Reap có nghĩa là đánh bại Thái Lan. Thành phố có tên Siem Reap từ thế kỉ 16, khi vua Ang Chan đánh bại quân xâm lược Thái Lan, bắt sống hơn 10 ngàn quân Thái, và bắn chết thái tử Ong của Thái Lan ngay trên lưng voi. Để kỉ niệm chiến công hiển hách này, vua Ang Chan cho đổi tên tỉnh thành Siem Reap. Tôi hỏi đùa anh hướng dẫn đoàn là cách đặt tên như thế có đụng chạm đối với du khách Thái Lan đến đây không, thì anh ấy cười và nói khi hướng dẫn đoàn Thái Lan anh ấy đề cập đến Siem Reap bằng một cái tên khác “trung dung” hơn.

http://farm5.staticflickr.com/4081/4812447007_348b99b42d.jpg
Đường đến Siem Reap, cây cối xanh tươi hai bên đường

Bằng chứng khảo cổ học cho thấy Siem Reap đã có người định cư từ 1000 năm trước Công nguyên. Người dân Siem Reap thời đó cũng canh tác lúa, cũng ăn gạo, cũng có những công trình chống lũ lụt như người dân thời nay. Từ thế kỉ 9 đến 13, vương triều Khmer ngự trị Siem Reap, và đã cho xây dựng những công trình kiến trúc kì vĩ vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay. Vào thời cực thịnh đó, Siem Reap có khoảng 600 ngàn đến 1 triệu cư dân. Nhưng người dân Siem Reap phải liên tục chống trả những cuộc xâm lăng từ người Thái và Việt. Một người bạn Khmer của tôi thường đùa rằng CPC rất bất hạnh vì phải sống giữa một bên là con rắn (chỉ Thái Lan) và một bên là con rồng (chỉ Việt), lúc nào cũng chờ chực nuốt chững nước CPC bé nhỏ. Cách ví von này làm tôi nghĩ đến Việt Nam cũng là một nước bất hạnh vì phải sống bên cạnh một con rồng khổng lồ nhưng nổi tiếng xấu tính.

Quay lại câu chuyện lịch sử Siem Reap, trong thời gian 1362 đến 1392, Siem Reap kinh qua một mùa khô hạn lớn. Đến năm 1415 và 1440, Siem Reap lại trải qua hai mùa khô hạn nữa! Những thiên tai này làm cho vương triều Khmer suy yếu, và thừa cơ hội, Thái Lan tấn công kinh thành Angkor. Vì nghĩ rằng những trận hạn hán và xâm lăng của Thái Lan là trời trừng phạt, nên triều đình quyết định dời đô về Phnom Penh. Thế là Siem Reap và các đền Angkor Thom, Angkor Wat, v.v. bị bỏ hoang (chỉ có các nhà sư ở lại), nhưng người Khmer không bao giờ quên những công trình này.

Siem Reap và Angkor Thom - Angkor Wat chỉ “hồi sinh” từ thế kỉ 19. Năm 1863, người Pháp bắt đầu có mặt ở CPC. Vào thế kỉ 19, Siem Reap chỉ là một cái làng thưa thớt cư dân. Qua những ghi chép của các thừa sai người Pháp, thế giới mới biết được những công trình kiến trúc vĩ đại của người Khmer, và Siem Reap bắt đầu thu hút du khách phương Tây. Ngày nay, Siem Reap là một điểm đến của rất nhiều du khách khắp thế giới. Đến CPC mà chưa đến Siem Reap là một thiếu sót lớn. Do đó, trên đường phố Siem Reap lúc nào cũng có bóng dáng người Âu Mĩ, và dĩ nhiên là người Việt. Cùng với du lịch, Siem Reap có nhiều khách sạn sang trọng. Chỉ cần đi dọc theo lộ chính tôi đã đếm được cả 5 khách sạn 5 sao với những thương hiệu nổi tiếng như Sofitel, Raffle, Meridien, v.v.

Theo số liệu chính thức thì tỉnh Siem Reap ngày nay có khoảng 890 ngàn dân, nhưng thành phố Siem Reap thì chỉ có 174 ngàn dân. Đường phố Siem Reap cũng chẳng khác đường phố Việt Nam bao nhiêu. Ở đây cũng có xe Honda chạy bên cạnh xe hơi. Thật ra, xe hơi xem ra còn nhiều hơn xe gắn máy. Tôi thấy rất nhiều xe hiệu Lexus và Toyota, nhưng rất ít các hiệu khác như Honda hay Mazda, và càng hiếm Mitshubishi. Nghe nói giá một chiếc Lexus ở đây chỉ khoảng 5000 USD, nên những người có tiền rất thích loại xe này. Nhưng ở Siem Reap không có nạn kẹt xe như ở các thành phố lớn của Việt Nam.

Hai bên đường phố Siem Reap cũng thỉnh thoảng xuất hiện những toà nhà xây theo biệt thự đời Pháp để lại. Cũng những dây điện giăng kính mặt tiền của nhà và các bản hiệu.

http://heathersharmony.me/wp-content/uploads/2012/09/Siem_reap.jpg
Đường phố Siem Reap cũng dây điện giăng tùm lum, chẳng khác gì Sài Gòn hay Hà Nội 

Một điểm nổi bật và đáng kính ở Siem Reap là tất cả nhà và building ở đây đều thấp thấp. Thật ra đó là luật. Giới chức CPC không cho phép toà nhà nào xây cao quá 65 m. Tại sao con số 65? Tại vì đền cao nhất trong quần thể phế tích Angkor Thom và Angkok Wat cao 65 m. Do đó, để tỏ lòng tôn kính di tích, tất cả cấu trúc ở đây không được xây cao hơn 65 m. Luật này có cái hay là nó tạo nên một cảnh quan đẹp và thứ tự, không có tình trạng nhô lên thụt xuống như ở các thành phố Việt Nam.

http://www.globaltravelmate.com/uploads/images/cambodia/siem_reap/siem_reap_pubstreet.jpg
Một con đường nổi tiếng của Siem Reap chuyên bán thức ăn và bia về đêm

Đoàn chúng tôi đã đặt phòng ở một khách sạn 3 sao, rất cổ kính. Đây là một villa của một gia đình rất giàu có ngày xưa ở thành phố Siem Reap. Phòng ốc đều làm bằng gỗ rất đẹp. Tuy hơn 100 năm rồi, nhưng chất lượng vẫn còn cực kì tốt. Khách sạn có đầy đủ tiện nghi, kể cả internet và wifi. Bên trái khách sạn là một quán cà phê Pháp, nơi tôi hay ngồi nhâm nhi đọc sách. Bên phải khách sạn là một quán bán hủ tíu, nơi tôi thưởng thức món hủ tíu Nam Vang mỗi sáng.

Nụ cười Angkor 

Mới nhận phòng xong thì tôi biết đêm nay (31/12) có show diễn Nụ cười Angkor – Smile of Angkok. Nhân viên tiếp tân khách sạn cho biết sô diễn này rất hoành tráng, khách đến đây đều xem qua và rất ấn tượng. Thế là đoàn chúng tôi quyết định đi. Chúng tôi chỉ có 35 phút để đi đến nơi, nhưng người tài xế nói ok, chẳng có gì phải lo!

Anh tài xế nói đúng, vì từ khách sạn đến rạp hát chỉ 20 phút. Rạp hát hay đúng hơn là hí viện rất lớn nằm giữa đồng không, y như hí viện tôi từng ghé ở Pattaya vậy. Khi đoàn chúng tôi đến thì đã có hàng chục xe bus với hàng trăm du khách đang chờ. Chúng tôi mua vé, mỗi vé tốn 38 USD đến 48 USD, tuỳ theo hạng ghế. Tôi rất ấn tượng với cách tổ chức ở đây. Từ cổng vào đến cổng ra, tất cả đều được thiết kế rất logic để tránh tình trạng lộn xộn. Vào rạp thì đã có người hướng dẫn chỉ ghế ngồi, đâu ra đó, không có tình trạng ồn ào và vô lối như ở Việt Nam.

http://www.angkorera.com/themes/default/images/smile_of_angkor.jpg
Bích chương quảng cáo show tạp kĩ Nụ cười Angkor

Nụ cười Angkor quả là một show văn nghệ hoành tráng. Đạo diễn của show văn nghệ là nghệ sĩ trứ danh Trương Nghệ Mưu. Nghe nói khi Trương Nghệ Mưu ghé thăm Siem Reap mấy năm trước, và đọc được lịch sử của thành phố cùng những phế tích nổi tiếng ở đây, ông có ý định dựng show Nụ cười Angkok. Cái tên này có lẽ lấy cảm hứng từ những bức tượng 4 mặt ở đền Bayon trong quần thể Angkor Thom. Đó là những gương mặt có nụ cười bí hiểm, giông giống như nụ cười của Mona Lisa, nhưng phảng phất triết lí vô thường của Phật giáo. Chẳng những dựng show văn nghệ, ông còn huấn luyện và tài trợ cho chương trình. Ông xem đó là một món quà ông cho người dân CPC.

Show diễn gồm 5 phần: hỏi thần, vương quốc huy hoàng, sự hồi sinh của những vị thần, khuấy biển thành sữa, lời nguyện cầu cho cuộc sống, và kết thúc với show diễn nụ cười Angkor. Tất cả năm vỡ kịch được dàn dựng dựa trên truyền thuyết và văn hoá Khmer. Xem qua show tạp kĩ này, chúng ta cũng có thể hình dung một cách khái quát về lịch sử hình thành của vương quốc Khmer, và lịch sử đấu tranh chống những thế lực xâm lăng. Show diễn còn cho chúng ta thấy nền văn minh sáng chói của Khmer, qua những công trình kiến trúc vĩ đại như Angkor Wat và Angkor Thom. Nghe nói show tạp kĩ này được đánh giá là hoành tráng nhất và lớn nhất Đông nam Á.

Show diễn có sự tham gia của những nghệ sĩ số 1 và những vũ công Apsara hàng đầu của CPC. Điều đáng nói là trong nhóm vũ công, có một số là trẻ mồ côi, một số là những người thân của các nạn nhân bom mìn trong thời chiến tranh. Do đó, khi các vũ công xuống chào khách sau show diễn, chúng ta dễ nhận ra những nét “chân đất” của họ. Do đó, đến đây thưởng thức một show hoành tráng nhưng cũng là một cách giúp đỡ người Khmer. Tất cả trang phục đều dựa trên mô hình của những hoa văn, phù điêu hay thấy trong Angkok Wat.
Show tạp kĩ dùng những kĩ thuật tân kì nhất như đèn LED, tia laser, ánh sáng, khói, màn nước. Kĩ thuật này không khác gì những show nhạc của Thuý Nga Paris by Night. Với màn hình rất lớn cùng âm thanh 3 chiều tạo cho khán giả cảm giác đang sống trong môi trường của 1000 năm về trước. Trong hơn 1 tiếng đồng hồ, khán giả hào hứng theo dõi những show diễn cực kì điêu luyện và hào hứng. Những vũ điệu truyền thống của những vũ công cùng những hoạt hình sống động làm cho khán giả không thể nào chợp mắt theo dõi những diễn biến quan trọng của sự hình thành Angkor Thom và Angkor Wat.

Tôi đã có hơn một giờ rất ấn tượng ở đây. Điều làm tôi chú ý là phần phụ đề có 4 tiếng theo thứ tự: Tàu, Anh, Việt, Hàn. Tôi tự hỏi tại sao tiếng Tàu lại đứng đầu ở đây? Có phải vì người dựng show là người gốc Tàu, hay vì CPC chịu ảnh hưởng của Tàu quá nhiều? Sau này tôi mới hiểu rằng show diễn có sự tài trợ của Bộ Văn hoá và Thông tin của Tàu. Show diễn này có thể xem như là một màn dạo đầu cho chương trình tham quan Angkor Thom và Angkor Wat.

http://www.diamondelephanttravel.com/userfiles/smile-of-angkor2.jpg
Một màn diễn với các vũ công điêu luyện

http://farm7.staticflickr.com/6038/6426985745_327c9ef6d0_z.jpg
Màn diễn quấy biển thành sữa

http://farm8.staticflickr.com/7164/6548290735_8d847455cc_z.jpg
Một màn diễn mô tả một trận chiến chống ngoại xâm

Về đến khách sạn, tôi mới chợt nhớ đêm nay là đêm giao thừa năm mới. Nhưng lạ thay, cả thành phố không có gì để gọi là chào mừng năm mới cả. Hỏi người hướng dẫn tôi mới biết là thông thường thì người dân ở đây cũng ăn mừng năm mới (Tây), nhưng năm nay vì vua Norodom Sihanouk mới băng hà, nên người dân không ăn mừng năm mới như là một cách tỏ lòng thương tiếc nhà vua.

Norodom Sihanouk là một nhân vật chính trị rất thú vị. Tôi từng đọc sách về ông hoàng này và thấy cuốn hút theo sự nghiệp của ông. Sihanouk sinh ngày 31/10/1922, và qua đời ngày 15/10/2012, thọ 89 tuổi. Thưở nhỏ, ông theo học tại trường trung học Chasseloup – Laubat ở Sài Gòn. Năm 1941, sau khi vua Monivong qua đời, Norodom Sihanouk lên ngôi vua lúc mới 19 tuổi. Trong suốt thời gian từ 1941 đến cuối thể kỉ 20, ông đã trải qua những vai trò như vua, thủ tướng, nhà cách mạng chống cộng sản, lãnh tụ lưu vong, và đến năm 2004 thì lại trở thành vua một lần nữa. Theo sách CPC thì vào thập niên 1950s, ông Ngô Đình Nhu từng tổ chức ám sát ông Sihanouk, nhưng sự việc không thành. Ông Sihanouk có lần xem ông Hồ Chí Minh như là “cha”, nhưng ông cũng sẵn sàng chống cộng sản, hay thân cộng sản. Ông cũng có khi chống Mĩ, nhưng sau này thì thân Mĩ. Nói chung, tôi thấy ông là một chính khách rất phức tạp. Có lẽ trong tâm trí ông, ông làm bất cứ việc gì, miễn là có lợi cho người dân CPC.

http://d3trabu2dfbdfb.cloudfront.net/1/8/1843250_300x300.jpeg
Vua Norodom Sihanouk (30/10/1922 - 15/10/2012)

Sự nghiệp chính trị của ông Sihanouk có thể ví như cái võng. Lúc thì ông theo bên này, lúc ông bỏ chạy sang bên kia. Trong thời chiến tranh Việt Nam, ông giữ CPC ở thế trung lập, không thân cộng sản mà cũng chẳng theo Mĩ. Nhưng khi Bắc Việt bắt đầu sử dụng cảng Sihanoukville để xâm nhập miền Nam, thì ông làm thân với Mĩ. Ông làm ngơ để cho Nixon dội bom xuống miền Bắc Việt Nam. Nhưng sau khi ông bị lật đổ thì ông nghi Mĩ đứng đằng sau, nên ông làm bạn với phe cộng sản. Đến khi Khmer Đỏ lộ nguyên hình là kẻ diệt chủng, thì ông trở thành người lưu vong và thân phương Tây. Mãi đến năm 1993 ông mới quay về CPC qua sự dàn xếp của Liên Hiệp Quốc.   Khi ông lên ngôi vua lần thứ hai thì con trai ông là thái tử Ranariddh (lãnh đạo đảng Funcipec) thắng cử thủ tướng, nhưng phe Hun Sen không chịu, và thế là ông dàn xếp có hai thủ tướng. Nhưng trong chế độ hai thủ tướng thì ông lại thân với Hun Sen hơn là với con mình. Thật ra, chính ông đóng vai trò hạ bệ Ranariddh để Hun Sen trở thành thủ tướng. Rất nhiều người phê phán về thái độ chính trị đa màu sắc của ông, nhưng hình như ông chẳng quan tâm. Ông nói đơn giản rằng ông làm tất cả điều có thể làm để đảm bảo hoà bình, vẹn toàn lãnh thổ, và hạnh phúc của người dân. Thành ra, người dân tôn kính ông là phải.

Ít người biết rằng ngoài hoạt động chính trị, ông Sihanouk còn là một nghệ sĩ có hạng. Ông yêu thích nhạc và điện ảnh. Là một nhạc sĩ saxophone, ông từng dùng kèn để chiêu đãi các phái đoàn ngoại giao qua những sáng tác của chính ông. Ông còn là nhà đạo diễn, giám đốc phim, và viết kịch bản cho 19 phim. Giới kí giả phương Tây thường viết rằng ông Sihanouk là một người rất sành điệu trong ăn uống, đặc biệt là những món ăn Tây. Trong thời gian lưu vong bên Pháp, ông thường tổ chức những buổi dạ tiệc với những món ăn cầu kì dành cho khách nước ngoài.

Siem Reap có một khu dành cho hoàng gia. Vì vua mới băng hà, và phải chờ đúng 100 ngày mới hoả táng, nên năm nay Thành phố Siem Reap không có tổ chức bắn pháo bông, và cũng không có những chương trình văn nghệ ồn ào. Thay vào đó, nhà chức trách địa phương thiết lập một bàn thờ tạm phía ngoài cung điện của hoàng gia để người dân có thể đến đó dâng hương. Thật là đáng nể! Thái độ của người dân CPC làm tôi nhớ mấy năm trước ở Việt Nam. Lúc đó, miền Trung bị một trận bão lụt rất nặng nề, với cả trăm người chết, ấy thế mà ở Hà Nội, người ta vẫn ca hát ăn mừng như không có chuyện gì xảy ra. Sự vô cảm với đồng bào ở Việt Nam phải nói là ở qui mô kinh khủng so với người dân CPC. Hoá ra, sau bao nhiêu năm chiến tranh và bị vùi dập trong chế độ Pol Pot, người Khmer vẫn còn duy trì được một chuẩn mực đạo đức và văn hoá đáng nể.

(Còn tiếp ...)





Read more ...

Ghi chép trên xứ chùa tháp 2 – Cái nghèo và chính trị

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013
http://i1239.photobucket.com/albums/ff512/giaminh03/DSC00002bis.jpgCampuchea vẫn là một đất nước rất nghèo. Cái nghèo hiện ra ngay trên quốc lộ và hai bên đường lộ. Nhìn những chiếc xe đò cũ kĩ và những em học trò đen đúa, tôi chạnh lòng nhớ lại Việt Nam trong thời bao cấp. Nhưng Campuchea có cái khác không nghèo: đó là chính trị. Một đất nước chỉ 14 triệu dân mà có đến 67 đảng phái chính trị, và họ cạnh tranh nhau rất ... sinh động. Sự cạnh tranh xem ra có lợi cho người dân ...


Cái nghèo của người dân 

Con đường đi từ Mộc Bài đến Siem Reap chỉ là một con đường hai làn xe. Tuy chỉ hai làn xe, nhưng chất lượng khá tốt, không thua gì những quốc lộ bên Việt Nam. Xe chạy bon bon, không có vấn đề gì cả. Hai bên đường là đồng ruộng mênh mông. Mấy người hàng xóm tôi bàn tán râm rang về cách làm ruộng ở đây. Chỉ nhìn qua cây lúa, họ khẳng định dân ở đây chỉ làm ruộng một vụ (thay vì 3 vụ ở Việt Nam). Anh hướng dẫn đoàn nói thêm rằng gạo ở đây rất ngon, do nông dân ở đây không dùng thuốc trừ sâu và cũng chẳng có phân bón. Mà, đúng như anh ấy nói, khi đoàn dừng chân ở một quán cơm trên đường, tôi có dịp ăn gạo trắng thì thấy quả thật hạt gạo ở đây nhỏ, ngắn, rất trắng, và có vị ngọt. Có thể ăn cả chục chén cơm mà không thấy chán! Nghe nói người Việt thường hay sang đây mua gạo về ăn. Thế là người trong đoàn mua ngay vài bao gạo về làm quà cho bà con bên Việt Nam.

Một điều đáng chú ý là rất ít bóng dáng công an, cảnh sát ở xứ chùa tháp. Không giống như bên Việt Nam, cánh tài xế rất ngán công an giao thông, những người mà họ hóm hỉnh đặt tên là “anh hùng núp”; ở đây rất ít thấy cảnh sát xuất hiện. Không biết mấy nước khác thì sao, chứ có dịp đi nhiều nơi trên thế giới, tôi nghĩ Việt Nam có lẽ là nước có nhiều công an và cảnh sát nhất. Đi đâu cũng thấy họ. Ở đâu cũng có mặt họ. Sự có mặt dày đặt của cảnh sát làm cho người ta có ấn tượng Việt Nam là một xã hội cảnh sát trị. Nhưng ở đây, nơi chỉ cách Việt Nam có vài cây số, chẳng thấy bóng dáng công an hay cảnh sát đâu cả. Có lẽ xứ người ta thanh bình hơn Việt Nam nên không cần nhiều cảnh sát chăng.

Dọc đường CPC có rất nhiều cây thốt nốt. Với tôi thì không còn xa lạ gì với loại cây này, vốn có rất nhiều dưới quê tôi ở Kiên Giang. Nhiều người Khmer tin rằng nơi nào có cây thốt nốt thì nơi đó là đất của người Khmer hay một phần lãnh thổ của CPC. Nhưng niềm tin này có lẽ không đúng, vì cây thốt nốt không chỉ có mặt ở CPC, mà khắp vùng Đông Nam Á, kể cả Nam Dương, Mã Lai, và Thái Lan. Dĩ nhiên, ngày xưa (trên 10 ngàn năm trước) thì đâu có phân định quốc gia như hiện nay; tất cả chỉ được biết đến như là Đông Nam Á mà thôi. Nhưng cây thốt nốt và người Khmer sống bên nhau chắc rất lâu, nên họ xem cây này như là một loại cây đồng hành cùng lịch sử tồn tại của họ. Thơ văn Khmer mô tả cây thốt nốt ôm ấp thôn làng Khmer, nuôi sống người dân làng, ca ngợi những mối tình trai gái dưới cây thốt nốt, v.v. Do đó, không ngạc nhiên khi người Khmer xem cây thốt nốt là biểu tượng của sự kiên nhẫn và trường sinh.

http://www.saga.vn/Upload/nooneknow/cay%20thot%20not-saga.vn.jpg

Cây thốt nốt có mặt trên khắp đất nước Campuchea. Quê tôi cũng có nhiều cây thốt nốt như thế này. Đi ruộng giữa buổi trưa hè, mà ngồi dưới tàn cây thốt nốt, mở gà mên cơm ra với một con khô cá sặc thì ... ngon không có bút nào tả hết. 
Cây thốt nốt giông giống cây cau (hình như khoa học xếp hai loại cây này cùng họ), nhưng trái thì khác hẳn. Trái cây thốt nốt có thể biến chế thành đường (rất ngon) hay nấu chè thốt nốt, còn thân cây thì được tận dụng để làm quạt, làm cầu bắt ngang sông, v.v. Dưới quê tôi, người ta còn dùng thốt nốt làm rượu, uống cũng ngon. Nhưng qua đến đất nước CPC tôi mới thấy cây thốt nốt phổ biến như thế nào. Suốt đoạn đường 500 km, lúc nào tôi cũng thấy cây thốt nốt. Thốt nốt mọc giữa đồng ruộng bao la màu xanh rì. Thốt nốt bên cạnh nhà. Thốt nốt ở cổng làng và bên cạnh chùa. Tôi mới hiểu tại sao cây thốt nốt được xem là biểu tượng văn hoá của người Khmer.

Khác với Việt Nam nhà cửa mọc lên san sát nhau, còn ở đây thì nhà cửa còn thưa thớt lắm. Nhà thường được xây như nhà sàn ở miền Tây nguyên Việt Nam. Phía trên là nơi ở, phía dưới bỏ trống, nhưng cũng có khi nơi trú ngụ của gia cầm. Anh hướng dẫn đoàn cho biết nhà nào có rèm màu đỏ là nhà đó có con gái chưa chồng; rèm màu xanh là trai chưa có vợ; và rèm màu vàng là nhà có nhà sư ở. Không biết thực hư ra sao, nhưng đúng là thỉnh thoảng tôi cũng nhìn thấy những bức rèm với màu đỏ và xanh. 

Ở các vùng quê, nhà cửa xây chẳng theo một qui hoạch nào, mà hình như tụ nhau thành một xóm. Nhìn chung tôi thấy cảnh nông thôn ở CPC đơn giản và có vẻ rất thanh bình. Nhìn cảnh thưa thớt nhà cửa ở đây tôi liên tưởng đến làng quê của tôi 40-50 năm về trước, thời đó cũng rất ít nhà và nhiều ruộng như ở CPC bây giờ.  


http://images.yume.vn/blog/201201/05/1325697509_5.jpg
Một ngôi nhà sàn tiêu biểu ở Campuchea. Cách xây nhà như trên cũng thỉnh thoảng thấy ở vùng quê miền Tây Việt Nam nơi có đông người Khmer.

Sự thưa thớt dân cư ở CPC cũng là điều dễ hiểu. Theo số liệu chính thức, CPC có diện tích 181,040 km^2, với dân số 14.8 triệu người. Như vậy tính trung bình, chỉ có 82 người trên mỗi km^2. Việt Nam, diện tích 331,698 km^2 (bây giờ thì chắc ít hơn rồi do Tàu chiếm một số!), với dân số 91.5 triệu người, và mật độ dân số là 671 người trên mỗi km^2. Do đó, mật độ dân số VN cao gấp 8 lần CPC.

Đường lộ CPC có vẻ ít xe hơn Việt Nam. Trên Quốc lộ 6 chúng tôi đang đi, lâu lâu mới thấy một chiếc xe hơi, phần lớn là xe gắn máy nhưng cũng không dày đặc như ở bên Việt Nam. Thỉnh thoảng tôi thấy vài chiếc xe bus tốc hành mang biển số Việt Nam trên Quốc lộ 6. Hỏi ra mới biết mấy năm gần đây, việc lưu thông giữa CPC và Việt Nam đã dễ dàng hơn. Xe đăng kí ở Việt Nam cũng có thể xin giấy phép lưu hành ở CPC (như xe tôi đang đi); ngược lại, xe đăng kí bên CPC cũng có thể chở khách từ Việt Nam. Tôi thấy đó là một phát triển đáng mừng. Tôi chỉ ước một ngày nào đó không xa, tất cả các nước trong khối ASEAN thông xe để người dân có cơ hội tham quan như bên Âu châu vậy. Tôi nghĩ chắc trong tương lai việc thông xe chắc chắn sẽ xảy ra, nhưng không biết lúc đó tôi có điều kiện để đi khắp vùng ASEAN hay không.

Thỉnh thoảng trên đường xuất hiện những chiếc xe cũ kĩ, và kỉ niệm của những năm tháng đau khổ sau 1975 lại ùa về. Thời sau 1975, nhất là thời bao cấp, xe đò Việt Nam còn rất thô sơ. Mỗi lần muốn đi từ Rạch Giá về quê (hay ngược lại), chúng tôi phải xếp hàng từ sáng sớm mà cũng không có một chỗ đàng hoàng, có khi phải đeo ngang hông xe, có khi ngồi trên mui xe cùng với gà vịt và trái cây. Được chỗ ngồi cũng không êm thắm gì đâu, bởi ghế ngồi được tái chế bằng gỗ (chứ không có nệm). Người may mắn ngồi trên ghế, người kém may mắn thì ngồi bẹp xuống giữa hai hàng ghế. Có khi xe không chịu chạy, và thế là đám thanh niên chúng tôi phải nhảy xuống để đẩy cho xe lấy trớn vô số. Thời đó, nhiều chiếc xem còn chạy bằng than, và máy xe được khởi động bằng cái cần quay. Người tài xế phải quay cả chục vòng thì máy xe mới chịu nổ! Ngày nay thì Việt Nam tiến bộ hơn nhiều, nên không còn cảnh tượng hải hùng như xưa nữa. Ấy vậy mà ngày nay, trên đất nước CPC láng giềng, tôi lại chứng kiến những chiếc xe như thế rong ruổi. Những người trẻ tuổi đi trong chuyến đi nhìn cảnh tượng đó và không ngớt lắc đầu cho sự hiểm nguy của những chiếc xe như thế. Phải nhìn thấy như thế để cảm nhận được cái nghèo của nước láng giềng sau bao nhiêu năm chiến tranh.

http://i164.photobucket.com/albums/u19/lebinh52/cambodia%201080/DSC_0238.jpg
Một cảnh chen chúc nhau lên xe đò. Cảnh này làm tôi nhớ đến thời bao cấp ở Việt Nam

http://vnexpress.net/Files/Subject/3b/bd/e4/7e/xe_tai_a.jpg
Những chiếc xe kĩu kịt nặng nề như thế này rất phổ biến dọc đường từ Mộc Bài đi Siem Reap

CPC còn nghèo có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên. Lịch sử đất nước này có quá nhiều chính biến, và gần đây nhất là chế độ diệt chủng của Pol Pot (1975-1979). Không ai biết chế độ cộng sản của Pol Pot đã giết chết bao nhiêu người, nhưng con số có thể trong khoảng 1.7 triệu đến 2.5 triệu, tức khoảng 20% dân số CPC lúc đó. Chỉ riêng việc khảo sát 20 ngàn mồ chôn tập thể, các nhà nghiên cứu phương Tây đã ước tính rằng có đến 1,386,734 người bị giết chết. Có thể nói rằng Pol Pot là một tên sát nhân lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Điều trớ trêu là tên này giết người nhân danh chủ nghĩa cộng sản! Với một lịch sử gần như thế, không trách người Khmer vẫn chưa qua khỏi cơn ác mộng. Trong thời gian Pol Pot cai trị CPC, hàng loạt những cơ sở công nghiệp, thương mại, văn hóa, v.v. bị tiêu hủy. Tính từ 1979 khi quân đội Việt Nam sang giải phóng CPC đến nay chỉ 30 năm, một thời gian còn quá ngắn để phục hồi nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới thì thu nhập bình quân của người dân CPC trong thời gian 2008-2012 là 897 USD, còn Việt Nam là 1407 USD. Thu nhập trung bình của CPC năm nay tương đương với thu nhập của Việt Nam vào năm 2006 hay 2007. Như vậy, có thể nói CPC đi sau Việt Nam 5 năm? Tuy nhiên, anh hướng dẫn chuyến đi tự tin rằng trong tương lai CPC sẽ phát triển hơn Việt Nam. Tại sao? Tại vì, theo anh thấy, CPC được nhiều nước trên thế giới tài trợ, đất nước CPC có nhiều tài nguyên mà ít dân, và quan trọng hơn là nền chính trị đa nguyên đa đảng của CPC đang dần dần ổn định. Một khi nền chính trị đa đảng ổn định thì đất nước này sẽ cất cánh. Tôi cũng hi vọng như thế.

Sinh hoạt chính trị 

Nói đến đa nguyên đa đảng tôi thấy một nét hay hay ở CPC. CPC có ít dân, nhưng có đến 67 đảng phái chính trị! Tuy nhiều đảng như thế, nhưng trong thực tế thì chỉ có 2 đảng chính: đảng Nhân dân Campuchea và đảng FUNCIPEC. Đảng Nhân dân CPC đang cầm quyền chính là Đảng cộng sản trước đây. Nhưng có lẽ chữ “Communist” nặng nề quá và kinh khủng quá, nên người trong đảng quyết định đổi sang cái tên thân mật hơn: Cambodia People’s Party hay CPP. Còn Đảng FUNCIPEC thì thật ra do cựu hoàng Sihanouk thành lập ở Pháp vào năm 1981 để chống bọn Khmer Đỏ do Trung Cộng yểm trợ. Funcipec là viết tắt của chữ Front Uni National pour un Cambodge Indépendant, Neutre, Pacifique, et Coopératif, có thể dịch là là Mặt trận quốc gia cho một Campuchea độc lập, hoà bình và hợp tác. Đi hai bên đường, tôi thấy hai đảng này bên nhau một cách … đề huề. Xa xa có một biển dựng lên với hàng chữ Cambodia People’s Party, và cách đó vài trăm mét thì có bảng đề tên Funcipec Party. Tôi đoán đó là chi bộ hay trụ sở địa phương của đảng. Nhưng anh hướng dẫn nói không hẳn vậy. Mỗi khi đảng nào xây được một ngôi trường, hay một con lộ vào làng, họ bèn cho dựng lên bảng hiệu đề tên đảng của họ. Vì đây là những công trình phúc lợi xã hội, nên đảng đối lập cũng cố kiếm tài trợ xây lên một công trình khác và dựng bảng đề tên như là một cách … kể công. Do đó, hai đảng dân tộc KPC và FUNCIPEC luân phiên nhau xuất hiện trên đường lộ khắp nước. Nếu cạnh tranh chính trị mà vì lợi ích xã hội như thế thì tôi nghĩ chắc CPC đã trưởng thành hơn và văn minh hơn một số nơi. 

Tuy dấu hiệu chính trị xuất hiện nhiều [qua tên đảng] như thế, nhưng đường phố CPC không có khẩu hiệu chính trị. Ở Việt Nam thì khẩu hiệu chính trị xuất hiện khắp hang cùng ngõ hẻn. Đi đâu cũng thấy những khẩu hiệu như Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta, Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm, v.v. xuất hiện trên những băng rôn với màu nền đỏ chói và chữ vàng choé. Đọc qua những khẩu hiệu này, tôi không dám chắc mình hiểu ý nghĩa thật của chúng là gì. Rất nhiều “muôn năm” và “vĩ đại” trong khẩu hiệu. Nhưng trong lịch sử nhân loại làm gì có một thực thể nào tồn tại muôn năm (ngoại trừ trái đất). Ngày xưa những ông “trời con” bên Tàu bắt người ta phải tung hô vạn tuế, mà các vị ấy có sống đến 100 năm đâu. Do đó, tôi không nghĩ những khẩu hiệu đang có mặt khắp nơi ở đường phố Việt Nam có ý nghĩa gì, ngoại trừ tính tuyên truyền và nhắc nhở người dân về công ơn của Đảng, của Bác. Sự hiện diện của khẩu hiểu chính trị trên đường phố tự nó nói lên một đất nước còn lạc hậu, giáo điều, và ... làm đau mắt cho người đi đường (vì những màu năng lượng cao cùng với những bảng che khuất những bảng chỉ đường giao thông). Vấn đề là nội dung của những khẩu hiệu đó mang tính ... dạy đời, giống như có ai đó đang ngồi "ở trên" phán xuống đám dân đen những chân lí theo một quan điểm nào đó. Nhưng ở CPC thì không có những khẩu hiệu nhắc nhở như thế trên đường phố, và điều đó làm tôi thấy thoải mái hơn. Thoải mái là vì cảm thấy cái không khí chính trị ở đây nhẹ nhàng hơn. Sự khác biệt giữa Việt Nam và CPC làm tôi suy nghĩ. Những khẩu hiệu ở Việt Nam có lẽ do ảnh hưởng của Tàu, hay cụ thể hơn là Mao-ít. Ngày nay, CPC cũng chịu ảnh hưởng của Tàu, nhưng họ hình như không áp dụng những hình thức Mao-ít trên quê hương họ, có lẽ họ đã học được bài học đau thương từ những tên Mao-ít dã man nhất trong lịch sử nhân loại như Pol Pot. 

Thay vào sự trống vắng của những khẩu hiệu chính trị trên đường phố là chùa chiềng. Chùa xuất hiện khắp nơi trên đất nước CPC, từ làng quê ra thành phố. Những nơi đi qua, gần như bất cứ một làng nào cũng có một ngôi chùa. Chùa thường được xây ngay tại đầu đường lộ dẫn vào làng (cũng giống như đình ở làng xã miền Bắc). Cái đẹp và sự lộng lẫy của chùa là một thước đo về sự thịnh vượng của làng. Làng nào có chùa hoành tráng cũng chính là tín hiệu cho biết dân làng đó làm ăn khấm khá. Người Khmer rất tôn kính sư sãi. Thỉnh thoảng tôi thấy các sư sãi đi khất thực trên đường phố, và người dân kính cẩn đứng hai bên đường kính cẩn dâng cúng thức ăn. Đây là những nhà sư khất thực thật, chứ không phải loại sư khất thực dỏm ở Hà Nội mà báo chí có lần đưa tin. Một so sánh vui vui chợt hiện lên trong đầu: ở Việt Nam chủ nghĩa xã hội được xem gần như là một tôn giáo, nhưng ở đây thì không có (hay không còn) chủ nghĩa xã hội, và thay vào đó tôn giáo lại là kim chỉ nam đạo đức cho xã hội. 

Gặp đồng hương ở “Cánh tay Biển Hồ” 

Từ Mộc Bài đi Siem Reap phải đi ngang qua tỉnh Srey Vieng (hay Prey Veng, tôi quên tên vì nghe không rõ). Đây là tỉnh nghèo nhất CPC. Cái nghèo hiện ra từ con đường đến trường học. Người hướng dẫn đoàn cho biết ở CPC cũng có tính địa phương chủ nghĩa. Tỉnh nào có ông lớn ngoài trung ương (như tỉnh Kompong Cham của Hun Sen chẳng hạn) là được đầu tư và xây dựng tốt, còn tỉnh nào không có người làm lớn ở cấp trung ương thì nghèo. Tôi lại có so sánh ngộ nghỉnh là điểm này hơi khác bên Việt Nam ta. Tỉnh tôi (Kiên Giang) là quê hương của thủ tướng mà vẫn thuộc tỉnh nghèo ở Việt Nam.

Đoàn chúng tôi tạm dừng chân ở một quán bên đường để giải lao và vệ sinh cá nhân. Quán nằm ngay bên cạnh một cái hồ mênh mông như biển. Người hướng dẫn đoàn nói rằng hồ này chỉ được ví như một “Cánh tay của Biển Hồ” mà thôi. Như thế người ta có thể hình dung Biển Hồ rộng lớn như thế nào. Quán có bán đồ lưu niệm (mà phần lớn là made in China) và có phục vụ ăn uống. Tôi chọn một lon bia địa phương, ngồi bên cạnh bờ hồ để nhìn cảnh trời đất và thả hồn trôi nổi theo nước ...

Đang miên man thì quán ồn ào lên vì hai đoàn khác mới đến. Hai đoàn này có cả trăm người, đại đa số là người Việt, Việt kiều Mĩ, nhưng cũng có vài người ngoại quốc. Các nhân viên quán vận sà rong đon đả chào khách, họ nói tiếng Việt rất sỏi và dễ thương. Mấy anh chàng Việt kiều Mĩ cũng mua bia ngồi nhâm nhi so sánh chuyện CPC và Việt Nam. Một anh độ tuổi 60 ngồi đối diện tôi và thân mật hỏi Ở Mĩ về hả, tôi mỉm cười gật đầu và nói ở Úc chứ không phải Mĩ. Thiên lí tha hương ngộ cố tri – người Việt xuất phát bất cứ nơi nào mà gặp nhau ở một vùng không phải là quê hương mình đều rất dễ gần nhau. Chúng tôi trao đổi những câu chuyện thời sự, xã hội, văn nghệ văn gừng rất xôm tụ. Anh Việt kiều Mĩ kinh ngạc sao tôi lại rành xứ Mĩ đến thế, tôi nói tôi từng ở bên đó vài năm và vẫn qua lại mỗi năm mà. Anh Việt kiều Mĩ này sắp nghỉ hưu nên đi một chuyến về Việt Nam và sẵn đó sang CPC chơi luôn. Lần đầu tiên anh về VN sau hơn 30 năm xa cách, nên với anh cái gì cũng mới, và rất dễ xúc cảm khi nhìn thấy cái nghèo ở quê hương. Anh tâm sự với tôi anh là một chuyên gia về hàng không, và mãi suy nghĩ phải làm sao chung tay giúp cho VN khá lên, nhưng với cơ chế (cơ cấu và chế độ) như hiện nay thì Việt kiều đành bó tay.

Cây cầu cổ Kampong Kdei

Từ Srey Vieng đi Siem Reap phải qua một điểm tham quan quan trọng là cây cầu cổ Kampong Kdei nằm trên Quốc lộ 6. Trong tiếng Khmer, Kampong có nghĩa là bến sông. Trong số 23 tỉnh ở CPC có 4 tỉnh có tên là bến, như Kampong Cham, Kampong Thom, Kampong Chmang, Kampong Speu. Do đó, cây cầu này có lẽ dịch là Cầu bến Kơ-đây. Cầu Kampong Kdei nổi tiếng vì kiến trúc và tuổi đời của nó. Cầu chỉ dài 85 m, cao 14 m, và bề mặt rộng 15 m. Chân cầu làm bằng đá ong. Kiến trúc rất giống với những cây cầu Âu châu thời đó, nhưng lại đậm sắc thái Hindu. Hai đầu cầu là tượng rắn thần Naga (loại rắn 7 đầu). Thật ra, thân cầu cũng được thiết kế theo hình dáng thân rắn.

http://www.vietravel-vn.com/UserUpload/IMG_5889_resize.jpg
Cầu cổ Kompong Kdei thiết kế theo hình thân rắn, hai đầu cầu có tượng rắn thần 7 đầu.

Cầu này được xây dựng vào năm 1186, dưới thời vua Jayavarman VII, một anh quân của CPC (mà tôi sẽ đề cập trong phần sau). Như vậy, cây cầu Kompong Kdei đã 826 tuổi. Trong một thời gian dài như thế mà cây cầu vẫn sừng sững cùng năm tháng, thì đủ biết chất lượng xây dựng ngày xưa của người Khmer tốt như thế nào. Viết đến đây tôi chợt rùng mình nhớ đến những cầu đường do Việt Nam xây, chỉ vài tháng đưa vào sử dụng là có vấn đề. Nhưng để bảo tồn một di tích quan trọng, nên nhà chức trách CPC đã xây một cây cầu phụ, và cầu Kampong Kdei chỉ để du khách tham quan.

Chân cầu Kampong Kdei

Bên cạnh cầu Kampong Kdei là một vài quán nước. Quán bán cơm, cà phê, nước lạnh, và không thể thiếu được trái thốt nốt. Hình như quán biết du khách Việt Nam hay ghé đây, nên có hẳn một bảng chào hàng được viết bằng chữ Việt nhưng hình như có vấn đề về đánh vần.

Một quán bên cầu Kampong Kdei

(Còn tiếp ...)
Read more ...

Ghi chép trên xứ chùa tháp 1 – Casino

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013
http://www.devata.org/wp-content/uploads/2009/02/aw_west_view.jpgCuối tháng 12 vừa qua, tôi có một thời gian 4 tuần rong ruổi giữa Campuchea (CPC) và Việt Nam. Có thể nói rằng chuyến đi CPC là một “đỉnh” của chuyến đi vừa qua, vì không chỉ là lần đầu tôi có dịp ghé qua xứ chùa tháp, nhưng còn là những ấn tượng đẹp về con người và đất nước còn đọng lại trong tôi. Dưới đây là những cảm nghĩ tôi kịp ghi lại trên đường rong ruổi từ Siem Reap đến Phnom Penh.


Campuchea (CPC) đối với tôi là một đất nước vừa rất thân quen vừa huyền bí. Sinh ra và lớn lên ở tỉnh Kiên Giang, nơi mà gần 20% là người Khmer, nên tôi có nhiều giao tiếp với người Khmer. Thật ra, những người hàng xóm thân thương của tôi đều là người Khmer. Từ hồi nhỏ tôi đã học tiếng Khmer trước khi học tiếng Việt. Chuyện học tiếng Khmer của tôi cũng là một kỉ niệm đáng ghi lại ở đây. Tôi học tiếng Khmer với một người mà tôi chỉ biết tên là thầy Trỗ. Thầy cũng là người trong làng, nhưng ở xóm trên (còn nhà tôi ở xóm dưới). Nghe nói thầy học ở bên CPC, sắp ra trường và trở thành linh mục, nhưng vì chiến sự nên thầy về quê. Mỗi sáng, thầy đeo trên lưng một cái bao bố toàn là bánh mì đi ngang qua nhà tôi, không phải để bán mà để … cho. Thầy cho bánh mì với một điều kiện duy nhất: đi học. Đứa nào được một ổ bánh mì thì phải theo học lớp của thầy dạy; không theo học thì không có bánh mì. Lớp thầy dạy tiếng Việt và tiếng Khmer, hoàn toàn không có chuyện dạy để dụ trẻ con theo đạo công giáo.
Sau này tôi mới biết đó là một “chiêu” rất hay của thầy để khuyến khích trẻ con trong làng đi học, vì thời đó dân trong làng ít ai đi học. Lúc đó làng tôi còn chưa có người đỗ tú tài! Mãi đến cuối thập niên 1960s mới có người đỗ tú tài (người thứ nhất là đứa em họ tôi, nhưng lớn tuổi hơn tôi, và người thứ hai là anh hai tôi). Mà, bánh mì thời đó ở dưới quê là món ăn rất Tây, rất xa xỉ, nên đám trẻ con ai cũng khoái và vì thế rất nhiều đừa theo học lớp của thầy Trỗ. Lớp học thật ra là một căn nhà lá rộng do gia đình thầy dựng lên chỉ để cho thầy dạy học. Ở dưới quê thời đó thì nhà nào cũng có rất nhiều đất, nên việc dựng riêng một căn nhà vài trăm mét vuông là chuyện … nhỏ. Tôi lúc đó chưa đủ tuổi để học tiểu học, nhưng vì thích bánh mì quá, nên sáng nào cũng đứng trước cổng nhà chờ thầy Trỗ đi ngang qua để kiếm một ổ bánh mì giòn rụm, và theo thầy đi học. Tôi quyết định học tiếng Khmer. Học được một năm thì tôi phải đi học tiểu học “chính qui” nên phải chia tay lớp học của thầy Trỗ. Nhưng một năm đó cũng đủ để tôi có thể viết và nói được tiếng Khmer. Ai cũng khen tôi viết chữ Khmer đẹp. Không biết lời khen để khuyến khích hay khen thật, nhưng cũng như bao đứa trẻ khác, tôi rất thích. :-)

Học tiếng Khmer và chơi thân với người Khmer, nên tôi cũng làm quen với văn hoá Khmer. Nói “văn hoá” thì có vẻ quá to lớn, vì trong thực tế tôi chỉ biết phong tục người Khmer qua những lần đi chùa, đi đua ghe ngo, những lần đi xem hoả táng, v.v. Những lần đi chùa là ấn tượng đầu đời của tôi về Đế Thiên – Đế Thích, thường được vẽ rất hoành tráng trên tranh và treo ngay tại chánh điện trong các ngôi chùa.  Chùa nào cũng có những hoa văn ghi lại cuộc đời của Đức Phật Thích Ca, và có khi lịch sử CPC. Lớn lên có dịp đọc và tìm hiểu nhiều hơn về văn minh Đông Nam Á, đọc sách của G. Coedes, tôi càng muốn có cơ hội ghé qua CPC một lần cho biết. Dịp may đó đã đến vào cuối năm 2012, khi tôi có một tuần rong ruổi trên xứ Chùa Tháp. Chuyến đi để lại trong tôi những cảm nhận về con người và đất nước nổi tiếng với chùa tháp.

Trên đường thăm xứ chùa tháp 

Khởi hành ngày 31/12, tôi đi xe bus từ Sài Gòn, qua Tây Ninh, và điểm đến là Siem Reap. Chuyến đi gồm 24 người, chỉ toàn người thân quen. Cao tuổi nhất là Dì Út tôi, thấp tuổi hơn là những người hàng xóm dưới quê của tôi và bạn bè. Từ 5:30 sáng chúng tôi đã tề tựu lên xe đi. Xe chạy ngang qua vùng Củ Chi lúc hừng sáng, nhưng người dân hai bên đường đã hối hả chuẩn bị cho một ngày mới. Đến Tây Ninh thì đã gần 8 giờ sáng, nên chúng tôi dừng chân ở một quán được cho là có tiếng về món bánh canh. Thú thật, nói là nổi tiếng, nhưng tôi thấy món bánh canh ở đây không mấy ấn tượng, và phần phục vụ thì còn phải cải tiến nhiều hơn nữa. Ăn xong, tôi lang thang ra ngoài quán thì gặp một chị mặc đồ bộ (rất tiêu biểu ở đây) cầm một bó tiền (phải nói là “một bó”) chào mời đổi tiền. Chị nói rằng ở đây chị đổi có giá hơn là lên Mộc Bài hay bên CPC. Điều này chị nói đúng, vì sau này khi có dịp so sánh tỉ giá hai bên, tôi mới thấy giá của chị rất “cạnh tranh”. Thoạt đầu tôi không định đổi tiền, nhưng thấy chị nài nỉ “mở hàng buổi sáng dùm em” nên tôi cũng xiêu lòng và phải đổi 2 triệu đồng tiềng Việt Nam sang tiền CPC. Hoá ra, tiền CPC (riel) có giá hơn tiền Việt Nam. Một USD đổi được khoảng 5000 riel, nhưng 20,000 đồng. Chỉ cần một người mở hàng thì nhiều người khác cũng làm theo, và thế là hôm đó, chị đổi tiền có một thương vụ kha khá (tôi đoán vậy).

Xe chạy một lúc thì đến khu Mộc Bài. Khu này có 2 trạm hải quan, một trạm của Việt Nam, và một trạm của CPC. Trạm hải quan của VN được xây dựng, nếu nhìn từ xa, thì tương đối cục mịch, nặng nề như phần lớn kiến trúc theo kiểu Liên Xô.  Vào bên trong thì thấy rất ... Việt Nam. Cũng như bao nhiêu building khác do VN xây, trạm hải quan ở đây cũng đang trong tình trạng xuống cấp, cũng nhếch nhác, và luộm thuộm. Cách đó chừng vài bước đi bộ là trụ sở của hải quan CPC rất khang trang và màu mè. Kiến trúc của hải quan CPC đậm bản sắc dân tộc hơn là kiến trúc của hải quan VN (trông có cái air của Liên Xô). Nhân viên hải quan CPC mặc đồng phục rất đẹp, rất đặc thù nhưng cũng rất … international, còn đồng phục của nhân viên hải quan Việt Nam thì rất giống Tàu. Mới sáng mà không khí qua lại cửa khẩu đã rất tập nập. Hàng loạt chuyến xe từ Việt Nam sang CPC, và hàng trăm người đứng chờ làm thủ tục hải quan để qua nước láng giềng. Tuy nhiên, phía CPC sang Việt Nam thì ít xe hơn, nhưng cũng có khá nhiều người qua lại buôn bán. Ngoài những người có hộ chiếu phải chờ hải quan, còn có những người quên hộ chiếu hay lí do nào đó nên đành phải “đi đường đồng”, có nghĩa là có cò làm thủ tục dùm với cái giá vài trăm ngàn đồng. Điều trớ trêu là những người đi tắt bằng đường đồng này có thể sang CPC nhanh hơn người đi theo hộ chiếu!

http://giaitri.tinmoi.vn/files/cambodia.jpg
Hải quan Mộc Bài




http://i212.photobucket.com/albums/cc92/nta228/DSC01620.jpg
Hải quan phía Campuchea, chỉ vài bước đi bộ từ phía Hải quan Mộc Bài 

Casino và người Việt 

Qua khỏi Mộc Bài chỉ vài chục mét là hàng loạt casino hiện ra. Anh hướng dẫn viên cho biết chỉ tại khu này đã có đến 7 casino! Nhìn cảnh quang những casino xuất hiện bên cạnh cánh đồng mới vừa thu hoạch xong, tôi thấy có gì khác khác. Nó giống như những sòng bài dành cho người nông dân, hơn là sòng bài của những người triệu phú bên Tây. Thật vậy, nói cho công bằng, những casino này không nguy nga tráng lệ như những casino ở Mĩ hay Canada. Nhưng giữa một nơi có thể nói là đồng không hiu quạnh như thế này mà có đến bảy casino thì quả là một điều đáng suy nghĩ. Không nói ra ai cũng biết khách hàng của những casino này chủ yếu là người Việt. Những chuyến xe bus chở đầy hành khách có điểm đến là đây – casino. Những chuyến xe bus từ CPC về Việt Nam cũng có điểm dừng chân là đây – casino. Anh hướng dẫn nói đùa rằng chính người Việt chúng ta đã làm giàu cho đất nước CPC. Tôi nghĩ anh ấy nói cũng có lí.

Một casino ở gần Mộc Bài

Ở Sydney (Úc), bất cứ nơi nào có nhiều người Việt thì câu lạc bộ (club) vùng đó phất lên rất nhanh. Điển hình là khu Cabramatta và Bankstown ngày xưa những club ở đây chỉ là những toà nhà bình thường, có phần nghèo nàn, nhưng từ khi người Việt đến đây định cư thì tất cả các club được mở rộng lớn hơn, cao hơn, hoành tráng và sang trọng. Sự phát triển của các club đó có sự đóng góp rất nhiều của người Việt. Mấy năm trước, khi casino đầu tiên của Sydney (The Star Casino) khánh thành, người Việt là một trong những khách hàng trung thành nhất. Người Việt nổi tiếng đến nổi casino tổ chức những chuyến xe bus đặc biệt đón người Việt từ Cabramatta và Bankstown. Sau khi Star Casino đi vào hoạt động vài năm thì số nhà của người Việt được đăng bán cũng gia tăng theo.

Hình như người Việt chúng ta thích đánh bài. Thói này đã được ghi lại trong các sách về văn hoá. Trong cuốn Văn hoá sử cương, Đào Duy Anh nhận xét rằng người Việt "Tính khí cũng hơi nông nổi, không bền chí, hay thất vọng, hay khoe khoang trang hoàng bề ngoài, ưa hư danh và thích chơi cờ bạc."  Cờ bạc chịu sự ảnh hưởng của gen, và thói quen đỏ đen được xem là một bệnh tâm thần. Nhưng cái gen cờ bạc và hội chứng tâm thần đó có hiệu quả làm giàu cho CPC.

(còn tiếp)
Read more ...

Tết Quí Tị ở Sydney

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013


-->
Chỉ còn vài giờ nữa là đến Giao thừa, và chúng ta sẽ thêm một tuổi đời.  Giờ này ở bên nhà chắc bà con đang chuẩn bị ăn Tết.  Ở bên này (Úc), bà con cũng chuẩn bị Tết, nhưng Tết bên này hơi khác với Tết bên nhà.  Tôi đi một vòng chợ Tết vùng Bankstown và muốn chia sẻ vài hình ảnh cùng các bạn, cứ xem như là một chia sẻ của tôi nhân ngày Tết Quí Tị.




Ngày mồng Một năm nay rơi vào ngày Chủ nhật, và đó là một may mắn.  Tết dĩ nhiên không phải là một ngày lễ của người Úc; nên đối với họ, ngày Tết của ta như những ngày thường của họ.  Ngày Chủ nhật là ngày nghỉ, nhưng đúng ngày Tết thì đó là một ngày nghỉ có ý nghĩa hơn đối với người Việt.  Trong thực tế thì dù là ngày thường hay ngày cuối tuần, người Việt ở đâu cũng tưng bừng đón Tết. 



Ở Úc, có cái may mắn là đồng hương khá đông (chỉ riêng ở Sydney số đồng hướng chắc lên đến con số 20 ngàn người), nên ăn Tết ở đây cũng “xôm tụ” chẳng kém bất cứ nơi nào.  Bánh tét, bánh chưng, mứt, dưa hành, nồi thịt kho, câu đối, v.v. tất cả đều có ở đây.  Mấy năm gần đây, đường bay trực tiếp từ Sài Gòn – Sydney được nâng cấp lên hàng ngày, nên càng ngày càng có nhiều hàng hoá từ Việt Nam sang.  Nhiều hộp bánh mứt màu mè rất sặc sỡ, dễ thu hút sự chú ý của đồng hương.  Nhưng chẳng hiểu sao những hàng hoá này rất khó tiêu thụ (dù giá rẻ hơn ngoài này), và sau ngày Tết rất nhiều bánh mứt từ Việt Nam sang nhiều khi bị ứ đọng.  Tìm hiểu thì mới biết là có sự nghi ngờ về phẩm chất hàng hoá từ Việt Nam.  Đồng hương ở đây vẫn nhìn những thực phẩm nói chung, và hàng Tết nói riêng, bằng một ánh mắt nghi ngờ. Đặc biệt là những món hàng có xuất xứ từ miền Bắc thì mức độ nghi ngờ còn cao hơn.  Không phải kì thị gì ở đây; người ta nghi ngờ phẩm chất có đạt hay không, vệ sinh an toàn thực phẩm có đúng chuẩn mực hay không.  Qua báo chí, người ta càng sợ vì hàng hoá và thực phẩm bên nhà sử dụng hoá chất Tàu quá nhiều.   Đến nổi mực và gạo mà còn làm bằng plastic thì đúng là bó tay.  Thú thật, cá nhân tôi cũng nằm trong số đông nghi ngờ đó.  Ở một mức độ nào đó, tôi đã mất niềm tin vào đạo đức kinh doanh của người Việt.  Tôi thấy rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn làm ăn theo tư duy của Tàu, tức là đặt lợi nhuận trên và trước đạo đức xã hội và an toàn cho người tiêu thụ.  Ở Việt Nam mà nói đến đạo đức và quan tâm đến người tiêu dùng thì có lẽ là một điều gì đó quả xa xỉ.



Quay lại chuyện Tết.  Vật chất ngày Tết thì có đấy, nhưng thiếu là cái không khí và không gian.  Cái không khí Tết ở bên nhà bắt đầu từ nồi bánh tét.  Ngày xưa ở bên nhà, Má tôi và cả nhà phải gói bánh tét một hay hai ngày trước Tết, và đám nhỏ chúng tôi rất thích thú được phân công canh nồi bánh tét suốt đêm.  Nhưng ngày nay, ở bên này, với công nghệ hiện đại, người ta chỉ cần ba bốn tiếng đồng hồ là đã xong một nồi bánh tét!  (Tôi không quen ăn bánh chưng, nên chỉ biết có bánh tét thôi.)  Còn nồi thịt kho thì thú thật cũng bắt đầu biến tướng.   Ngày xưa ở bên nhà, nồi thịt kho phải kho bằng nước dừa già, và mấy miếng thịt heo phải có mỡ lềnh bềnh trên nồi thì … mới ngon.  Nhưng ngày nay, thấy mỡ là bà con sợ như thấy hung thần.  Không ai bước vào một dòng sông hai lần, nên chuyện đổi thay là chuyện thường, và mình phải chấp nhận thôi. 



Khí trời cũng rất khác giữa bên Ta và bên này.  Ở bên nhà giờ này là mùa đông (trên lí thuyết), còn ở bên này đang giữa mùa hè. Đã từ lâu, tôi quen với cái thời điểm Tết về khi khí trời có vẻ trở nên dịu dàng.  Trên sông thì có vài ngọn gió bấc khấy động mặt nước lăn tăn.  Những ngọn gió bấc và sóng nước đó nó làm người ta xôn xao đón Tết.  Còn ở bên này thì ngược lại, trời càng lúc càng nóng.  Có những ngày nhiệt độ lên đến 35 độ C.  Với nhiệt độ như thế thì chẳng có một chút gì để gọi là âm hưởng của ngày Tết cả.  Thế nhưng “nhập gia tuỳ tục”, nên dù là nóng cháy da thì người Việt vẫn hào hứng đón Tết.



Người Việt ở đây đón Tết bằng hội chợ.  Nói là “hội chợ” cho oai, chứ trong thực tế thì đó là hội nhậu, hội ngưởi bụi thì đúng hơn.  Người Việt chúng ta có một “truyền thống” rất lạ: thích ăn uống.  Hễ chỗ nào có tụ tập đông người một chút là chỗ đó có ăn uống.  Ngoài bệnh viện, tại khu du lịch, thậm chí phi trường, tất cả đều là những không gian, những cơ hội để bán đồ ăn thức uống.  Cái “văn hoá” ăn uống đó kéo sang tận nơi xa xôi này.  Thành ra, trong những dịp hội chợ, tôi thấy hàng quán ăn uống nhiều hơn những quầy bán sách và văn hoá.  Uống ở đây là nhậu, chứ không hẳn chỉ là nước ngọt.  Thử tưởng tượng, trong môi trường hàng ngàn người qua lại trong một khu đất chật hẹp, mà người ta cứ vô tư “dzô”.  Cái quang cảnh đó trông rất phản cảm.  Nhưng giới chính trị gia Úc vẫn tham gia Tết ta, nhất là trong cái cảnh nhậu nhẹt như thế.  Tôi nghĩ trong thâm tâm chắc họ chẳng có mặn mà gì với Tết ta; họ đến chủ yếu là … lấy phiếu mà thôi.  Hi vọng rằng tôi nghĩ sai và oan cho họ. 



Nhưng năm nay là một biệt lệ: tôi phải đi chợ Tết.  Biệt lệ là vì cháu gái tôi tham gia vào hội chợ Tết.  Gian hàng của cháu tôi thật ra là của nhóm hướng đạo sinh Sydney.  Hôm nay (thứ Bảy, 9/2), hội chợ Tết được tổ chức ở Bankstown, một trong những khu có đông người Việt định cư.  Hội đồng thành phố địa phương phải đóng cửa vài con đường để cho cộng đồng người Việt tổ chức chợ Tết.  Nói cho công bằng, chợ Tết Bankstown năm nay có dấu ấn văn hoá hơn (chứ không có tình trạng nhậu nhẹt như trước đây).  Chợ Tết Bankstown năm nay có khoảng 30 gian hàng, phần lớn là của người Việt, nhưng cũng có gian hàng của người Úc địa phương.  Nổi nhất là sân khấu trình diễn văn nghệ, với nhạc Việt Nam và ca sĩ “cây nhà lá vườn” rất vui nhộn.  Bên cạnh đó là những gian hàng dạy gói bánh chưng, bánh tét.  Kế bên gian hàng bánh tét là những gian hàng về cây kiểng, sách Phật giáo, và nước ngọt.  Cũng có vài gian hàng bán thịt nướng, nhưng rất đàng hoàng.  Riêng gian hàng của cháu tôi (tức nhóm Hướng đạo sinh) thì đàng hoàng nhất, hiểu theo nghĩa “văn hoá” nhất.  Họ có gánh hàng hoa, có liễn chút tết, và ăn mặc theo truyền thống Việt Nam. 



Xin chia sẻ cùng các bạn một số hình ảnh tôi ghi lại qua điện thoại vào buổi trưa hôm nay:
   

Khán đài được chuẩn bị với khoảng 100 ghế ngồi cho khán giả đồng hương. Nhiều người đến đây để nghe nhạc sống.


 
Gian hàng của Hướng đạo sinh Sydney thu hút rất nhiều khách. Ai cũng trầm trồ khen.

 
Bên cạnh gian hàng Hướng đạo sinh là gian hàng cây cảnh bonsai của anh bạn tôi.  Anh ấy rất mê cây bonsai. Những cây này có giá trừ 2000 đô trở lên. Nhưng ở đây anh ấy không phải bán, mà chỉ góp vui với hội chợ thôi. 


Có cả mấy em bé mặc trang phục truyền thống, trông dễ thương. Nhưng em bé này chắc mệt quá nên ngủ trên xe, nhưng tay vẫn giữ li chè.:-)


Hai bạn này đi chào khách, họ thu hút rất nhiều khách muốn chụp hình chung.  Nhưng tôi cứ phân vân là trang phục phục họ đang mặc là Tàu chứ chẳng phải Việt. 


Đây mới là trang phục Việt. Hai cô này đang gánh gánh hàng hoa. Cô đi bên cạnh tay cầm nón lá là bạn của một học trò tôi (tên gì tôi quên rồi). Có anh nông dân đầu quấn khăn rằn tắm đang đi sau để yểm trợ. 


Và đây là cháu gái tôi. Ngày tôi đi, má nó chỉ 9 hay 10 tuổi. Ngày tôi về, nó đã 10 tuổi và rất ham ... chụp hình. Nhưng nay nó đã là thiếu nữ rồi. Hôm nay, nó đóng vai cô gánh hàng hoa.


Đó là cái Tết Quí Tị ở một khu thuộc Sydney. Nhân dịp Tết Quí Tị, tôi mến chúc các bạn hưởng một cái Tết an lành và hạnh phúc, và một năm mới nhiều may mắn và thành công.



N.V.T



PS. Mấy hôm nay trang web nguyenvantuan.net của tôi có vấn đề.  Vấn đề từ máy chủ, chứ không phải bị tấn công.  Tôi không biết tại sao và cũng chẳng biết cách sửa chữa.  Thôi thì tôi tạm dùng trang blog này để chia sẻ cùng các bạn.
Read more ...