Pages

Lại tiếng Anh (của Bộ Ngoại giao)

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011

Nhân đọc một bài về sự cẩu thả trong tiếng Anh tại cột cờ Lũng Cú, tôi chợt nhớ đến tiếng Anh của Bộ Ngoại giao.  Mấy tháng trước tôi có chỉ ra sự cẩu thả trong spokesman và spokeswoman, nay thì trang nhà Bộ Ngoại giao đã sửa sai sót đó, nhưng vẫn còn đầy rẩy những sai sót khác. Những sai sót này có thể ảnh hưởng đến hình ảnh và thể diện quốc gia.


Từ tiếng Anh tại cột cờ Lũng Cú  

Trong entry về tiếng Anh tại cột cờ Lũng Cú, blogger Mai Thanh Hải chỉ ra rằng chữ “Tỉnh Hà Giang” bị dịch sang tiếng Anh là “Ha Giang Provine” (đúng ra là Ha Giang Province, hay theo tôi thì trang trọng hơn là Province of Ha Giang). Nhưng đọc kĩ dòng chữ khắc trên chân cột cờ tôi còn phát hiện vài điều bất bình thường khác.  Xin “vạch lá tìm sâu” vài điểm đó:


Sai chính tả ngay trên tấm bia khẳng định chủ quyền

Một là thiếu nhất quán giữa tiếng Việt và tiếng Anh.  Trong phần tiếng Việt, tâm bia viết là “Huyện Đồng Văn – Tỉnh Hà Giang” (huyện trước, tỉnh sau), nhưng trong phần tiếng Anh người ta đảo ngược thứ tự, với tỉnh trước, huyện sau: Ha Giang Provine, Dong Van District.  Đó là một sự thiếu nhất quán.

Hai là chữ “NATIONAL FLAG-POLE”.  Theo chuẩn tiếng Anh, flag và pole là hai từ riêng lẻ, nhưng có thể viết liền (flagpole), hoặc viết rời (flag pole).  Không ai viết với cái gạch như cách viết của Việt Nam cả.  Thật ra, tôi nghĩ từ National (trong National Flag-Pole) không cần thiết.  Cột cờ quốc gia có nghĩa là gì?  Đó là cái sai thứ hai, một lần nữa thể hiện tính thiếu cẩn thận.

Thứ ba là thông tin về vị trí.  Trong khi các thông tin khác thì viết tiếng Việt và tiếng Anh, nhưng đến thông tin về kinh độ, vĩ độ, và độ cao thì chỉ viết bằng tiếng Việt!  Như thế là thiếu nhất quán.  Ngay cả viết tiếng Việt cũng khó hiểu.  Tôi tự hỏi có bao nhiêu người biết Đ đằng sau con số kinh độ, hay B đằng sau con số vĩ độ.  Tại sao không viết thẳng là Đông và Bắc cho người ta hiểu?

Ở đây, cũng nên nhớ rằng qui ước chung là viết đơn vị đo lường và số cách nhau một khoảng trống. Không nên viết “1488,73m” mà phải viết đúng là “1488,73 m”. Một lần nữa, cẩu thả.

Còn chữ “Well come to Dong Van” thì … miễn bàn :-).  Sai sót quá hiển nhiên.

Cần nói thêm rằng hôm nọ, tôi cũng phát hiện một sai sót tiếng Anh khác trong bia cây số đường Trường Sơn. Nay đến sai sót này. Tôi nghĩ bất cứ cái gì khắc trên bia đá thì phải rất cẩn thận. Bia đá là những cấu trúc có giá trị lâu dài (giống như bia tiến sĩ). Chúng ta cần phải tỏ ra có đầu tư thời gian để làm cho tốt. Cẩn thận trong suy nghĩ và thực hành. Cách thiết kế, phông/kiểu chữ, màu, và nhất là từ ngữ trong bia phải được chọn cẩn thận. Nhưng trong thực tế thì chúng ta thấy sai hết chỗ này đến chỗ khác. Thật đáng tiếc!

đến tiếng Anh của Bộ Ngoại giao 

Nhưng sai sót tiếng Anh tại một tỉnh lẻ thì có thể thông cảm được, còn sai sót tiếng Anh của một bộ như Bộ Ngoại giao thì mới đáng trách.  Cách đây vài tháng, tôi có chỉ ra một sai sót hiển nhiên trong trang nhà của Bộ Ngoại giao về chữ spokesman khi đề cập đến bà Nguyễn Phương Nga.  Tôi có đề nghị nên viết trịnh trọng là “Ministry of Foreign Affairs of Viet Nam”. Hôm nay, tôi ghé qua trang nhà thì thấy các đồng chí đã sửa lại.  Hoan hô Bộ Ngoại giao!

Nhưng đọc qua một vài chỗ tôi lại phát hiện nhiều sai sót khác.  Một số điểm cũng không hẳn là sai sót, mà chỉ là cách hành văn không đúng chuẩn mực tiếng Anh mà thôi.  Ở đây, tôi chỉ ra vài sai sót đáng chú ý như sau:

Cần chú ý đến cách viết tên nước.  Chúng ta viết “Việt Nam” bằng tiếng Việt, nhưng còn tiếng Anh thì hình như chưa có qui định chung.  Có lẽ chính vì thế mà có khi chúng ta viết Vietnam, nhưng có khi lại Viet Nam, Viet nam, hay thậm chí Việt Nam. Tôi chưa biết cách viết nào đúng nhất, nhưng cá nhân tôi vẫn hay viết Vietnam.  Nhìn qua trang nhà, tôi thấy các đồng chí trong Bộ chưa nghiêm chỉnh khi viết tên nước.  Điển hình là có lúc họ viết

lại có khi


và ngay dưới đó thì lại viết


Cách viết tắt VN chỉ có người Việt mới hiểu, chứ có bao nhiêu người nước ngoài hiểu.  Bộ Ngoại giao mà viết tên nước tùy tiện như thế là rất đáng trách.  Tên quốc gia mà viết còn không nghiêm chỉnh tức là mình không tôn trọng mình, vậy thì hỏi ai tôn trọng mình?  Không chấp nhận được.

Sai văn phạm.  Chắc ai cũng đồng ý rằng Bộ Ngoại giao của một nước 87 triệu dân mà viết văn phạm tiếng Anh là rất ... khó coi.  Có rất nhiều chỗ sai văn phạm trong trang nhà của Bộ Ngoại giao, không thể nào kể ra đầy đủ ở đây.  Nhưng có thể lấy vài ví dụ ra để minh chứng. Ngay từ trang đầu của website, cò dòng chữ nhảy nhót “Achievement in the protection and the promotion of human rights in Vietnam”.  Sai sót ở đây là thừa mạo từ the (trong the promotion).  Ngoài ra, đáng lẽ phải là achievements (số nhiều) chứ không phải achievement.

Không biết các bạn thì sao, nhưng tôi rất ghét những trang nhà có những hình ảnh nhảy nhót.  Những hình ảnh đó chẳng những làm đau mắt người đọc, mà nó còn cho thấy người chủ trang nhà có tính … trẻ con.  Trẻ con hay khoe khoang kĩ xảo làm website bằng những hình ảnh màu mè và gây chú ý.  Trang web của Bộ Ngoại giao không nên màu mè trẻ con như thế.

Cách viết thiếu chuẩn mực.  Có thể tìm hàng trăm câu văn thiếu chuẩn mực tiếng Anh trong trang nhà của Bộ Ngoại giao.

Ngay cả cách viết ngày tháng mà cũng … sai.  Ví dụ như bản tin


Không ai viết ngày tháng tiếng Anh như thế cả.  Cách viết chuẩn là:

April 22, 2011
22nd April 2011
22nd April, 2011
22 April 2011

Thật ra, ngay cả cách dùng chữ “Answer” trong tiêu đề cũng không … ngoại giao chút nào.  Answer cũng có nghĩa là phát biểu mang tính chống trả lại một vu cáo. Nên nhớ rằng chữ answer cũng có khi hiểu là đánh trả. Do đó, dùng chữ answer trong trường hợp của Bộ Ngoại giao là rất dễ gây hiểu lầm.  Ngoài ra, answer on thường dùng trong văn nói, ít ai dùng trong văn viết trịnh trọng.  Tiếng Anh có nhiều chữ trang trọng hơn là văn nói như answer để trình bày quan điểm chính thức của một quốc gia.

Văn chương lòng vòng.  Đọc qua vài văn bản, tôi có thể nói cách viết tiếng Anh của Bộ Ngoại giao rất khó hiểu.  Khó hiểu không phải vì sai văn phạm, hay lệch chuẩn tiếng Anh, mà vì câu văn có khi quá dài dòng.  Câu văn dài có lẽ là do người ta dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh, nhưng dịch chưa thoát ý.  Chúng ta thử đọc qua đoạn văn sau đây:

“Implementing the foreign policy line of independence, self-reliance, peace, cooperation and development and the foreign policy of openness and diversification and multilateralization of international relations, Viet Nam has established diplomatic relations with 178 countries. For the first time in history, Viet Nam is now entertaining normal relations with all major powers and UN Security Council’s Permanent Members. (Herein the directory, readers can find basic information on Viet Nam’s relations with other countries in the world).”  (Nguồn: http://www.mofa.gov.vn/en/cn_vakv/#QSlC7kZVDbf7)


Đoạn văn này chỉ có 2 câu văn.  Câu thứ nhất có 34 từ.  Câu thứ hai có 41 từ.  Câu văn dài như thế là “đại kị” trong viết tiếng Anh.  Câu văn dài rất phức tạp và làm cho người đọc khó hiểu.  Thật vậy, câu văn đầu có đến 4 liên từ and!  Cách viết này chứng tỏ người viết hoặc là “tham vọng” dồn nhiều ý tưởng trong một câu văn, hoặc là lúng túng không biết mình viết gì.  Khái niệm independence (độc lập) và self-reliance (tự lực) thật ra có khác gì nhiều đâu!  Tôi tưởng rằng international relations thì phải là đa phương rồi, vậy thì từ multilateralization có cần không? Chưa thấy ai viết entertaining normal relations!  Lưu ý rằng entertaining thường sử dụng trong văn nói (chẳng hạn như tôi hay nói trong hội nghị:Today, I am going to entertain a topic …) chứ ít ai viết trong văn bản ngoại giao.

Trong câu trên, người viết dùng từ herein sai.  Herein có nghĩa tiếng Anh là in here (và tiếg Việt có nghĩa là ở đây, ví dụ: Our analyses suggest that alendronate usage, as herein described …).  Trong bối cảnh câu văn trên herein có nghĩa là trong tài liệu này.  Do đó, viết Herein the directory là thừa – thừa cụm từ the directory. 

Chỉ một câu ngắn như trên mà đã có quá nhiều vấn đề.  Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi nhiều văn bản khác cũng được soạn với một văn phong rất bí hiểm, và rất … Việt Nam. Có thể xem đoạn văn dưới đây như là một minh chứng. Theo tôi, toàn bộ những đoạn văn dưới đây cần phải viết lại.

Tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ của chúng ta.  Vì thế việc vài cá nhân sai sót trong tiếng Anh là chuyện … bình thường.  Ngay cả nhiều người ở ngoài này cả mấy mươi năm, làm việc trong môi trường nói và viết tiếng Anh (như người viết bài này) mà vẫn thỉnh thoảng viết sai tiếng Anh.  Nhân vô thập toàn.  Nhưng một Bộ Ngoại giao đại diện cho một quốc gia 87 triệu dân mà viết sai tiếng Anh thì đó là điều cần bàn.  Ở đây, không phải chỉ sai vài chỗ hay sai sót ngẫu nhiên, mà là sai có hệ thống.  Sai từ những điểm nhỏ nhất như đánh vần, cách viết ngày tháng, cách viết tên nước, đến sai về văn phạm, và quan trọng nhất là văn phong rất thiếu chuẩn mực.  Tại sao Bộ Ngoại giao không mướn hẳn một người ngoại quốc nói tiếng Anh biên tập những văn bản ngoại giao và trang web?  Đài VTV làm được thì không có lí do gì Bộ Ngoại giao không làm được.
Mấy năm gần đây, xuất hiện một "bệnh", tạm gọi là bệnh hời hợt và cẩu thả. Một dự án tốn gần 40 tỉ USD mà chỉ được giải trình trong một tài liệu không đầy 40 trang. Phát biểu về tương lai kinh tế quốc gia mà chỉ dựa vào tính toán trên ... Excel. Còn trong thực tế thì hình như đụng đến đâu cũng có vấn đề ở đó. Đường xá làm mới xong đã có vấn đề. Building mới xây đã nứt. Những hố tử thần ai cũng thấy, nhưng phải chờ đến cả tháng trời mới được khắc phục (sau khi vài người đã bỏ mạng!) Thế mới biết bệnh hời hợt và cẩu thả có ảnh hưởng rất lớn chẳng những đến nền kinh tế, mà còn gây thiệt mạng cho người dân. Nhưnghời hợt và cẩu thả trong văn bản ngoại giao thì có lẽ ảnh hưởng còn lớn hơn: thể diện quốc gia.

Đây không phải là vấn đề sai về cách chọn hay sử dụng từ, mà còn ảnh hưởng đến ý nghĩa của phát biểu.  Dùng từ sai có thể gây ra hiểu lầm cho người đọc, và nếu đó là văn bản ngoại giao thì hiểu lầm có thể gây ra nhiều hệ quả phiền phức.  Khổng Tử từng nói (và tôi tạm dịch): “Nếu ngôn ngữ không đúng, thì những gì nói ra sẽ không phản ảnh chính xác ý của người nói; nếu ý của người nói không được phản ảnh chính xác, thì những gì cần phải làm sẽ không thực hiện được; và những gì không thực hiện được đạo đức và nghệ thuật sẽ suy đồi.”  Nhìn từ góc độ đó, vấn đề tiếng Anh trong website Bộ Ngoại giao không phải là vấn đề cười được, vì nó ảnh hưởng đến thể diện quốc gia.

NVT

Có thể xem thêm:
Internet và ngoại giao Việt Nam

Tiếng Anh của Bộ Ngoại giao thời hội nhập: vài hạt sạn không nên có

Về "Concept Paper" của Học viện Ngoại giao

Viet Nam Foreign Policy
(Extract from The Political Report of The Central Committee - Viet Nam Communist Party, 9th Tenure, at The Party’s 10th National Congress)
Implement consistently the foreign policy line of independence, self-reliance, peace, cooperation and development; the foreign policy of openness and diversification and multilateralization of international relations. Proactively and actively engage in international economic integration while expanding international cooperation in other fields. Viet Nam is a friend and reliable partner of all countries in the international community, actively taking part in international and regional cooperation processes.
The tasks of foreign activity consist of solid preservation of peaceful environment and creation of favorable international conditions for renewal, accelerated socio-economic development, national industrialization and modernization, and construction and defense of the Homeland, while contributing actively to the common struggle of the world people for peace, national independence, democracy and social progress.
Deepen, stabilize and sustain the established international relations. Develop relations with countries and territories in the world and international    organizations in the principles of respect for each other's independence, sovereignty and territorial integrity, non-interference in each other's international affairs; non-use or threat of force; settlement of disagreements and disputes by means of peaceful negotiations; mutual respect, equality and mutual benefit.
Consolidate and strengthen relations with communist, workers' and leftist parties, and national independence, revolutionary and progressive movements in the world. Continue broadening relations with parties in power.
Develop people-to-people external relations under the motto ''proactiveness, flexibility, creativeness and efficiency''. Actively participate in world people's forums and activities, and contribute to the common struggle for peace, equitable and sustainable development, democracy and social progress. Intensify assistance mobilization efforts and raise the quality of cooperation with foreign non-governmental organizations for socio-economic development.
Proactively participate in the common struggle for human rights. Stay ready to hold dialogues with concerned countries and international and regional organizations on human rights issues. Resolutely foil schemes and acts of distortion and abuse of issues of ''democracy'', ''human rights'', ''ethnicity" and "religion" to interfere in our internal affairs and encroach upon Viet-nam's independence, sovereignty, territorial integrity, security and political stability.
Push ahead foreign economic activities, integrate more deeply and fully in global, regional and bilateral economic institutions, with national interests as the highest objective.
Proactively and actively engage in international economic integration following a roadmap in conformity with the national development strategy till 2010 and the 2020 vision. Make proper preparations for the signing of bilateral and multilateral free trade agreements. Promote comprehensive and efficient cooperation with ASEAN and Asia-Pacific countries. Consolidate and develop reliable bilateral cooperation with strategic partners; effectively take advantage of opportunities and minimize challenges and risks following our accession to the World Trade Organization (WTO).
Further innovate economic institutions, review legal documents, amend and improve the legal system with a view to ensuring harmony, consistency, stability and transparency. Improve the investment environment; attract inflows of FDI, ODA, portfolio investment, commercial credit, and other sources of capital. Accurately determine utilization goals and accelerate disbursement of ODA funds, improve management patterns, raise efficiency and have on-time debt service schedules; and keep a reasonable and safe foreign debt ratio.
Promote the role and dynamism of enterprises in all economic sectors as actors in international economic integration. Step up trade and investment promotion, strive for new outlets, products and trademarks. Encourage Vietnamese enterprises to set up cooperative and joint-venture projects with foreign enterprises and boldly invest overseas.
Push forward foreign-bound cultural and information work, thus helping enhance cooperation and friendship between ours and other peoples.
Cater for the training, fostering and forging of a contingent of foreign relations personnel with political steadfastness, proper command of foreign languages, high professional standards, and adequate ethical and moral qualifications.
Intensify research, forecasting and advisory work related to foreign relations, and mobilize the participation and wisdom of research institutions and scientists.
Ensure the Party's unified leadership in and the State's governance over external activities. Closely coordinate external activities of the Party, State and people; external political and external economic relations; foreign relations, national defense and security; and foreign-bound information and home-bound information.
http://www.mofa.gov.vn/en/cs_doingoai/#5wKTJh68cIgq
Read more ...

Phác thảo đề án đê biển đa dụng cho Đồng bằng sông Cửu Long

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011

http://www.challengetochange.org/climate_pics/mekong_delta.jpgĐồng bằng sông Cửu Long đang đối đầu với nguy cơ bị chìm khi mực nước biển dâng cao. Cần phải có biện pháp đối phó với nguy cơ rất thật này. Tôi trân trọng giới thiệu bài viết sau đây của Bác sĩ Ngô Thế Vinh, trong đó anh đề xuất ý tưởng xây đê biển đa dụng cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là một “conceptual paper”, phác thảo sơ qua một Con Đê Biển Đa Dụng Ngăn Mặn cho vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, và trong tương lai các tác giả sẽ cung cấp thêm chi tiết. NVT


MEKONG-CỬU LONG 2011 NHÌN XA NỬA THẾ KỶ TỚI [2]
PHÁC THẢO
DỰ ÁN ĐÊ BIỂN ĐA DỤNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
A POSSE AD ESSE  / TỪ KHẢ NĂNG TỚI HIỆN THỰC
NGÔ THẾ VINH

LỜI MỞ ĐẦU – Đây là bài viết thứ hai, trong số 3 bài viết về tương lai Đồng Bằng Sông Cửu Long “Nhìn Xa Nửa Thế Kỷ Tới”. Bài thứ nhất, như một tổng quan, với nhận định: thủy điện vẫn là nguồn năng lượng rẻ nhất, do nhu cầu phát triển, những bước khai thác thủy điện trên sông Mekong, cho dù mau hay chậm, trước hoặc sau, thì đó vẫn là một tiến trình không thể đảo nghịch trong vòng nửa thế kỷ tới.
Do áp lực mạnh mẽ của các quốc gia thuộc Lưu Vực Dưới sông Mekong, kể cả cộng đồng quốc tế, cho dùLào đã đã có quyết định tạm ngưng khởi công xây con đập thủy điện Xayaburi 1,260 MW, là con đập thủy điện dòng chính đầu tiên trong  dự án 9 con đập của Lào;một dấu mốc được International Rivers Network / IRN và các nhà hoạt động môi sinh coi như một “thắng lợi”, nhưng cũng để thấy rằng đây chỉ là bước trì hoãn tạm thời. 

Nếu so với hai con đập thượng nguồn Tiểu Loan /Xiaowan  4,500 MWvà Nọa Trác Độ/ Nuozhadu 5,850 MW của Trung Quốc, mỗi con đập có công xuất trên dưới lớn hơn 5 lần con đập Xayaburi, và riêng đập Tiểu Loan có hồ chứa lớn hơn cả tổng dung tích 11 con đập hạ lưu cộng lại, nhưng Bắc Kinh thì vẫn cứ ngang nhiên triển khai kế hoạch khai thác thủy điện sông Mekong của họ cho do dù có phản ứng chống đối của dư luận quốc tế. Sự khác biệt rất rõ ràng: Trung Quốc là một nước lớn với lý lẽ của kẻ mạnh và đầy tham vọng vươn lên như một siêu cường, Lào chỉ là một quốc gia nhược tiểu nghèo nàn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài trợ từ bên ngoài để có thể thực hiện được các dự án đập của mình. 

Khi mà Việt Nam là một trong những quốc gia lớn tiếng nhất chống dự án đập Xayaburinhưng Hà Nội sẽ ăn làm sao nói làm sao, khi mà chính một công ty nhà nước Petrovietnam Power Co. lại đứng tên tham gia vào dự án xây con đập thủy điện Luang Prabang  1,410 MWtrên dòng chính sông Mekong lớn hơn cả con đập Xayaburi. Để tiến tới xây dựng một “Tinh thần Sông Mekong / Mekong Spirit”Việt Nam không thể có một thứ tiêu chuẩn nước đôi/ double standard như vậy.

Lượng giá về một chính sách ngắn hạn

Cho dù ý thức được tiến trình không thể đảo nghịch trong nỗ lực khai thác tiềm năng thủy điện sông Mekong, nhưng chúng ta vẫn có nhu cầu phải đòi hỏi sự trong sáng và minh bạch / transparency, và những lượng giá môi sinh đúng mức cho những bước khai thác bền vững / sustainable development. 

Chúng ta rất cần thêm thời gian, bằng những cuộc vận động không những trong phạm vi vùng mà cả với dư luận quốc tế.Kinh nghiệm tích cực với con đập thủy điện Xayaburiđáng là một bài học. Nhưng cũng để thấy có những hạn chế và khác biệt.Thay vì là con đập Xayaburi, giả thiết nếu đó là mộttrong 2 con đập Sambor hay Stung Treng của Cam Bốt với ông Thủ tướng là ông Hun Sen, thì liệu có đạt được một thỏa hiệp trì hoãn như đối với chánh phủ Vạn Tượng hay không, khi mà ông Hun Sen luôn luôn khẳng định rằng các con đập thủy điện thượng nguồn không có gì phải quan tâm;  tất cả là do khí thải carbon/ carbon emissionsvà thay đổi khí hậu/ climate change. (6)

Lượng giá về một chính sách dài hạn

Do những nguyên nhân tích lũy, [1] Những con đập thượng nguồn, chủ yếu là các con đập Bậc thềm Vân Nam của Trung Quốc với những hồ chứa khổng lồ làm giảm lưu lượng nước, giảm lượng phù sa xuống Đồng Bằng Sông Cửu Long, khiến không chỉ nước mặn càng lấn sâu vào vùng châu thổ mà còn tạo ra hiện tượng sạt lở như với mũi Cà Mau hiện nay; [2] Hiện tượng hâm nóng toàn cầu / global warming  do tăng lượng khí thải CO2 từ than đá và dầu khí, làm tan dầnnhững tảng băng nơi hai cực Bắc và Nam, cùng với khối băng tuyết Cao nguyên Tây Tạng còn được gọi là Cực Thứ Ba / Third Pole ; hậu quả là nước biển ngày càng dâng cao.  Theo các nghiên cứu về biến đổi khí hậu, mực nước biển có thể dâng cao từ 0. 8 m tới 1.5m vào năm 2100. Chỉ cần nước biển dâng cao 1mét, thì 90% diện tích Đồng Bằng Sông Cửu Long sẽ chìm dưới mực nước biển. [Hình 1]


Hình 1: Đồng bằng sông Cửu Long sẽ chìm dưới biển mặn vào năm 2100 khi mực nước biển dâng cao 1 m.

Trước viễn tượng một Đồng Bằng Sông Cửu Long – vốn là vựa lúa nuôi sống cả nước, không chỉ thiếu nguồn nước ngọt mà còn bị sạt lở và sẽchìm trong biển mặn; Việt Nam sẽ không có một chọn lựa nào khác hơn là hình thành một dự án vĩ mô / mega-project  xây dựng  [1] một con đê biển đa dụng ngăn mặn và; [2] hai hồ chứa nước ngọt từ hai vùng trũng thiên nhiên là Đồng Tháp Mười và Đồng Cà Mau. (3)

Bài viết thứ hai này, chủ yếu giới thiệu khái quát về một dự án phác thảo Con Đê Biển Đa Dụng Ngăn Mặn cho vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tuy là bước rất sơ khởi, chỉ mới là khái niệm / conceptual kỹ thuật nhưng đây là công trình trí tuệ của anh Ngô Minh Triết, P.E. – một Kỹ sư Cấu trúc / Structural Engineer (1), với sự cộng tác của anh Phạm Phan Long, P.E. trong Nhóm Bạn Cửu Long; anh PP Long cũng thành viên sáng lập Hội Sinh Thái Việt / Việt Ecology Foundation.

Mục tiêu của đê biển đa dụng

Như tên gọi ban đầu, mục tiêu chính của đê biển là ngăn mặndo hậu quả nước biển dâng cao và do lưu lượng “dòng chảy tối thiểu” từ thượng nguồn xuống Đồng Bằng Sông Cửu Long càng ngày càng sút giảm.

Do hệ thống đê biển không nằm trên đất liền mà xa bờ, nên không có tổn phí phải mua lại đất / land acquisition , mà có khả năng tạo những hồ chứa trong vùng đệm giữa đê biển và bờ biển thiên nhiên hiện tại. Với thời gian, do nguồn nước đổ xuống từ thượng nguồn, cộng với lượng nước mưa, nước trong vùng đệm sẽ bớt mặn, tiềm năng khai thác chăn nuôi thủy sản như  các loại cua biển, tôm xútrong vùng nước lợ / brackish water với nguồn lợi thu về sẽ rất lớn. 

Con đê biển không những có hiệu quả tránh sạt lở giữ được đất, mà còn tạo thêm những vùng đất mới / land reclamation, tăng diện tích canh tác và cả triển vọng hình thành những đô thị mới. Phải xem đây là một trong những nguồn lợi tức lớn và lâu dài để trả về một cách xứng đáng cho nguồn vốn đầu tư rất lớn để xây dựng công trình.

Con đê biển cũng sẽ là một hệ thống Xa Lộ Vòng Đai của Đồng Bằng Sông Cửu Long. Theo kỹ sư Ngô Minh Triết, bề mặt đê biển có thể rộng tới 25 m, đủ cho một xa lộ hai chiều, không chỉ cần thiết để bảo quảncông trình, mà cả có tầm quan trọng chiến lược về giao thông, kinh tế và quốc phòng, khi mà Biển Đông đã và đang là vùng tranh chấp gay gắt với nước lớn Trung Quốc. [Hình 2]


Hình 2: Đồng bằng sông Cửu Long và Đê Biển Ngăn Mặn từ độ sâu 3 mét đường chỉ màu đỏ.
 
Gió và mặt trời cũng sẽ là nguồn năng lượng thiên nhiên phong phú có thểkhai thác trên các vùng đất mới phía trong theo suốt chiều dài con đê biển. Và không thể không nghĩ tới một nguồn lợi tức đáng kể khác là Du lịch Sinh thái / Ecotourism, với các môn thể thao trên nước, như trượt nước, đua thuyền,  câu cá / sport fishing …

Tính khả thi của dự án và phác họa mô hình đê biển 

Cấu tạo địa chất đáy biển vùng cận duyên quanh Đồng Bằng Sông Cửu Long: 65% là đất phù sa / silt, 25% là đất sét / clay, và phần còn lại là cát. Vùng cận duyên hướng ra biển không sâu và khá phẳng, có độ dốc từ0.8:1000  tại  các vùng  cửa sông , 5.0:1000 nơi vùng mũi Cà Mau. 

Dự trù đê biển sẽ nằm trong vùng cận duyên có độ sâu trung bình là 3 mét, chiều dài đê biển từ Gò Công vòng qua mũi Cà Mau tới Hà Tiên,tính theo hình ảnh vệ tinh là khoảng 600 km. 

Đê biển được nối lại với nhau nơi mỗi cửa sông bằng những công trình cầu để bảo đảm tàu bè vẫn dễ dàng di chuyển hai chiều từ biển vào sông lên tới tận Nam Vang, do Mekong là một con sông quốc tế / international river.
Kỹ thuật và nhân công chủ yếu là từ địa phương. Nguyên liệu chính là đất sét, cát từ đáy biển được chứa trong những bọc / geotextile containers(một loại bao polyester rất bền và thấm nước), sau đó được gia cố bằng đá nhỏ với concrete xi- măng. Cát từ biển cũng có thể dùng để tạo những bờ biển mới phía ngoài con đê. [Hình 3]

Hình 3: Sơ đồ Đê Biển Cắt Thẳng từ trái, hướng ĐBSCL sang phải, hướng biển, xa lộ hai chiều, đường bảo quản, tường chắn sóng bão 200 năm.

Các giang cảng nội địa như cảng Cần Thơ sẽ được chuyển rời ra phía ngoài con đê. Sẽ có những “xa lộ đường dẫn” như hình nan quạt từ đê biển đi vào các cửa sông, tới nhữngtrung tâm thị tứ và các trọng điểm của Đồng Bằng Sông Cửu Long. Rút ngắn được thời gian giao thông sẽ là một cải thiện đáng kể cho các bước phát triển kinh tế thịnh vượng của Đồng Bằng Sông Cửu Long. 
 
Ngay từ ban đầu, ý thức được rằng đây là một công trình không chỉ có quy mô quốc gia, mà cả cho toàn Lưu vực Lớn Sông Mekong / Greater Mekong Subregion, với thời gian là những đơn vị “thập niên”, đòi hỏi một ngân sách rất lớnhàng chục tỉ USD, không chỉ từ ngân sách quốc gia, mà cần tới sự tài trợ của của các nước Mỹ, Nhật, Úc… và các cơ quan tài chánh quốc tế: WB/ World Bank, ADB/ Asia Development Bank…Theo ước tính sơ khởi, số tiền đầu tư cho dự án Đê Biền Chống Mặn Đồng Bằng Sông Cửu Long chắc hắn sẽ ít hơn so với số vốn 56 tỷ USD mà nhà nước định tài trợ cho siêu dự án Đường Sắt Cao Tốc. 

Và quan trọng hơn hết là cần có một “think tank” tập hợp tất cả “chất xám” từ mọi lãnh vực chuyên môn từ thủy học, quan trắc địa chất, thay đổi khí hậu, môi sinh…của mọi tầng lớp người Việt trong nước cũng như bên ngoài, cùng với đội ngũ chuyên viên có kinh nghiệm từ hai quốc gia như Hòa Lan Vùng Đất Thấp và Hàn Quốc với công trình Saemageum và cũng không thể không nói tới Ủy Hội Sông Mississippi / Mississippi River Commission, từng có rất nhiều kinh nghiệm về đê điều và đang là tổ chức kết nghĩa với Sông Mekong từ tháng 7, 2009 do sáng kiến của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. (5)

Một Việt Nam sống còn

Nếu biết rằng, nửa sau của thế kỷ 21 này, sẽ không còn Đồng Bằng Sông Cửu Long một vựa lúa nuôi sống cả nước, Sông Tiền Sông Hậu sẽ là hai con sông chết vì thiếu nguồn nước ngọt do những con đập thượng nguồn nhưng lại dư độ mặn do Biển Đông dâng cao, với hậu quả là sẽ không còn một Nền Văn Minh Miệt Vườn, không còn một phần hình hài trẻ trung và đầy sức sống của cả nước;trước kịch bản ấy, không thể không khởi động làm một điều gì và lời giải đáp chắc chắn đòi hỏi rất nhiều trí tuệ, khởi đi từ tinh thần sáng tạo, hình thành một “ý tưởng lớn” cùng với ý chí và quyết tâm thực hiện. Và cũng để nhắc lại, là sẽ không có cái giá để mặc cả và thời gian thì có thể hơn giới hạn một đời người, để bảo vệ vùng đất định mệnh nhưng là một linh địa của dân tộc Việt. 

Từ một đất nước trong suốt chiều dài lịch sử, luôn luôn chìm đắm trong những cuộc chiến tranh, cũng là biện minh cho sự thiếu vắng những công trình kỳ vĩ.  Đây chính là thời kỳ để đất nước Việt Nam chuyển từ một nền “Văn Hóa Chiến Tranh / Culture of  War” sang một nền “Văn Hóa Hòa Bình / Culture of Peace” cùng với bước đầu nhận thức phải thực hiện một công trìnhxây dựng không chỉcó tính cách “sống còn” nhưng tự nó đã là một kỳ quan về “kiến trúc sinh thái”trong Thiên Niên Kỷ của dân tộc Việt.

Nguồn an ninh lương thực thế giới

Việt Nam Thái Lan cho đến nay vẫn là hai nước sản xuất lúa gạo lớn nhất thế giới.Nhưng điều nghịch lý là nông dân Đồng Bằng Sông Cửu Long thì vẫn sống “dưới mức nghèo khó” và không những thế, con cháu họ còn đứng trước thảm họa “mất đất sống”. Với dân số trên trái đất này ngày càng gia tăng theo cấp số nhân, và các nguồn lương thực quan trọng lại đang bị đe dọa trầm trọng bởi chuỗi những thảm họado chính con người gây ra. Riêng với Đồng Bằng Sông Cửu Long, thảm họa không chỉ đến từ phương bắc do những con đập thượng nguồn Trung Quốc, từ phía đông nam do biển mặn dâng cao hậu quả của hâm nóng toàn cầu. Cứu Đồng Bằng Sông Cửu Long, không chỉ là cứu một phần đất đai màu mỡ của Việt Nam, nhưng cũng là cứu một vựa lúa quan trọng của thế giới. Hiểu như vậy, thì sựtham dự hỗ trợ của nhiều quốc gia khác trong công trình Con Đê Biển Đa Dụng Chống Mặn là một nghĩa vụ quốc tế trong thế kỷ toàn cầu hóa / globalization. 

NGÔ THẾ VINH
California, 05-05-2011
Source: http//www.vietecology.org
  THAM KHẢO:

1/ Đê Biển Chống Mặn Đồng Bằng Sông Cửu Long, Ngô Minh Triết, P.E.; Mekong Sea Dyke, A Concept Paper / Draft, 04, 2011

2/ Thực Trạng Bi Đát của Lưu Vực Sông Mekong, Sáng Kiến Lancang-Mekong, Phạm Phan Long, P.E., Viet Ecology Foundation 1, 2011,www.vietecology.org/Article.aspx/Article/64

3/ Mekong-Cửu Long 2011 Nhìn Xa Nửa Thế Kỷ Tới, Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation, tháng 1, 2011,www.vietecology.org/Article.aspx/Article/63

4/US – Mekong Basin Cooperation follows ASEAN Meeting, Vientiane, Laos PDR, Jul 30, 2009, www.mrcmekong.org 

5/ Mekong-Mississippi Hai Dòng Sông Kết Nghĩa: Những Tương Đồng và Khác Biệt, Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation, tháng 8, 2009, www.vietecology.org/Article.aspx/Article/58

6/ Hunsen backed China’s often-criticized development plans for the Mekong River, Phnom Penh, Jun 29, 2005, (AFP)

7/ Hun Sen denies China Dams Impacts; Thomas Miller & Cheang Sokha; Phnom Penh Post, Nov 17, 2010

8/ The Mekong, Environment and Development, Hiroshi Hori, United Nations, University Press, Tokyo 2000

9/ Vùng Đất Ngập Đồng Tháp Mười, Trần Ngươn Phiêu, Thế Kỷ 21 số 219, tháng 7, 2007 

10/ On the Mekong, ABetter Way. Qin Hui, Economic Observer. Where China and the World Discuss the Environment. December 25, 2010. 
Read more ...

Sử học và khoa học

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011

Nhân đọc bài “Vài điều băn khoăn sau khi đọc một bài viết hay”, tôi chợt nhận ra rằng sử học, vốn là một ngành khoa học xã hội, cũng có vài điểm tương đồng với khoa học thực nghiệm.  Nhưng nhìn qua cách soạn sử (hay nghiên cứu sử) ở nước ta, những đặc tính khoa học hình như vẫn là một câu hỏi.


Trong bài “Vài điều băn khoăn sau khi đọc một bài viết hay”, tác giả Nguyễn Đình Khoa cho rằng nước ta hiện nay thiếu những nhà viết sử đúng nghĩa, hiểu theo tinh thần “Trung Thực, Chính Xác, và Không Thiên Vị”.  Đây cũng có thể xem là những tiêu chuẩn phổ quát trong khoa học.  Nói theo tiếng Anh, có lẽ trung thực là honesty, chính xác là accuracy, và không thiên vị chính là unbiasedness. Ai làm khoa học cũng biết những tiêu chuẩn này, nhưng thiết tưởng cũng không phí thì giờ nhắc lại để nhớ:

Trung thực  = honesty.  Thời Trung Cổ, nhiều người theo đuổi giấc mộng biến kim loại thành vàng.  Giới giáo sĩ thì bắt mọi người phải tin vào những thuyết hoang tưởng của giáo hội, ai nói khác đi là chịu hình phạt nặng nề (như trường hợp Galileo).  Nhưng dưới ánh sáng của khoa học thực nghiệm, chúng ta biết rằng những niềm tin tôn giáo hoặc là sai, hoặc là chẳng có cơ sở gì cả.  Cái khác biệt giữa nhà khoa học thật và dỏm là nhà khoa học đi đến kết luận dựa vào bằng chứng thực nghiệm và suy luận logic; còn nhà khoa học dỏm dựa vào niềm tin, phớt lờ chứng cứ thực tế.  Nhà khoa học thật khi làm thí nghiệm phải ghi lại những dữ liệu một cách trung thực, không được sửa dữ liệu thật cho dù là dữ liệu không phù hợp với giả thuyết (ngay cả khi phương tiện đo lường có vấn đề, cũng không được sửa số liệu).  Ngược lại, giới khoa học dỏm thì sẵn sàng sửa dữ liệu cho phù hợp với niềm tin của mình.  Sửa đổi dữ liệu thật là một trọng tội trong khoa học, và hình phạt thường rất nặng, như trường hợp của giáo sư Scott S. Reuben trước đây.

Chính xác = accuracy.  Khoa học thực nghiệm dựa vào cân đo đong đếm.  Mà, cân đo đong đếm thì đòi hỏi phải chính xác.  Khái niệm chính xác đề cập đến hệ thống đo lường cho ra kết quả đúng (hay càng gần đúng càng tốt) với giá trị thật.  Chẳng hạn như đo chiều cao, phương tiện đo nào phản ảnh đúng chiều cao thật của một cá nhân thì phương tiện đó được xem là chính xác.  Một khía cạnh khác của đo lường là độ tin cậy hay reliability, đề cập đến mức độ nhất quán của nhiều lần đo lường.  Nếu một máy DXA chiều cao của một cá nhân nhiều lần mà cho ra kết quả giống nhau thì đó chính là độ tin cậy.

Trong khoa học xã hội như sử học, tôi nghĩ khái niệm chính xác hay accuracy đề cập đến sự thật hay truth, còn reliability chính là mức độ chi tiết của câu trả lời cho sự việc.  Chẳng hạn như câu chuyện Lê Văn Tám được báo chí trước đây nhắc đến nhiều lần như là một thiếu niên anh hùng vì dám tự đốt mình để tiêu hủy kho nhiên liệu của địch, thì sự thật ở đây là tự đốt mình, và tính accuracy là câu chuyện có phản ảnh sự thật hay không, và độ tin cậy hay precision là những tình tiết chung quanh câu chuyện.

Thật ra, trong khoa học còn có một khái niệm quan trọng khác, gọi là validity = tính hợp lí. Có hai loại tính hợp lí: hợp lí nội tại (internal validity) và hợp lí ngoại tại (external validity).  Nói như thế cũng quá đơn giản, vì trong thực tế khoa học xã hội phân biệt cả chục tính hợp lí, nhưng tôi không bàn ở đây.  Nói ngắn gọn, hợp lí nội tại đề cập đến một phát hiện phải đặt trong bối cảnh tri thức hiện hành để đi đến một kết luận về nhân quả. Chẳng hạn như nếu tôi nói nữ mang guốc cao hay bị gãy xương thì phát hiện đó cần phải đặt trong bối cảnh sinh học, và câu hỏi đặt ra là có lí do sinh học nào làm cho người phụ nữ mang guốc cao gót bị gãy xương; nếu không thì phát hiện đó chưa đáp ứng tiêu chuẩn hợp lí nội tại. Tôi nghĩ trong khoa học xã hội, một phát hiện hay "sự kiện" được ghi lại mà không đặt trong bối cảnh khả dĩ thì tính hợp lí nội tại cũng có vấn đề.  Hợp lí nội tại có ý nghĩa quan trọng trong qui trình nghiên cứu.  Nếu tiêu chuẩn chính xác và tin cậy được duy trì thì tính hợp lí nội tại cũng được duy trì một phần lớn.

Khách quan = unbiasedness.  Bias là một khái niệm trong khoa học thống kê, đề cập đến một độ khác biệt về giá trị ước lượng [của một mô hình thống kê] và giá trị kì vọng của một biến số.  Nếu độ khác biệt bằng 0, thì mô hình thống kê được xem là unbiased, mặt khác, nếu độ khác biệt cao hay thấp hơn 0 thì mô hình có vấn đề biased.  Khái niệm khách quan cũng rất quan trọng trong khoa học xã hội.  Lấy ví dụ nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu xem có bao nhiêu người Việt Nam đồng ý với dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, và giả dụ như có 10% người đồng ý với dự án.  Thay vì lấy mẫu ngẫu nhiên trong cộng đồng, nhà nghiên cứu chọn 800 đại biểu Quốc hội và kết quả cho thấy có 50% đồng ý với dự án, thì con số 50% này là biased, không khách quan, không mang tính đại diện cho cộng đồng.

Đối chiếu những tiêu chuẩn trên với sử học hiện đại nước ta, dễ thấy vài khác biệt đáng chú ý.  Chẳng hạn như bộ sách “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến” được công bố rầm rộ gần đây, được giới thiệu như là một “công trình khoa học lớn, một bộ sách quý có giá trị sâu sắc về chính trị, tư tưởng và có ý nghĩa nhiều mặt trong việc giáo dục truyền thống lịch sử của Việt Nam” gây chú ý của nhiều người, kể cả tôi. Tôi chú ý là vì chuyện kháng chiến Nam bộ có dính dáng đến Ba tôi, người từng đi "Nam tiến" và hi sinh một cánh tay trong thời chống Tây. Bây giờ thì Ba tôi đã qua đời, nên làm gì đọc được những trang sử của một thời lừng danh đó. Tôi thì không có thì giờ để đọc cả ngàn trang sách, mà chỉ muốn nhìn qua lăng kính khoa học thực nghiệm thôi.  Nhìn qua ban biên tập của bộ sách có thể thấy vài điều thú vị.

Bộ sách “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến.” (Ảnh: Internet)








Điều thú vị thứ nhất là tính chỉ đạo.  Trong khoa học thực nghiệm không có ai chỉ đạo (ngoại trừ thầy hướng dẫn làm thí nghiệm cho đúng phương pháp), vì nếu khoa học thực nghiệm chịu sự chỉ đạo của cấp trên thì kết quả có thể ảnh hưởng đến tính chính xác và trung thực.  Nhưng trong sử học thì có sự chỉ đạo.  Bộ sách được soạn ra dưới sự chỉ đạo của một hội đồng mà trong đó có cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, Nguyễn Thới Bưng, Nguyễn Văn Chí, Mai Chí Thọ, Trần Văn Sớm, Trần Bạch Đằng, Phạm Văn Hy, và Ngô Thị Huệ.  Ngoài ra, còn có hội đồng chỉ đạo biên tập – xuất bản, gồm có PGS TS Tô Huy Rứa, Lê Thanh Hải, Ngô Văn Dụ, GS TS Lê Hữu Nghĩa, TS Nguyễn Duy Hùng, và Trần Văn Kính.  Có lẽ trong sử học, viết sử cần sự chỉ đạo của cấp trên để đảm bảo tính chính xác và trung thực.

Điểm thú vị thứ hai là tính khách quan.  Chưa biết nội dung bộ sách ra sao (vì chưa thấy ai điểm sách), nhưng nhìn qua danh sách ban biên tập toàn là những cựu tướng lãnh, sĩ quan, cán bộ cao cấp trong chính quyền, v.v. nhưng không thấy tên của các nhà sử học nổi tiếng, làm cho người đọc ngạc nhiên.  Người trong cuộc có cái hay là có thể nhớ lại sự việc chính xác hơn người ngoài cuộc, nhưng cách diễn giải của người trong cuộc có thể chịu sự chi phối của tình cảm cá nhân và niềm tin.  Trong khoa học thực nghiệm, tính khách quan thể hiện ở chỗ dữ liệu phải được đánh giá bởi nhiều đồng nghiệp không dính dáng gì đến công trình nghiên cứu.  Nhưng hình như trong sử học không có truyền thống đánh giá độc lập.

Thế mới biết sử học và khoa học thực nghiệm tuy giống nhau mà … khác nhau.  Giống nhau ở chỗ hai lĩnh vực khoa học (hãy cứ xem sử học là khoa học) có cùng lí tưởng và tiêu chuẩn chung: đó là trung thực, chính xác, và khách quan.  Nhưng khi thực hiện thì hai lĩnh vực khoa học này khác nhau.  Tôi tự hỏi không biết ở nước ngoài người ta viết sử và nghiên cứu sử có giống như ở nước ta?  Có lẽ chính vì sự khác biệt trên mà khoa học xã hội nói chung và sử học nói riêng vẫn được xem là một loại khoa học mềm – soft science.
Read more ...

Truyền thông thực chứng: 10 tiêu chuẩn để đưa tin khoa học tốt hơn

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011
http://startswithabang.com/wp-content/uploads/2008/06/whats_science.jpg
Đây là một phần trong bài giảng mà tôi đã sử dụng trong một hội thảo về truyền thông khoa học do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức tại Vĩnh Phú vào hôm 30/3 vừa qua. Lần đầu tiên ghé qua "đất tổ" Vĩnh Phú, ban đêm đi về trên những con đường tĩnh lặng với hai hàng cổ thụ, tôi có cảm giác như bồi hồi. Chắc đất Phong Châu đâu đây. Đầm Vạc (đang bị bức tử?) chắc cũng có ý nghĩa di tích lịch sử gì đây. Hôm đó, tôi có cơ duyên gặp và "giao lưu" (bây giờ tôi hiểu từ này rồi, nhưng mai mốt sẽ viết ra) với nhiều bạn trong ngành truyền thông phía Bắc. Còn gặp cả anh nhà báo Lý Sinh Sự (người viết cho Lao Động) cực kì thú vị vì những câu chuyện anh ấy kể (đúng là nhà báo!) và chị trưởng khoa báo chí của Đại học QGHN, xinh đẹp, ăn nói lưu loát. Chỉ một ngày mà tôi học rất nhiều điều về báo chí Việt Nam, không tiện/nên nói ra ở đây :-). Hôm đó, tôi nói về khái niệm truyền thông thực chứng và 10 tiêu chuẩn đưa tin khoa học tốt hơn. Nay thì có dịp viết lại cho đàng hoàng và xin chia sẻ cùng các bạn ở đây. Bản ngắn của bài này đã đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn.



Giới truyền thông và khoa học có một mục tiêu chung: đi tìm sự thật. Nhưng phương pháp hành nghề thì khác nhau. Tuy nhiên, hai ngành nghề này có thể bổ sung cho nhau. Khái niệm y học thực chứng có thể giúp cho giới phóng viên tiến đến một cách hành nghề theo nguyên lí “truyền thông thực chứng”. Bài viết này trình bày 10 tiêu chuẩn cho truyền thông thực chứng trong lĩnh vực truyền thông khoa học. 

Trong hai thập niên qua, xuất hiện phong trào y học thực chứng (evidence-based medicine) và trở thành một chuẩn mực trong y khoa.  Thật ra, y học thực chứng là một một học thuyết và cũng là một cách thực hành nghề y dựa vào bằng chứng.  Bằng chứng phải được đúc kết từ những công trình nghiên cứu khoa học có chất lượng cao.  Theo y học thực chứng, ý kiến của chuyên gia, dù là chuyên gia mang hàm giáo sư, không có giá trị khoa học bằng chứng cứ khoa học.  Do đó, y học thực chứng trao thẩm quyền cho khoa học, thay vì cho một chuyên gia.

Phong trào y học thực chứng lan tỏa sang các lĩnh vực khác như chính sách công cộng, giáo dục, và báo chí.  Mầy năm gần đây, người ta hay đề cập đến khái niệm evidence-based journalism, mà tôi tạm dịch là truyền thông thực chứng.  Truyền thông thực chứng, cũng như y học thực chứng, là một phương pháp hành nghề truyền thông dựa vào bằng chứng.  Có lẽ BBC là nhóm truyền thông cổ vũ sớm nhất cho truyền thông thực chứng, bởi truyền thông thực chứng là cơ sở khách quan (khác với vô tư) cần phải được khuyến khích.  Báo chí thời “Ông A nói”, “Bà B cho rằng” vào đầu thế kỉ 20 phải được thay thế bằng dữ liệu khoa học.  Trong thế giới đồn đại và ý kiến cá nhân, nhu cầu cho truyền thông thực chứng rất cấp thiết.  Ai cũng có quyền phát biểu ý kiến cá nhân, nhưng không ai có quyền sửa đổi dữ liệu thực tế.  Dữ liệu và bằng chứng là một phương tiện để giải quyết những bất đồng ý kiến và động cơ cho phát triển xã hội.

Một trong những ứng dụng thực tế nhất của truyền thông thực chứng là truyền thông khoa học.  Lịch sử của truyền thông khoa học có lẽ bắt đầu từ thời tờ New York Times có mục khoa học qua cây bút Carr van Anda từ năm 1904.  Từ đó đến nay, truyền thông khoa học đã phát triển rất nhanh, nhất là trong thời đại internet.  Nhưng vấn đề chính hiện nay trong truyền thông khoa học là vấn đề đưa tin có chất lượng và chính xác.  Theo cảm nhận của công chúng, phần lớn phóng viên khoa học chỉ làm chức năng tung hứng với giới khoa học.  Thật vậy, phần lớn phóng viên chỉ viết lại những thông cáo báo chí của các trung tâm khoa học.  Có người thậm chí xem phóng viên chỉ là cái loa cho giới khoa học tuyên truyền và tìm … tài trợ cho nghiên cứu. Ở vài nước như Trung Quốc, có phóng viên còn nhận tiền của giới khoa học để “đánh bóng” tên tuổi cho nhà khoa học!

Trước những thực tế trên, nhu cầu cho truyền thông thực chứng rất ư quan trọng.  Để hành nghề truyền thông thực chứng, phóng viên cần phải có kiến thức chuyên sâu về vấn đề khoa học, phải biết thẩm định thông tin, và phải tỏ ra có đạo đức trong việc chuyển tải thông tin đến công chúng.  Cố nhiên, công chúng không thể đòi hỏi giới báo chí phải am hiểu khoa học, bởi vì phần lớn phóng viên xuất thân từ khoa học xã hội, nhân văn.  Vì thế, phóng viên không thể đóng vai trò của nhà khoa học để thẩm định thông tin.  Tuy nhiên, giới báo chí có thể áp dụng một số tiêu chuẩn để đánh giá thông tin.  Trong bài này, tôi chỉ bàn về truyền thông khoa học, chủ yếu là y khoa (chưa bàn đến truyền thông chính trị - xã hội), và tôi xin trình bày 10 tiêu chuẩn như sau.  Mười tiêu chuẩn này không sắp xếp theo thứ tự tầm quan trọng, mà theo thứ tự qui trình khoa học.

Tiêu chuẩn 1: Chất lượng thông tin và bằng chứng.  Khoa học và truyền thông có cùng một mẫu số: kết luận phải dựa vào bằng chứng.  Bằng chứng phải có chất lượng.  Bằng chứng có chất lượng thường được thu thập và xử lí từ những công trình nghiên cứu có hệ thống, hiểu theo nghĩa nghiên cứu làm đúng qui trình khoa học.  Qui trình khoa học chuẩn là đề xuất giả thuyết và ý tưởng; phương pháp đo lường hay thu thập dữ liệu có độ tin cậy cao và chính xác; xữ lì dữ liệu đúng phương pháp khoa học; và diễn giải dữ liệu phải phù hợp với kết quả nghiên cứu.  Thế nhưng trong thực tế, vì lí do nào đó, nhiều nhà khoa học diễn giải dữ liệu một cách chủ quan (tức theo ý của mình), chứ không phù hợp với dữ liệu nghiên cứu.  Rất nhiều nghiên cứu chỉ là … rác rưởi khoa học.  Nhiều nghiên cứu làm không đúng qui trình khoa học, do đó kết quả chỉ có thể xem là rác, và không xứng đáng được đưa tin.  Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu không làm đúng qui trình khoa học, vi phạm đạo đức khoa học, và do đó chỉ có thể xem là rác.  Phóng viên phải làm quen với qui trình khoa học để có thể thẩm định thông tin có đáng tin cậy và đáng được công bố cho công chúng.

Trong khoa học, tri thức được “sản xuất” bằng một qui trình rất đặc thù mà giới báo chí cần phải biết.  Tri thức khoah ọc là kết quả sau cùng của một qui trình đi từ ý tưởng, giả thuyết, thử nghiệm và tái thử nghiệm, qua thẩm định và công bố quốc tế.  Một thông tin được công bố trong một hội nghị khoa học mà chưa công bố trên một tập san khoa học thì chưa thể xem là tri thức.  Chỉ khi nào thông tin đó đã qua bình duyệt của cộng đồng khoa học, được công bố trên tập san khoa học, và qua tái thẩm định của cộng đồng khoa học thì mới được xem là tri thức mới.  Ở nước ta, rất nhiều thông tin về những “phát hiện”, “phát triển mới”, kể cả tế bào gốc, trong thực tế chưa bao giờ được công bố trên các tập san khoa học quốc tế, nên rất khó đánh giá giá trị khoa học của những thông tin như thế.

Tiêu chuẩn 2: Ý tưởng có thật sự mới?  Ngày nay, rất hiếm có những đột phá trong khoa học.  Đại đa số những phát hiện và phát triển chỉ là những cải tiến nhỏ so với nhũng gì thế giới đang có, chứ không phải là phát hiện gì mới.  Trong số 78 thuốc do Cục quản lí thực phẩm và dược phẩm Mĩ (FDA) phê chuẩn năm 2002, chỉ có 17 thuốc thật sự mới. Tuy nhiên, vì nhu cầu tiếp thị nên nhiều trung tâm khoa học và công ti thường đưa ra những thông cáo báo chí mô tả những phát hiện của họ là mới.  Do đó, đứng trước một thông cáo báo chí của trung tâm khoa học, hay một bản tin của báo chí phương Tây, cần phải hoài nghi rằng đây có thật sự là một phát hiện độc đáo, một đột phá trong ngành.

Tiêu chuẩn 3: Định lượng lợi ích bằng con số tuyệt đối.  Nếu trong một nghiên cứu, thuốc A giảm tỉ lệ tử vong từ 2% xuống còn 1%, thì có hai cách phổ biến để mô tả hiệu quả đó.  Cách thứ nhất là nói rằng thuốc có hiệu quả giảm nguy cơ tử vong 50% (lấy 1 chia cho 2, trừ kết quả cho 1, và nhân cho 100).  Cách thể hiện thứ hai là phát biểu rằng thuốc làm giảm nguy cơ tử vong 1% (lấy 2% trừ cho 1%).  Con số thứ nhất (giảm 50%) là con số tương đối ; cách thể hiện thứ hai (giảm 1%) được tạm gọi là con số tuyệt đối. Giới tiếp thị rất thích con số tương đối để bán thuốc.  Giới khoa học cũng thích con số tương đối để thổi phồng ảnh hưởng hay hiệu quả điều trị mà họ ghi nhận.

Đứng trên phương diện toán, cả hai cách thể hiện đều đúng, nhưng trong thực tế, cách thể hiện con số tương đối có khi là một … ngụy biện.  Nếu thuốc B giảm tỉ lệ tử vong từ 10% xuống còn 5%, thì người ta có thể nói thuốc giảm nguy cơ tử vong 50%.  Như vậy, có thể nào nói rằng hiệu quả của thuốc A tương đương với hiệu quả của thuốc B?  Câu trả lời là không, bởi vì bệnh nhân trong nghiên cứu thuốc A có nguy cơ thấp hơn nhiều so với bệnh nhân trong nghiên cứu thuốc B; do đó, không thể so sánh trực tiếp được.  Tuy nhiên, cách phát biểu bằng con số tương đối lại tạo một ấn tượng tương đương.  Giới phóng viên cần phải đòi hỏi nhà nghiên cứu trình bày bằng con số tuyệt đối, bởi vì đó là con số thật, phản ảnh hiệu quả thấy được trong thực tế.

Tiêu chuẩn 4: So sánh phương pháp mới với phương pháp hiện hành. Bất cứ một phương pháp mới phát hiện hay ý tưởng mới đề xuất đều phải dựa vào những ý tưởng trong quá khứ hay hiện hành.  Trong y khoa, rất nhiều phương pháp chẩn đoán và liệu pháp điều trị đều được phát triển trên cơ sở những gì đang có.  Do đó, khi đưa tin, phóng viên cần phải so sánh thuật điều trị mới với thuật điều trị hiện hành.  Một loại thuốc mới điều trị ung thư có thể có hiệu quả tốt (qua những con số), nhưng công chúng muốn biết thêm rằng hiệu quả này có tốt như hay tính an toàn thấp hơn so với thuốc hiện hành.

Tiêu chuẩn 5: Nên đề cập đến chi phí.  Sự ra đời của nhiều thuật điều trị (kể cả dược phẩm) và chiến lược phòng ngừa bệnh đặt ra một câu hỏi quan trọng cho bệnh nhân, giới lâm sàng, và người làm chính sách: lợi ích của các thuật điều trị và chiến lược phòng bệnh có xứng đáng với đồng tiền bỏ ra.  Cách đây vài năm, giới báo chí rộ lên câu chuyện một thuốc mới có tên là Stutent (sunitinib) rất hiệu quả trong điều trị ung thư.  Thế nhưng khi người ta xem xét kĩ kết quả thì thuốc có hiệu quả làm chậm sự phát triển của ung thư khoảng … 6 tháng.  Kinh hoàng hơn nữa, chi phí thuốc điều trị  lên đến 54.000 USD.  Nếu chỉ biết hiệu quả của thuốc, thì thông tin cũng chưa đầy đủ.  Công chúng cần biết -- và giới phóng viên cần phải tìm hiểu và cung cấp thêm -- thông tin về tác hại cũng như chi phí của thuốc, bởi vì chi phí là cái sau cùng làm tổn hại ngân sách gia đình.  Không có quốc gia nào, không có gia đình nào có nguồn ngân sách bất tận.  Do đó, việc thẩm định giá trị kinh tế về sức khỏe của con người đã được đặt ra, giá cả sức khỏe phải được đưa lên bàn cân kinh tế để xác định loại thuốc nào hay thuật điều trị nào đáng “đồng tiền bát gạo”.
Tiêu chuẩn 6: Định lượng tác động tiêu cực. Trong y tế ngày nay, rất hiếm có những “thần dược” trị bá bệnh.  Thời đại của những “viên đạn vàng” của thuốc kháng sinh đã qua khá lâu.  Hầu hết những liệu pháp điều trị, dù là những thuốc được bào chế bằng công nghệ hiện đại nhất như công nghệ sinh học, đều có những tác hại bên cạnh những tác động tích cực.  Chẳng hạn như một loại thuốc điều trị bệnh tiểu đường khá hiệu quả, nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy thuốc có tác hại tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch, và tăng nguy cơ mắc các bệnh như nhồi máu cơ tim và suy tim.  Thuốc điều trị trầm cảm có khi tăng nguy cơ tự tử.  Ngay cả thuốc điều trị bệnh cúm cũng gây phản ứng tiêu cực như ói mửa.  Phẫu thuật cũng có những nguy cơ gây biến chứng, và nguy cơ cao hay thấp còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố.  Do đó, một cách đưa tin công bằng và cân đối là nên cung cấp tác động tích cực, nhưng cũng không nên bỏ qua những tác động tiêu cực mà có khi bệnh nhân và công chúng rất cần biết.

Tiêu chuẩn 7: Xem xét đến yếu tố tiếp cận và ứng dụng trong thực tế.  Hầu hết những loại thuốc mới đều do các công ti dược nước ngoài (chủ yếu và Mĩ và Âu châu) phát triển và bào chế.  Một khi thuốc được phê chuẩn cho sử dụng trong điều trị, thì điều đó không có nghĩa là bệnh nhân Việt Nam sẽ được tiếp cận thuốc đó nay mai.  Ngoài ra, vì chi phí quá cao, nên ngay cả khi thuốc có trên thị trường ở Việt Nam, số bệnh nhân có khả năng tài chính để theo điều trị cũng chẳng bao nhiêu.

Bên cạnh đó, còn có những bản tin và những khám phá khoa học rất ngoạn mục, nhưng trong thực tế chẳng có ý nghĩa gì cho bệnh nhân!  Những khám phá về điều trị và nguyên nhân của bệnh trên chuột sẽ rất khó có thể ứng dụng cho bệnh nhân.  Những liệu pháp điều trị bằng tế bào gốc hay tiềm năng của nó mà giới báo chí có thời gian rất “ồn ào” trong thực tế cũng rất khó ứng dụng cho điều trị bệnh nhân, hay có thì số trường hợp cũng rất hạn chế.  Tuy nhiên, cách đưa tin về triển vọng mà không xem xét đến khả năng ứng dụng trong thực tế gây ra một hi vọng ảo cho người bệnh, và cách đưa tin như thế có thể nói là không phù hợp với nguyên lí của truyền thông thực chứng.

Tiêu chuẩn 8: Tránh xu hướng giật gân và gây sợ hãi.  Một trong những điểm đáng phê phán nhất trong giới báo chí, nhất là báo chí phương Tây, là xu hướng gây sợ hãi trong cộng đồng (tiếng Anh gọi là disease mongering).  Bằng những từ ngữ cảm tính và những thủ thuật vặn vẹo con số, giới báo chí có thể (và thường xuyên) gây nên những lo âu, phiền muộn trong cộng đồng.  Cách đưa tin về dịch cúm H5N1, H1N1 trong thời gian qua là một ví dụ tiêu biểu.  Qui mô của vấn đề thật ra rất nhỏ so với cúm thông thường, nhưng với cách trình bày con số tăng 2 lần, 3 lần, kèm theo những hình ảnh ghê rợn của đại dịch vào đầu thế kỉ 20, làm cho thế giới hoang mang.

Một ví dụ khác là phát biểu  rất phổ biến rằng cứ 10 phụ nữ thì có 1 người bị bệnh ung thư vú.  Con số 1/10 đã gây ra sợ hãi trong nữ giới và làm cho họ đổ xô đi khám nghiệm nhũ ảnh một cách không cần thiết.  Nhưng thật ra con số 1/10 đó rất sai.  Con số tỉ lệ ung thư vú 1/10 đó có nghĩa là nếu một cộng đồng gồm 100 người phụ nữ, tất cả đều sống đến tuổi 85, và trong quãng đời đó không mắc và chết vì bất cứ bệnh nào, thì cứ 10 người có 1 người mắc bệnh ung thư vú.  Nhưng chúng ta biết rằng giả định đó không đúng, bởi vì nhiều phụ nữ chết trước tuổi 85 và họ chết vì bệnh tim mạch (và các bệnh khác) nhiều hơn là bệnh ung thư vú.  Do đó, giới phóng viên cần phải đặt câu hỏi thông tin mà giới khoa học đưa ra có mang tính giật gân, và nếu quyết định đưa tin, thì cần phải kèm theo điều kiện và giả định đằng sau con số hay thông tin để người đọc có thể cảm nhận được.

Ở đây, cũng cần phải nhấn mạnh đến hai khái niệm: nguy cơ mắc bệnh và mắc bệnh.  Nguy cơ (tiếng Anh là risk) là một khái niệm tương đối, mang tính xác suất.  Xác suất có giá trị từ 0 đến 100%.  Còn mắc bệnh chỉ có 2 “giá trị”: một cá nhân hoặc mắc bệnh hoặc không mắc bệnh (có hay là không).  Nếu một cộng đồng có 1 triệu người, và trong đó có 100 người mắc bệnh, thì nguy cơ mắc bệnh là 0,01%.  Con số 0,01 là một xác suất.  Một người có thể có nguy cơ mắc bệnh cao nhưng không hề mắc bệnh.  Nguy cơ mắc bệnh áp dụng cho một quần thể, còn mắc bệnh áp dụng cho một cá nhân.  Khi nói hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ gây bệnh ung thư phổi, thì phát biểu đó không có nghĩa là tất cả mọi người hút thuốc lá đều mắc bệnh ung thư phổi, mà chỉ nói rằng những người hút thuốc là có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người không hút thuốc lá.  Một xét nghiệm với kết quả dương tính cũng không có nghĩa là cá nhân đó mắc bệnh, mà chỉ có nghĩa là nguy cơ mắc bệnh cao hơn người có kết quả âm tính.  Do đó, một phát hiện về yếu tố nguy cơ cần phải đặt trong một bối cảnh chung để diễn giải đúng ý nghĩa bất định của “yếu tố nguy cơ”.

Tiêu chuẩn 9: Truy tìm những mâu thuẫn về lợi ích. Ngày nay, mối liên hệ đa chiều và tương tác giữa giới khoa học và kĩ nghệ là một điều tất yếu.  Tuy nhiên, điều đáng nói là rất nhiều người trong giới khoa học chịu sự chi phối của giới kĩ nghệ trong những phán xét của mình.  Hệ quả là nhiều phác đồ điều trị do các giáo sư soạn ra đều bị xem là có sự tác động của kĩ nghệ dược, bởi vì hầu hết những giáo sư này nhận tiền “tư vấn” từ các công ti dược.  Ở nước ta, báo chí đã phanh phui một số bác sĩ nhận huê hồng từ các công ti dược ở mức độ làm cho thế giới y khoa quốc tế phải kinh ngạc.  Với khả năng tài chính và “kĩ thuật” tiếp thị, kĩ nghệ dược có thể biến các giáo sư, tiến sĩ thành những người tiếp thị cho họ.  Điều này hoàn toàn không có nghĩa là ai có liên hệ với kĩ nghệ dược đều đánh mất lương tâm khoa học, nhưng trong thực tế, không ít người chịu sự chi phối của đồng tiền và quyền lợi cá nhân để làm lu mờ phán xét khoa học.  Một số người đang tuyên truyền về triển vọng điều trị bằng tế bào mầm cũng chính là những người đứng đằng sau những công ti do chính họ dựng nên để hưởng lợi, trong khi đó họ lơ là nghiên cứu khoa học để có những bằng chứng khoa học thuyết phục.  Do đó, trước một bản thông cáo báo chí hay bản tin từ báo chí phương Tây, phóng viên cần phải truy tìm xem nhà khoa học trong bản tin đó có liên hệ gì với kĩ nghệ hay không.

Tiêu chuẩn 10: Không nên tùy thuộc vào thông cáo báo chí của giới khoa học.  Phần lớn những bản tin về khoa học xuất phát từ những bản thông cáo báo chí do các trung tâm nghiên cứu khoa học công bố.  Những bản thông cáo báo chí được viết bằng một văn phong và các trình bày nhắm vào giới phóng viên, với mục tiêu tối hậu là được phóng viên chú ý và loan tin.  Do đó, người viết thông cáo báo chí thường đơn giản hóa vấn đề, thậm chí thổi phồng một phát hiện.  Đó là việc của họ, mặc dù có quan điểm cho rằng cách viết như thế là thiếu khách quan.  Vì thế, giới phóng viên cần phải có thái độ hoài nghi.  Hoài nghi không có nghĩa là bác bỏ thông tin của giới khoa học, mà có nghĩa là phải phân biệt được đâu là dữ liệu (fact) và đâu là ý kiến của chuyên gia.  Trong khoa học, ý kiến của chuyên gia tuy quan trọng, nhưng không có giá trị khoa học bằng dữ liệu.  Để tìm dữ liệu, phóng viên phải truy tầm cho được công trình nghiên cứu gốc (hay bài báo khoa học) và bỏ thì giờ xem xét dữ liệu, đối chiếu với những phát biểu trong bản thông cáo báo chí.  Giới phóng viên cũng cần phải áp dụng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong suy luận khoa học để thẩm định mối liên hệ giữa nhà khoa học, trung tâm nghiên cứu, và cơ quan tài trợ cho nghiên cứu.

Mới đây, một bản tin trên báo Việt Nam lấy từ một bản tin trên báo phương Tây và Ấn Độ về mối liên hệ giữa chiều dài ngón tay và nguy cơ bệnh tật, nhưng thông tin thì chưa đầy đủ.  Bài báo cho biết “Chẳng hạn, nếu ngón đeo nhẫn dài hơn ngón trỏ, bạn có nguy cơ mắc bệnh viêm khớp gối cao gấp đôi người thường.” Vấn đề ở đây là công trình nghiên cứu này chỉ dựa vào lời khai của người tham gia nghiên cứu, chứ các nhà nghiên cứu không có đo lường ngón tay của họ.  Chưa ai biết nếu đo lường nghiêm chỉnh thì kết quả có như thế hay không.  Ngoài ra, bài báo không cho biết rằng người có ngón tay đeo nhẫn (ring finger) dài hơn ngón trỏ (index finger) cũng là những người có nhiều con (nhưng nữ thì ít con!), hung hăn hơn, thường mạo hiểm hơn người có ngón tay đeo nhẫn ngắn hơn ngón trỏ.  Như vậy, chiều dài ngón tay có thể chẳng liên quan gì đến ung thư hay bệnh tật, mà có thể chính vì những thái độ mạo hiểm mới là thủ phạm.  Vả lại, cũng không loại bỏ khả năng kết quả nghiên cứu chỉ là một ngẫu nhiên, chứ không có cơ sở sinh học vững vàng.

Cũng cần phải hoài nghi ý kiến của chuyên gia và quan chức.  Cách đây vài năm, một quan chức Bộ Y tế cho biết “các nghiên cứu khoa học khẳng định, việc rửa tay thường xuyên với xà phòng có thể ngăn chặn được 47% các bệnh quan tới đường tiêu hóa và hơn 30% các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp cấp.” Nhưng qua truy tìm y văn thì người ta mới phát hiện con số 47% không đề cập đến “các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa” mà nói đến một bệnh cụ thể là tiêu chảy.  Một phân biệt quan trọng khác là con số 47% này không phải là ngăn chận 47% ca bệnh, mà là giảm nguy cơ mắc bệnh.  Hai điều này (“ngăn chận ca bệnh” và “giảm nguy cơ mắc bệnh”) rất khác nhau, chứ không có cùng nghĩa. Hoài nghi, nhìn theo góc độ đó, là một thái độ tích cực vì nó làm cho vấn đề được minh bạch hơn.  Đó cũng chính là một lợi thế của truyền thông thực chứng.
***

Giới truyền thông và khoa học có cùng một mục tiêu: đi tìm sự thật.  Nhưng thẩm định thế nào là sự thật không phải là một việc làm đơn giản.  Khoa học dựa vào sự thật hay dữ liệu thật.  Những sự thật phải được quan sát hay thu thập và đo lường bằng những phương pháp chuẩn.  Điều quan trọng và cần thiết trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là dữ liệu có liên quan đến vấn đề.  Do đó, đối với báo chí, nếu chỉ đơn thuần cung cấp những dữ liệu, ý kiến, hay thậm chí con số từ một nghiên cứu chưa thể xem là bằng chứng khoa học được.  Phóng viên cần phải vượt ra ngoài những dữ liệu giới khoa học cung cấp, bằng cách phân tích và đối chiếu với bối cảnh cộng đồng để giúp cho người đọc (công chúng) hiểu vấn đề một cách thấu đáo.  Trong chiều hướng đó, hi vọng rằng những tiêu chuẩn trên đây sẽ giúp cho giới phóng viên nước ta, nhất là giới phóng viên khoa học, tiếp cận và thực hành truyền thông theo nguyên lí của truyền thông thực chứng.
Read more ...

Ám sát Giáo sư Nguyễn Văn Bông: Chuyện cũ, ý nghĩa mới

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011
user posted image
Cách đây đúng 40 năm một chính khách miền Nam tên là Nguyễn Văn Bông bị ám sát chết.  Khoảng 10 năm trước câu chuyện ông bị ám sát được tiết lộ, và nay câu chuyện đó được tiết lộ một lần nữa trên Dân Việt qua lời thuật của chính người chủ mưu (“Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn”). Đặt trong bối cảnh ngày nay khi Việt Nam đang chống khủng bố, câu chuyện này thật là ... khó nuốt (hay nói theo tiếng Anh là distasteful). Khó hiểu nổi tại sao báo chí Việt Nam có vẻ thích ca ngợi những chuyện bạo động như thế này.


Ngày 30/4/2011 có đến hai bài báo đáng chú ý.  Bài thứ nhất là “Chân dung nữ du kích từng mưu sát Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu” đăng trên Dân Trí kể về chuyện mưu sát ông Nguyễn Văn Thiệu.  Nhưng bài đó không “nổi” bằng bài “Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn” đăng trên Dân Việt kể lại tình tiết chung quanh việc giết chết Giáo sư Nguyễn Văn Bông.  Ngày mà nói theo nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt là có triệu người vui bên cạnh triệu người buồn mà có những bài báo mang tính bạo động, chết chóc như thế thì quả là khó đọc, nhất là trong lúc Việt Nam đang chống khủng bố. Nhưng bài báo thứ hai khơi dậy lịch sử của một thời đầy biến động ở miền Nam có liên quan đến nhân vật Nguyễn Văn Bông.


user posted image
GS. Nguyễn Văn Bông (1929-1971)

Có lẽ cần phải có vài dòng về thân thế của ông Nguyễn Văn Bông.  Ngày xưa, khi tôi lớn lên thì chỉ nghe nhiều về ông, chứ chẳng biết chi tiết thân thế ra sao, nên bây giờ phải nhờ đến wikipedia vậy.  Theo wikipedia, ông sinh ngày 2/6/1929 tại Gò Công (Tiền Giang) trong một gia đình lao động. Ông nổi tiếng là một học sinh học giỏi và tự lập.  Năm 12 tuổi đã tự làm những nghề như sửa xe đạp, phụ đánh máy, quét dọn trường học để kiếm tiền đi học (vì cha mẹ li dị).  Ông tự đi du học bên Pháp, tốt nghiệp với bằng tú tài, cử nhân luật từ Đại học Sorbonne (1956), tiến sĩ chính trị học (1960), thạc sĩ công pháp quốc tế (1962). Ông về nước dạy học, và sau này giữ chức viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh (thời ông Thiệu). Cuối năm 1968 ông làm chính trị, thành lập Phong trào Quốc gia cấp tiến, một tổ chức đối lập với chính phủ của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.  Ông bị mưu sát lần đầu vào năm 1968, nhưng đến lần 2 (1971) ông bị ám sát chết lúc mới 42 tuổi.  Gs Nguyễn Văn Bông qua đời để lại vợ mới 30 tuổi, hai trai và một gái.  Sau 1975, vợ ông là Lê Thị Thu Vân, còn gọi là “Cô Út” (người ông gặp ở Paris) bà tái giá với một nhà ngoại giao Mĩ là Lacy Wright, và lấy tên mới là Jackie Bông Wright.  Sau này bà có viết và xuất bản một cuốn sách giống như hồi kí có tựa đề là Autumn Cloud: From Vietnamese War Widow to American Activist (Mây mùa thu: từ một góa phụ chiến tranh đến một người hoạt động xã hội).

Lúc mới nghe tin ông bị ám sát, phu nhân ông là bà Thu Vân tố cáo thủ tướng Trần Thiện Khiêm là thủ phạm giết hại chồng bà. Lời tố cáo này xuất phát từ suy luận rằng Gs Nguyễn Văn Bông đã nhận lời làm thủ tướng trong chính phủ Nguyễn Văn Thiệu (và thế là ngăn chận bước đường công danh của ông Trần Thiện Khiêm – người sau này là thủ tướng).  Thế nhưng bà Thu Vân đã sai.  Người ám sát Gs Nguyễn Văn Bông là ônng Vũ Quang Hùng, tức tác giả bài viết dưới đây.  Ông Vũ Quang Hùng, theo như một nguồn tin, lúc đó là sinh viên năm thứ ba Đại học Khoa Học Sài Gòn (tức Đại học Khoa học Tự nhiên ngày nay) và là thành viên của tổ trinh sát vũ trang của Ban An Ninh T4.  Còn người ngồi sau xe honda là Lê Văn Châu như trong bài báo tường thuật là trung úy quân đội VNCH nhưng đồng thời cũng là cơ sở của An Ninh T4.  Nhưng chi tiết về cuộc ám sát thì chỉ mới tiết lộ gần đây, nhất là qua bài báo tuần này.  Theo lời kể trên Dân Việt thì hai người trinh sát giết ông bằng cách ném cái cặp da chứa chất nổ và lựu đạn dưới gầm xe của ông đang ngừng tại đèn đỏ ngã tư cao Thắng – Phan Thanh Giản.  Giáo sư Nguyễn Văn Bông chết tại chỗ cùng những người thân cận ông (3 vệ sĩ và 1 tài xế).

Không thấy trong bài viết tại sao người ta phải giết một vị trí thức như thế.  Trong bài báo trên Dân Việt không thấy nêu lí do phải hạ sát ông Nguyễn Văn Bông, mà chỉ có những lời kể về kế hoạch thủ tiêu ông.  Không biết các bạn thì sao, chứ tôi đọc bài này dù chỉ là muốn tò mò tìm hiểu nhưng vẫn thấy nói theo tiếng Anh là distasteful quá.  Người đọc thử đặt mình trong vai trò con hay bà con của Giáo sư Nguyễn Văn Bông, người đọc sẽ nghĩ gì?  Cướp đi sinh mạng của một người là một hành động khó mà ca ngợi được, huống chi đây là một việc giết người có toan tính cẩn thận.

Câu chuyện ám sát Gs Nguyễn Văn Bông làm tôi nhớ đến chuyện ám sát dân biểu John Newman ở Sydney.  Câu chuyện hơi dài, nhưng tôi tóm tắt theo cách hiểu của tôi.  Ông Ngô Cảnh Phương (sinh năm 1954) là một người Việt tị nạn ở Úc, sau một thời gian làm ăn, ông cũng khá thành công và có tiền.  Ông tham gia chính trường địa phương, trở thành đảng viên của Đảng Lao Động, và có ý định ra tranh cử dân biểu.  Đối thủ của ông là John Newman (một di dân từ Đông Âu), đương kim dân biểu, cũng là người của Đảng Lao Động.  Hai người không ưa nhau.  Nhưng ông Ngô Cảnh Phương có xu hướng thắng thế hơn Newman, và vì thế ông Newman rất sợ mất ghế.  Đêm 5/9/1994, John Newman bị bắn chết tại nhà sau khi tham dự một phiên họp của chi bộ đảng Lao Động, trở về. Cảnh sát nghi ông Ngô cảnh Phương lúc đó là nghị viên của Hội Đồng Thành Phố Fairfield (nghị viên cũng giống như chức hội đồng huyện vậy) là người chủ mưu cuộc ám sát.  Sau nhiều điều tra, tốn rất nhiều tiền, đến ngày 13/3/1998, cảnh sát bắt ông Phương và hai người khác là Đào Quang và Trần Văn Tuấn.  Sau đó là một loạt phiên tòa với nhiều tình tiết bất thường, ngày 29/6/2001 ông bị tuyên án tù chung thân vì tội mưu sát, nhưng Đào Quang và Trần Văn Tuấn thì được tha bổng  Cần nói thêm rằng, cảnh sát không hề tìm được bằng chứng để kết tội ông Phương, họ chỉ kết tội ông mưu sát, còn kẻ cầm súng bắn thì cho đến nay vẫn chưa biết là ai!  Năm 2004, nhiều người Úc bênh ông Phương trưng bày bằng chứng và đòi hỏi phải xử lại, nhưng tòa vẫn kết án ông Phương.  Đến năm 2008, những người Úc ủng hộ ông Phương một lần nữa đệ đơn kháng án, và tòa lại phải xử tiếp, và đến năm 2009 thì vẫn y án.  Câu chuyện cho thấy ở Úc (hay bất cứ một nước nào có luật pháp nghiêm chỉnh cũng vậy) giết người hay mưu sát là một tội rất nghiêm trọng.  Không thể biện minh việc mưu sát bằng lập luận đối lập chính trị.

Chính trường Việt Nam thì có rất nhiều vụ mưu sát và ám sát.  Cả hai phe đều dính dáng vào những hành động giết người.  Cơ quan tình báo CIA cũng thế.  Nhưng có cái khác là CIA thì giữ kín mít những chi tiết giết người của họ, còn Việt Nam thì có vẻ “vô tư” công bố những tình tiết giết người!  Đạo đức làm người không cho ai gây hại đến người khác huống chi là giết người.  Đọc qua lời kể trên Dân Việt của người chủ mưu, chúng ta dễ dàng thấy đội ám sát lên kế hoạch rất kĩ, chính xác đến từng giây phút.  Tính chính xác của họ thật đáng nể.  Nhưng chỉ có điều tính chính xác đó đáng lẽ nên phục vụ cho khoa học thì tốt hơn là để cướp đi sinh mạng của một người trí thức.

Ở nước ta có một nghịch lí: những sự kiện đáng được bạch hóa nhưng lại không được; ngược lại có những sự kiện không cần bạch hóa (vì rất dễ làm đau lòng nhiều người) nhưng lại được bạch hóa như là một cách xưng tụng!  Có những điều nên để cho đi vào quên lãng chứ không nên nhắc đi nhắc lại như là một kì tích.  Khơi lại sự việc ám hại người chỉ làm đau lòng thân nhân của người kém may mắn.  Người bị sát hại đã về bên kia thế giới, và người sát hại cũng chắc qua tuổi lục tuần và gần đất xa trời, tức ở độ tuổi bao dung hơn.  Chỉ hi vọng những tình tiết giết người như thế không còn xuất hiện trên báo chí nữa.  Một khi sát hại được dùng như là một phương tiện để đạt được mục tiêu, thì mục tiêu đó chẳng có gì là cao cả.

NVT

Giáo sư Nguyễn Văn Bông qua lời kể của tác giảTrần Văn Chi
Những ai may mắn gần gũi với Nguyễn Văn Bông chắc còn nhớ lúc mới về Sài Gòn, còn ở tạm tại một khách sạn nhỏ trên đường Kỳ Ðồng, ông thạc sĩ độc thân, đẹp trai hồn nhiên mặc chiếc áo thun rách 3 lỗ ra tiếp đón bà con bạn bè đến mừng! Nguyễn Văn Bông mộc mạc, thiệt thà, đơn giản, là con người “trước sao, sau vậy”. Rồi ông được mời giảng dạy chánh thức tại đại Học Luật Khoa Saigon, đến 15 Tháng Mười Một năm 1964 được cử làm viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Nguyễn Văn Bông vẫn vậy.

Ðối diện với ông trên bộ ghế salon bằng gỗ cũ kỹ tại căn nhà của ông do nhà nước cấp, trước trường Nữ Trung Học Gia Long vào thập niên 70, tôi nói chuyện với ông như người anh em, người đồng hương, người “bạn tri kỷ”, dầu tôi với ông cách biệt tuổi tác và địa vị.

Ðó là cái lớn của Nguyễn Văn Bông mà tôi ít tìm thấy nơi những tri thức cũng như chánh khách mà tôi hân hạnh tiếp xúc lúc bấy giờ.

Làm viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, nơi đào tạo những con người lãnh đạo đất nước, những ông chủ quận, chủ tỉnh, quan chức cao cấp... nhưng Nguyễn Văn Bông không coi mình là quan chức. Ông trước sau chỉ là người thầy, người anh, người bạn với mọi người kể cả học trò của ông.

Ông Nguyễn Văn Bông từ Pháp về nước lúc tình hình chánh trị ở miền Nam Việt Nam đang trong thời kỳ xáo trộn: 18 trí thức nhóm Tự Do Tiến Bộ bị đàn áp, do ngày 26 Tháng Tư năm 1960 nhóm này cho phổ biến tuyên ngôn yêu cầu chánh phủ cải tổ; Phật Giáo chống lại chánh sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Ðình Diệm lên cao điểm với vụ tự thiêu của Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tại ngã tư Lê Văn Duyệt- Phan Ðình Phùng lúc 11 giữa trưa ngày 11 Tháng Sáu năm 1963...

Nguyễn Văn Bông dầu được chánh quyền mời về, nhưng ông không e dè đăng đàn thuyết trình đề tài “Ðối lập chánh trị trong chế độ dân chủ” ngày 1 Tháng Tám năm 1963, nhân buổi lễ khai giảng năm học, trước cử tọa gồm viện trưởng, khoa trưởng, giáo sư cùng hàng ngàn sinh viên. Không kể nội dung bài thuyết trình, thái độ của người thầy Nguyễn Văn Bông đã làm cho sinh viên cùng đồng sự của ông nể trọng, kính phục. Ðó là đức độ kẻ sĩ. Và mấy ai làm được?

Ông không chọn thái độ ở ẩn như Phan Văn Trị, từ quan như Vũ Văn Mẫu. Lối xuất sử của Nguyễn Văn Bông làm cho ông trở thành con người nổi trội bấy giờ.

Sau Cách Mạng 1 Tháng Mười Một, ông đảm nhận các chức vụ viện trưởng Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, cố vấn cho Tối Cao Pháp Viện, ủy viên Hội Ðồng Quản Trị Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Tới lúc này ông Viện Trưởng Nguyễn Văn Bông vẫn thường về quê, tìm món khô “hắc cấy”, món ngon đặc sản Vàm Láng của ông. Nghe ông thích thú kể chuyện con hắc cấy, chuyện làm gỏi da cá đuối mà tưởng chừng đang nói chuyện với lão nông, hay người đánh cá. Cung cách Nguyễn Văn Bông đã thâu hút mọi người và làm mọi người đến với ông. Rồi ông được mời hoạt động, làm chánh trị, bởi anh em thấy ở ông cái đức độ của con người lãnh tụ thật sư, có tấm lòng, có cái Tâm. Ông làm chánh trị như nhà tu hành thiền.

===

http://www.danviet.vn/41332p1c24/toi-am-sat-nguoi-sap-lam-thu-tuong-sai-gon.htm

Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn

(Dân Việt) - Trưa 10.11.1971. Một tiếng nổ long trời tại ngã tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản khiến ông Nguyễn Văn Bông - Giám đốc Học viện Quốc gia Hành chính, người chuẩn bị nắm chức thủ tướng (ngụy) chết tại chỗ.


NTNN trân trọng giới thiệu bài viết của ông Vũ Quang Hùng - người đã theo dõi, lên phương án tấn công và trực tiếp dự trận đánh này.

Vào cuộc

Trung tuần tháng 10 năm 1971, ngay sau khi nhận lệnh của cấp trên về mục tiêu cần diệt là Giáo sư Nguyễn Văn Bông, việc đầu tiên là tôi điểm lại tất cả anh chị em trong đội do tôi (Vũ Quang Hùng, bí danh Ba Điệp) làm đội trưởng. Đội trinh sát võ trang mang bí số S1 hoạt động nội thành Sài Gòn-Chợ Lớn thành lập chưa đầy một năm, gồm 11 người (kể cả tôi).

Tôi nhớ dặn dò của đồng chí Tám Nam - Phó ban An ninh T4 (tức khu vực Sài Gòn-Gia Định): “Để bảo đảm bí mật, chúng ta sẽ đặt cho mục tiêu bí số G.33. Cần giữ bí mật đến phút chót và theo tin tức tình báo, G.33 đang chuẩn bị lên nắm ghế thủ tướng. Nếu G.33 đã nắm chức, sẽ rất khó hành động vì khi ấy việc bảo vệ ông ta sẽ khác hẳn. Và nếu tình huống này xảy ra, cách mạng có thể gặp khó khăn hơn bởi Nguyễn Văn Bông là một trí thức có uy tín và chính quyền ngụy chuyển từ quân sự sang dân sự mọi diễn tiến sẽ có lợi cho địch”.
Giáo sư Nguyễn Văn Bông là thạc sĩ công pháp quốc tế đầu tiên của Việt Nam, tốt nghiệp tại Pháp, đang nắm chức Giám đốc Học viện Quốc gia Hành chính, đồng thời là Chủ tịch Phong trào Cấp tiến, một tổ chức chính trị chống cộng.

Tôi quyết định tự mình trinh sát mục tiêu, đề ra phương án hành động. Mặt khác, tôi chuẩn bị vũ khí để thực hiện trận đánh.

Sau khoảng nửa tháng bám sát mục tiêu, tôi hầu như nắm chắc quy luật đi lại của G.33: Buổi sáng ra khỏi nhà hơi thất thường, có khi không tới chỗ làm. Nhưng hễ đã vô Học viện Quốc gia Hành chính là thế nào ông ta cũng rời Học viện lúc 11 giờ 45 để trở về nhà. Lộ trình từ Học viện về nhà cũng không bao giờ thay đổi: Theo đường Trần Quốc Toản (nay là 3.2), quẹo phải qua Cao Thắng, đến ngã tư Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) thì rẽ trái.

Tôi cũng nói thêm về việc bảo vệ ông Bông vào thời gian này. Ông di chuyển trên xe hơi Ford Falcon màu đen. Ngồi trên xe hơi luôn có một cận vệ. Chạy theo bảo vệ xe hơi của ông thoạt đầu có hai xe gắn máy, nhưng từ sau khi báo chí đăng tin ông có thể lên nắm chức thủ tướng, số xe gắn máy tăng lên từ ba tới bốn chiếc, mỗi xe đều chở đôi.

Đầu tháng 11.1971. Tôi trình bày vắn tắt ba phương án hành động rồi gửi về căn cứ đặt tại An Phước, Bến Tre. Đã đến lúc tìm người cụ thể bắt tay hành động. Tôi gặp Năm Tiến - đội phó S1, trao đổi tình hình và yêu cầu, hỏi anh ta có dám “vào trận” hay không, tuy vẫn chưa cho biết đối tượng cũng như phương án tấn công nhằm bảo đảm bí mật. Năm Tiến hăng hái nhận lời, nói Tư Xá, một trinh sát trong đội, cũng đang nóng lòng chờ xuất quân.

Cũng cần nói thêm, lúc này tôi đã có 6 trái lựu đạn “da láng”, thêm khẩu Colt 45. Cho nên, trong thư gửi về căn cứ tôi viết nếu chấp nhận phương án ba (ném lựu đạn, mìn DH vào xe của G.33 tại ngã tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản) và chỉ cần gửi cho tôi trái DH khoảng 5kg.

Trên nhất trí duyệt phương án 3 đồng ý cả đề xuất nhân sự, hẹn tôi ngày, giờ cụ thể đón giao liên để nhận mìn định hướng.

Tình huống ngoài dự kiến

Tôi cũng tính toán thật chính xác thời gian khoảng từ khi tháo chốt đến khi lựu đạn nổ, thừa đủ thời gian cho trinh sát thoát thân. Vậy là trong óc tôi hình thành cách cấu tạo khối chất nổ: Vì trinh sát hóa trang làm sinh viên nên sẽ hết sức tiện lợi khi mang theo cặp da, trong đó chứa vừa lựu đạn, vừa trái DH. Tôi quyết định luôn “ngày D” để báo cáo về căn cứ: Đó là ngày 9.11.

Vừa nhận trái DH từ căn cứ gửi lên, tôi mua ngay một cặp da và cuộn dây kẽm, mang về gác trọ bắt tay vào việc. Ba lựu đạn da láng cùng trái DH gọn gàng nằm trong cặp. Tuy đã dùng nhiều sợi dây thun cột càng lựu đạn, tôi vẫn chỉ tháo bỏ chốt chính, và dự định khi trao cho Năm Tiến, tôi sẽ dặn kỹ anh ta chỉ kéo bỏ chốt phụ ngay trước giờ hành động. Riêng trái lựu đạn dùng làm “ngòi”, tôi chỉ thay chốt phụ bằng cọng dây kẽm, chốt chính vẫn giữ lại, và việc này cũng phải chờ đến phút chót.

Đến ngày 8 tôi mới nói với Năm Tiến đối tượng cần tấn công cũng như toàn bộ kế hoạch. Cặp da chứa chất nổ và khẩu Colt 45, tôi sẽ trao cho Năm Tiến vào 9 giờ sáng ngày hôm sau, vừa đủ thời gian để anh và Tư Xá kiểm tra kết cấu chất nổ và cách sử dụng. Tôi hẹn gặp Năm Tiến tại một quán cà phê, rồi mới đưa anh ta tới địa điểm cất giấu vũ khí. Tiếp theo Năm Tiến sẽ gặp Tư Xá trao đổi lại toàn bộ sự việc và liền đó hai người bắt tay làm nhiệm vụ… Nhưng thật bất ngờ, vào phút chót Năm Tiến báo tin Tư Xá xin rút, và cả anh ta cũng rút luôn vì không mấy tin tưởng thành công của trận đánh.

Lúc này lòng tôi rối bời. Các đồng chí trong căn cứ sẽ nghĩ sao? Kế hoạch đã lên nay không thực hiện, không lẽ chỉ là một ý nghĩ viển vông, lý thuyết suông? Nếu không nhanh chóng thực hiện phương án, qua ít ngày nữa, ông Bông lên nắm chức thủ tướng, khi ấy nếu muốn diệt mục tiêu chắc chắn phải trở lại từ đầu, kể cả khâu trinh sát.

Lúc này tôi không có ai để bàn bạc, tham khảo ý kiến, mà phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Cuối cùng tôi quyết định tiếp tục hành động. Vấn đề là tìm người thực hiện cụ thể.

Trong đội trinh sát S1 thực tế tôi chỉ còn lại Châu. Nguyên là sĩ quan quân đội, đương nhiên Châu quen với lựu đạn, súng. Và đây là điều hết sức thuận lợi nếu anh ta làm trinh sát số hai – người quăng chất nổ.

Còn trinh sát số một – người chạy xe gắn máy chở trinh sát ném lựu đạn? Phải thành thực nhận định, không ai thuận lợi bằng tôi: Biết rành cũng như nắm vững quy luật đi lại của đối tượng; và hơn hết, đã quen với con hẻm dẫn ra khỏi hiện trường. Vả lại, tôi cũng không thể tìm đâu ra người trong thời gian cấp bách.

Tôi lập tức tìm gặp Châu. Rút kinh nghiệm Năm Tiến, tôi chưa vội trao đổi cụ thể với Châu, mà chỉ hỏi anh dám tham gia một trận đánh tại nội thành có thể nguy hiểm đến tính mạng hay không? Tôi nhớ Châu chỉ hỏi lại ngoài anh ta ra còn ai cùng dự trận, và khi tôi trả lời còn một người nữa là tôi, anh đồng ý ngay. Tôi hẹn sáng ngày mai, lúc 10 giờ trưa, sẽ gặp lại anh giao nhiệm vụ và vũ khí cùng lúc, để thực hiện luôn vào buổi trưa cùng ngày…

Đúng 10 giờ sáng hôm sau, ngày 10.11.1971, tôi chở Châu đến nơi cất giấu vũ khí. Tại đây, tôi kể lại toàn bộ tình hình cho Châu nghe, từ chỉ thị của cấp trên, việc trinh sát đối tượng, phương án đánh, đến vũ khí sử dụng. Chỉ đến khi Châu hỏi “vậy vũ khí đâu?”, tôi mới lôi cặp da ra.

Tôi mở cặp da, để Châu tận mắt thấy trái mìn DH và 3 lựu đạn da láng, trong đó 2 đã được rút chốt chính và cột bằng dây thun, trái thứ 3 còn nguyên chốt chính trong khi chốt phụ đã được thay bằng cọng dây kẽm và đầu kia của dây kẽm xuyên qua cặp da, cột vào quai xách.

Còn khẩu Colt 45, tôi giắt vào bụng mình để Châu không bị trở ngại khi hành động và khi chạy, dặn vạn bất đắc dĩ Châu mới thọc tay vào bụng tôi, rút ra sử dụng.

11 giờ 15, tôi chở Châu lên đường. 11 giờ 25, tôi tấp xe vào quán nước đối diện Học viện. Còn Châu xách cặp làm bộ đứng chờ xe buýt tại trạm gần quán.

11 giờ 40, tôi trả tiền. Đúng 11 giờ 45, phía trong Học viện có bóng người chuyển động về hướng xe hơi. Dù cố trấn tĩnh, tim tôi vẫn đập rộn ràng. Tôi lập tức rời quán, lên Honda, nổ máy, chạy chầm chậm. Châu đã thấy tôi, bước đến sát mé đường. Ba-ri-e ngoài cổng Học viện hạ xuống, chiếc Ford Falcon lao ra rất nhanh, đến nỗi tôi vừa dừng xe đón Châu thì xe hơi đã quẹo ra đường Trần Quốc Toản; và khi Châu lên ngồi trên yên sau Honda thì xe hơi đã vượt qua xe tôi, 3 xe gắn máy chở đôi bám theo.

Không hiểu sao lúc này tôi lại tự nhiên hết hồi hộp mà thanh thản một cách kỳ lạ. Tôi tự nhủ không nên chạy sau xe Ford Falcon, vì có thể sẽ bị đám cận vệ phát hiện, nên tăng ga. Chiếc Honda 67 lướt rất êm, vừa tới ngã ba Cao Thắng đã qua mặt xe hơi.

Honda vẫn chạy trước xe hơi khoảng 5-6m, và cách ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản chừng 15m thì đèn tín hiệu giao thông chuyển sang màu đỏ. Tôi dừng Honda để Châu bước xuống, còn tôi vòng Honda qua bên kia đường, đầu xe nhắm ngay con hẻm, gài số một. Phía trước mặt tôi, hơi chếch về bên mặt, là tấm kiếng lớn của một xe hủ tíu-mì. Tôi quan sát phía sau qua tấm kiếng lớn này.

Châu vừa xuống xe thì chiếc Ford Falcon cũng vừa ngừng. Châu tấp vô lề, vòng ra phía sau xe hơi, quăng cặp da xuống ngay gầm xe bên phải, rồi nhanh như chớp, chạy băng qua đường. Đúng lúc Châu chuẩn bị nhảy lên ngồi trên yên Honda thì một tiếng nổ long trời lở đất vang lên, cùng với cột lửa khói vụt bốc lên cao từ chiếc Ford Falcon. Một làn hơi mạnh thổi tạt đến tận chỗ tôi vừa lúc Châu tót lên yên và tôi lập tức siết tay ga, nhả tay côn hết sức nhịp nhàng. Chiếc Honda như muốn cất cao đầu, lao nhanh vào con hẻm…

Khoảng nửa giờ sau ngồi trong gác trọ, nghe Đài Phát thanh Sài Gòn thông báo Giáo sư Bông đã bị ám sát, chết tại chỗ, tôi mới trấn tĩnh trở lại…

Vũ Quang Hùng
Read more ...

Nhân ngày 30/4, đọc lại vài dữ liệu cũ

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2011
http://en.citizendium.org/images/thumb/0/0f/South_vietnam_ethnic_1972.jpg/180px-South_vietnam_ethnic_1972.jpg
Thấm thoát mà đã 36 năm. Tính từ ngày 30/4/1975. Nhân dịp đọc một cuốn sách cũ, tôi thấy có vài thông tin về kinh tế của miền nam Việt Nam trước 1975 cũng có ý nghĩa so sánh nào đó ...


Về thu nhập bình quần, theo số liệu kinh tế, GDP bình quân ở miền Nam vào thời trước 1975 là 150 USD.  Thu nhập này tuy chưa cao mấy thời đó, nhưng cao hơn ở các nước Thái Lan, Bangladesh, Ấn Độ, và Pakistan.  Ba mươi sáu năm sau, GDP bình quân đầu người của Việt Nam là khoảng 1100 USD, thua xa Thái Lan (khoảng 4000 USD).

Về giáo dục đại chúng, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, năm 1973, tỉ lệ dân số biết đọc, biết viết là 70%, rất cao so với các nước Á châu láng giềng hồi đó. Hiện nay, tỉ lệ dân số biết đọc và viết là 90%.  Ba mươi sáu năm, chỉ tăng 20%?

Hôm nọ, khi tôi viết rằng thời trước 1975, du học sinh Thái Lan sang đại học miền Nam học, còn bây giờ thì mình sang đó ... du học. Chẳng có gì xấu hổ. Người ta giỏi hơn mình thì mình học người ta.  Nhưng nói ra sự thật ấy làm tôi nao lòng và buồn về sử đổi đời. Có người từ miền Bắc hỏi tôi có bằng chứng gì giáo dục miền Nam tốt hơn bây giờ? Tôi nói chính tôi là sản phẩm của nền giáo dục thời trước 1975 đây.  Còn hàng vạn "sản phẩm" của nền giáo dục trước 1975 đang ở nước ngoài và họ cũng thành danh, thành tài. Đó là một bằng chứng của nền giáo dục trước kia.

Về trình độ của giới cầm quyền, 36 năm sau nước ta đã có 50% bộ trưởng có văn bằng tiến sĩ.  Thời trước 1975, tôi không có con số chính xác, nhưng chỉ nhớ số bộ trưởng có bằng tiến sĩ chỉ đếm đầu ngón tay.  Ngay cả ông Hoàng Đức Nhã với bằng thạc sĩ nhưng được giới báo chí và công chúng nể lắm rồi.  Nhưng theo Giáo sư Đặng Phong thì tuy họ học không cao, nhưng trình độ thật thì cao và đáng nể:  “Cần phải phân biệt rõ: nền chính trị thối nát (không phải tôi nói, mà người Mỹ và người trong giới chính trị Sài Gòn nói) với bộ máy kinh tế chuyên nghiệp. Những cấp cao nhất, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng... phần lớn là dân võ biền, là lính sang làm chính trị như Thiệu, Kỳ, Khiêm ... Nói chung, họ không có mấy kinh nghiệm để điều hành một xã hội dân sự văn minh. Nhưng điều đặc biệt là cấp dưới của họ (bộ trưởng, tổng trưởng...) và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn, kiến thức kinh tế - xã hội rất giỏi để vận hành khối lượng tiền, hàng cực lớn. Bằng chứng là Nam VN khi đó đã có hệ thống ngân hàng, hệ thống thuế, bảo hiểm ... trình độ quốc tế, hoạt động toàn cầu. Dân đã xài séc, các công cụ tín dụng, công sở xài máy tính IBM, tổ chức nền kinh tế đã sử dụng các phương tiện hiện đại, mà bây giờ chúng ta mới chập chững tiến vào.”

Ngày xưa (thời VNCH) cũng có tham nhũng, nhưng hình như bản chất hơi khác với thời nay.  Ngày xưa, giới quan chức VNCH tham nhũng chủ yếu là ăn chận tiền tài trợ của Mĩ.  Thật ra, tham nhũng của VNCH là có lợi cho cách mạng, vì lợi dụng đó mà du kích mới có tiếp viện!  Tham nhũng thời VNCH theo Gs Đặng Phong là “một nguồn hậu cần quan trọng giúp chúng ta thành người chiến thắng”.  Còn ngày nay, cứ như báo chí phản ảnh thì quan chức ăn chận tiền của … dân.  Họ cũng ăn chận (hay ăn cắp?) tài nguyên đất nước.  Hình thức tham nhũng nào cũng nguy hiểm, nhưng ăn chận tiền dân và tài nguyên quốc gia thì đúng là nguy hiểm và […].  Giáo sư Đặng Phong nói: “Tham nhũng cũng là một cách ra đời tầng lớp hữu sản cho nên đạo lý kém hơn, chụp giật hơn, lưu manh hơn.”

Ngày 30/4 thường được nhắc đến như là một “ngày chiến thắng”, “ngày giải phóng miền Nam”.  Đứng trên quan điểm kẻ thắng người thua, thì chắc cũng có lí do để gọi đó là ngày chiến thắng.  Nhưng thử hỏi với cả 4 triệu (?) người phải bỏ mạng trong cuộc chiến đó, cộng thêm hàng trăm ngàn bỏ mạng trên biển, và 3 triệu người lưu vong, thì chiến thắng đó có vẻ vang không?  Chẳng lẽ ăn mừng chiến thắng trên xác người?  Còn giải phóng thì có nghĩa là giải phóng từ nô lệ, gông cùm của bọn đế quốc, nhưng trong thực tế ngày xưa đâu có nô lệ, và bọn đế quốc Mĩ cũng đâu có gông cùm gì; chúng vẫn phát triển giáo dục tốt, hệ thống y tế tốt, kinh tế gia đình khá no ấm, học trò lễ phép, báo chí nói khá thoải mái (diễu cợt ông Thiệu, ông Kỳ liên miên).  Do đó, hai chữ “giải phóng” e rằng không thích hợp với thực tế của những con số vừa trình bày.

Hóa ra, thời trước 1975 cũng không đến nổi tệ, nếu không muốn nói là có nhiều khía cạnh tốt hơn hẳn ngày nay. Nhớ có lần bà con tôi là bộ độ tập kết vào tiếp quản miền Nam, các chú và cậu đem mấy con gà và vài lít gạo cho nhà tôi, vì tưởng tụi tôi đói khát lắm và nghèo lắm. Đến khi lên nhà, bà con tôi hết sức ngạc nhiên vì họ không ngờ tôi có xe Honda lại còn đeo đồng hồ 2 cửa sổ không người lái nữa chứ, còn gia đình tôi có độ 100 công đất và 3 chiếc máy cày!  Vài năm sau, tôi mất cái Honda, và lưu lạc xứ người, còn gia đình thì còn đúng 5 công đất. Ba mươi sáu năm mà vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiêm chỉnh để trả lại sự thật cho lịch sử. Nhưng may thay, có nghiên cứu của Gs Đặng Phong đã để lại vài dữ liệu có ý nghĩa. Xin xem bài trả lời phỏng vấn dưới đây của Gs Đặng Phong để có cái nhìn khách quan hơn về thời trước 1975.

NVT

====
Tư sản hôm qua, hữu sản hôm nay
Hân Hương thực hiện

Người Đô thị, Tháng 5/2008
Trong giới sử học, ông thuộc số ít viết sử kinh tế. Người như ông, GS Đặng Phong - tác giả của hàng chục ngàn trang sử kinh tế VN, còn ít hơn nữa. Ông bảo: “Nền kinh tế miền Nam trước 1975 phồn vinh thật nhưng giả tạo ở chỗ nó không tự nuôi nổi nó”. Báo Người Đô Thị xin giới thiệu cùng bạn đọc bài phỏng vấn GS Đặng Phong, thuộc ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội trong chuyên đề “Sài Gòn-TPHCM năm thứ 33: Nhận định bản sắc, phát triển tiềm năng”

Ông mời tôi ăn cơm trưa: "Có cá diếc kho tương và rau muống học trò vừa mang đến. Đừng ra quán, tôi mà thấy “chúng nó” hét dzô, dzô... không nuốt nổi". Ăn lối nhà quê, nhưng ông hút xì gà và có cả một bộ sưu tập tẩu Tây sang trọng.

Người ta sợ tôi bị “mua”

Thưa, ông học kinh tế trong nước, sao lại qua Pháp giảng dạy?

- GS Đặng Phong: Tôi học ĐH Kinh tế Quốc dân ở Hà Nội, rồi làm tổng biên tập tờ Vật giá của Ủy ban Vật giá Trung ương. Đến 1988, cao trào thời kỳ đổi mới, Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp quốc (FAO) dành cho VN 2 suất học bổng Học viện Nông nghiệp Địa Trung Hải (TP Montpellier – Pháp). Trường này nổi tiếng, các tiền bối GS Nguyễn Mạnh Tường, GS Phạm Huy Thông, GS Đỗ Đình Thiện... ở đó ra. Tôi cũng bất ngờ vì họ chọn mình, luận văn kết thúc khóa học của tôi là: “Chế độ thu mua thóc ở VN”, được đánh giá tốt, có lẽ vì thế ông thứ trưởng Bộ Giáo dục Pháp mời tôi ở lại giảng ở trường ĐH Paris VII.

Nghe nói ông từng bị “đả đảo” ở Mỹ?

- Việc tôi du học Pháp, được họ giữ lại giảng dạy là “chuyện động trời” đối với một trí thức xã hội chủ nghĩa. Thêm chuyện trường ĐH Irvine (bang California - Mỹ) mời tôi từ Pháp qua luôn với họ, dư luận xôn xao rằng tôi đã “bị phương Tây mua rồi”. Ngại bị hiểu lầm, nên sau khi trao đổi thẳng thắn với một cán bộ đại sứ quán ta ở Pháp, tôi quyết định trở về nước. Rồi từ VN tôi mới qua Mỹ vào năm 1991.

Buổi giảng đầu tiên tại Irvine “Thực trạng kinh tế VN” khá ồn ào vì bị một số Việt kiều biểu tình “đả đảo”, đòi “Đặng Phong hãy nói về nhân quyền!” Họ đòi bằng được phải có đại diện vào giảng đường chất vấn. Tôi đồng ý, có ba người xấn vào nóng nảy lên án tình trạng tham nhũng ở VN và chính quyền tham quyền cố vị. Về tham những, tôi nói đúng có tham nhũng - nhưng chính quyền Sài Gòn trước kia tham nhũng gấp 10 lần cơ. Tôi làm sử kinh tế, có đầy đủ số liệu chứng minh, họ chịu. Còn tham quyền cố vị, thì chính quyền Thiệu, Kỳ... không hề muốn xuống ghế. Vì bản chất người cầm quyền có ai chịu tự nguyện rời chức vụ đâu? Tôi cũng chỉ là một công dân, có nguyện vọng chính quyền không nên tham quyền, và được bày tỏ nguyện vọng đó như mọi công dân khác.

Sau này trở thành bạn bè, thỉnh thoảng qua Mỹ tôi lại gặp họ trò chuyện. Tôi có một kinh nghiệm rằng đừng nổi nóng, đừng vội quy kết ta-địch, mình có sai lầm thì thừa nhận, sửa chữa - sự tử tế là cách thuyết phục nhau tốt nhất.

Nhặt tiền lẻ xây được nhà lầu?

Năm 1975 ở R về Sài Gòn, khá “choáng váng” trước cảnh phồn vinh của đô thị này, tôi được nghe giải thích sự phồn vinh ấy chỉ là giả tạo?

- Phồn vinh là thật đấy! Miền Nam VN dân số trước 1975 chừng 17 triệu, trừ số dân thuộc vùng giải phóng, còn khoảng 8 triệu người. Sở dĩ họ giàu là nhờ nguồn viện trợ khổng lồ của Mỹ bằng 4 con đường chính.

Thứ nhất, bình quân mỗi năm Mỹ đổ vào Nam VN 1 tỉ USD. Con số đó không thấm tháp gì so với vốn nước ngoài bây giờ đầu tư vào VN – nhưng xin nhớ dân số VN nay khoảng 84 triệu. 1 tỉ USD chia bình quân cho 8 triệu người, vẫn là lớn. 1 tỉ USD trút vào nuôi bộ máy Nhà nước, binh lính - thu nhập của họ rất cao. Cấp thiếu úy được nhà riêng (gia binh), một tổng trưởng (bộ trưởng) lương trị giá 10 cây vàng/tháng.

Thứ hai, chi phí chiến tranh (nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ - có thời kỳ lên đến 28 tỉ USD/năm, như các năm 1967, 1968). Mỹ quản lý nhưng vẫn rơi vãi vô khối ra dân sự. Riêng vỏ đạn cũng đủ tạo ra 7 nhà máy đồng, xác chiến xa và các loại vũ khí... là đầu vào của các nhà máy cán thép, dù miền Nam làm gì có mỏ sắt. Chi phí quân sự đã trở thành kinh tế dân sự.

Thứ ba, cũng nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ - là sức chi tiêu tại chỗ của nửa triệu binh lính Mỹ, bình quân 1 người 800 USD/tháng. Khoản tiền khổng lồ này tạo ra vô khối ngành dịch vụ và thu nhập cho người dân. Câu “nhất Mỹ, nhì lô, tam cô, tứ tướng” là vậy. Tôi quen một chủ tiệm giặt là từng nhận thầu giặt đồ cho lính Mỹ. Anh ta bảo chỉ nhặt tiền lẻ trong đống quần áo, gom lại trong 1 năm xây được nhà 4 tầng lầu và anh ấy có đến dăm cái tiệm như thế ở các quận Sài Gòn.

Thứ tư, ngoài 1 tỉ USD tiền còn các khoản viện trợ thường xuyên bằng hàng hoá do người Mỹ chỉ định mua từ nước nào, hãng nào, loại hàng gì, theo giá nào... để giải quyết cán cân thương mại giữa Mỹ và các nước đồng minh. Cách làm này tạo ra vô số nhà máy đường, nhà máy dệt v.v không trồng mía, bông – nhưng nhập nguyên liệu từ Indonesia, Malaysia, Nhật Bản... để sản xuất.

Có thể nói chiến tranh là bầu sữa quan trọng nhất của nền kinh tế Nam VN trước năm 1975. Nó tạo ra cuộc sống phồn vinh thật ở các đô thị miền Nam (vùng nông thôn rất nghèo khổ). Nhưng đó là nền kinh tế không nuôi nổi nó.

Bộ máy kinh tế giỏi

Không nuôi nổi nó, cần gì một bộ máy vận hành kinh tế giỏi?

-Cần phải phân biệt rõ: nền chính trị thối nát (không phải tôi nói, mà người Mỹ và người trong giới chính trị Sài Gòn nói) với bộ máy kinh tế chuyên nghiệp. Những cấp cao nhất, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng... phần lớn là dân võ biền, là lính sang làm chính trị như Thiệu, Kỳ, Khiêm..., Ngô Đình Diệm là ông quan của triều đại phong kiến. Nói chung, họ không có mấy kinh nghiệm để điều hành một xã hội dân sự văn minh. Nhưng điều đặc biệt là cấp dưới của họ (bộ trưởng, tổng trưởng...) và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn, kiến thức kinh tế - xã hội rất giỏi để vận hành khối lượng tiền, hàng cực lớn. Bằng chứng là Nam VN khi đó đã có hệ thống ngân hàng, hệ thống thuế, bảo hiểm... trình độ quốc tế, hoạt động toàn cầu. Dân đã xài séc, các công cụ tín dụng, công sở xài máy tính IBM, tổ chức nền kinh tế đã sử dụng các phương tiện hiện đại, mà bây giờ chúng ta mới chập chững tiến vào.

Theo ông, có thể kế thừa công nghệ quản lý nền kinh tế đó?

- Rất tiếc chúng ta xóa bỏ bộ máy điều hành kinh tế miền Nam nhanh quá. Tới Đại hội Đảng VI đã ghi nhận sai lầm do chủ quan, nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa. Nhưng nhiều chuyên gia kinh tế đã ra đi...

Nhưng bây giờ chúng ta lại có nhiều doanh nhân làm kinh tế giỏi?

- Marx nói “Giai cấp tư sản đã tạo ra sự phát triển trong 100 - 200 năm bằng tất cả lịch sử của nhân loại”. Tức là tư sản tạo ra sự tăng trưởng. Trước kia ta đánh tư sản mại bản (xuất nhập khẩu hàng hóa), giờ ta khuyến khích xuất khẩu đồ gỗ sang Mỹ và nhập máy móc của họ. So với mại bản trước 1975, thì mại bản bây giờ (trong công nghiệp, tài chính, hàng không) quy mô lớn hơn nhiều. Sự tăng trường ấy tốt về số lượng, nhưng quản lý tồi.

Chúng ta đánh đổ giai cấp tư sản cũ, nhưng phải xây dựng được tầng lớp hữu sản mới. Sự ra đời của tầng lớp này là cần thiết, chứ với chỉ “lực lượng lao động hợp tác xã” thì chết. Nhưng đó phải là một tầng lớp hữu sản có văn hóa và có lương tâm. Con đường ra đời giai cấp này trên thế giới khác ta- bằng cách cướp bóc thuộc địa, gây chiến tranh. Ở ta, ra đời bằng cách đánh đổ giai cấp tư sản cũ - nằm trong diễn biến chung của các nước xã hội chủ nghĩa.

Tham nhũng cũng là một cách ra đời tầng lớp hữu sản cho nên đạo lý kém hơn, chụp giật hơn, lưu manh hơn...

Nhưng chính quyền Sài Gòn trước 1975 tham nhũng ghê gớm?

- Đó là một trong các nguyên nhân lớn của sự sụp đổ. Quân đội thì nhận hàng của Mỹ, tuồn ra ngoài, lợi dụng chiến tranh nhiều rủi ro không kiểm soát nổi. Chính quyền dân sự thì ăn vào các dự án, bệnh viện Vì Dân (Thống Nhất bây giờ), sân bay Tân Sơn Nhất... là vài ví dụ. Tướng tá, quan chức thầu công trình, đường sá... rồi bán thầu cho Hoa kiều. Tướng Đồng Văn Khuyên thầu hết các bãi rác quanh các căn cứ quân sự (tivi, honda, tủ lạnh cũ...) chuyển thành hàng secondhand cho dân Sài Gòn v.v... Tất nhiên sự tham nhũng ấy có lợi cho ta. Nhờ thế ta mua được xăng, gạo, thuốc men, vũ khí... Đó một nguồn hậu cần quan trọng giúp chúng ta thành người chiến thắng.

Làng Yên Phụ cổ của ông giờ nằm kẹp giữa hai con đường đang mở. Đô thị hóa đến tận nhà rồi, miếng đất 150m² này đã đưa ông thành người hữu sản?

Năm 1975 dọn từ phố ra làng, tôi mua nó giá 1,5 cây vàng. Bây giờ 7 cây vàng/m2, tài sản của tôi tăng 1.000 lần, mà không cần làm gì. Chiếm hữu thật nhiều đất đai là cũng là con đường "nâng giai cấp" của người Việt hiện nay đấy, anh bạn.

Hơn và kém xưa
Tròn 33 năm giải phóng miền Nam, GS Đặng Phong nhận xét về đời sống người dân đô thị miền Nam trước 1975 và ngày nay:

- Mức sống vật chất bây giờ rõ ràng là cao hơn trước đây rất nhiều. Thu nhập, tiện nghi, nhà cửa, phương tiện đi lại, mức ăn, mặc... đều vượt xa Sài Gòn trước đây, nếu nhìn trên bình diện chung của toàn xã hội. Riêng một số tầng lớp trên - thì ngày xưa giới thượng lưu giàu có không nhiều và cũng không giàu như những triệu phú đô la ngày nay.

- Về mức an toàn của cuộc sống thì trước đây rất kém, vì có chiến tranh. Nhà nào cũng có người đi lính, nếu muốn tránh đi lính thì phải trốn, phải chạy vạy, đút tiền. Cái chết đe dọa, rình rập tất cả các gia đình ở thành thị. Xe của cảnh binh có khi chặn ngay ở các cửa trường để bắt lính. Đến năm 1975 thì hầu như nhà nào cũng có bàn thờ một hay hai đứa con chết trận. Còn bây giờ đã có hòa bình, người ta không sợ đi bộ đội, thậm chí người ta còn chạy vạy để được đi bộ đội, để học các trường sĩ quan. Vào quân đội bây giờ không bị cái chết đe dọa mà lại được đảm bảo cuộc sống, vị trí xã hội. Trong đời sống hiện nay cũng có nhiều khía cạnh không an toàn như những vụ trấn lột, chém giết, cướp bóc... Nhưng đó chỉ là những hiện tượng cá biệt, đột xuất. Cuộc sống hằng ngày của người dân nói chung rất an toàn. Thậm chí có thể nói cuộc sống ở VN là một trong những nơi an toàn nhất thế giới. Không có khủng bố, không có phe này phái kia đánh nhau, trừng trị nhau, không có lật đổ, không có bạo loạn... Mọi người được yên ổn làm ăn.

- Cuộc sống văn hóa và tinh thần thì có thể nói thời trước có hai mặt của nó. Một mặt là sự hiện diện của quân đội Mỹ và quân đội đồng minh để lại những ảnh hưởng rất xấu trong xã hội. Đó là tệ nạn đĩ điếm, ma cô, chạy theo đồng đô la một cách khá trắng trợn. Chính người dân miền Nam thời đó cũng phản ứng rất gay gắt. Nhưng mặt khác, cuộc sống xã hội và tinh thần trong nội bộ xã hội Việt Nam, trong trường học, trong công sở, trong các gia đình, xóm giềng, bạn hữu... lại là quan hệ có nề nếp, có văn hóa. Học trò lễ phép với thầy, vợ chồng, cha con, mẹ con thương yêu gắn bó với nhau. Thời đó học trò ra đường không hỗn láo như bây giờ. Không có hiện tượng chửi thề, các quan chức cũng có chơi bời nhưng không tệ hại tới mức như một số quan chức hiện nay. Công an thời đó ít có hiện tượng chặn đường để ăn tiền mãi lộ một cách phổ biến như ngày nay. Xin giấy tờ ở cấp này cấp kia cũng không phải đút lót một cách phổ biến, đặc biệt là trong trường học thì tình trạng chạy điểm, mua điểm, ném phao, quay cóp gần như không có. Có thể nói, so với xã hội trước đây thì trên một số khía cạnh nào đó, cuộc sống văn hóa và tinh thần hôm nay đã xuống cấp nghiêm trọng... Những trí thức trước đây, công chức trong công sở là những người có tư cách, đàng hoàng, cả nói năng và hành xử rất có văn hóa. Còn bây giờ, một tỉ lệ đáng kể công chức và cả một số trí thức cũng không có được một phong độ văn hóa như trước đây.

- Các nhà kinh doanh, trước đây hầu hết là tư nhân. Ngày nay kinh doanh tư nhân cũng phát triển khá mạnh, nhưng doanh nghiệp quan trọng nhất vẫn là doanh nghiệp quốc doanh. Xét riêng khu vực tư nhân thì trước đây những nhà kinh doanh tư nhân phần lớn là những người đã có truyền thống từ nhiều đời để lại. Họ có kinh nghiệm, họ có văn hóa, họ có bạn hàng, họ có thị trường, có những quy tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh. Kinh doanh tư nhân hiện nay là một tầng lớp mới lên, đa số chưa có nhiều kinh nghiệm, không có truyền thống, mang nặng tính chất chụp giật, tạm bợ, số phận của họ cũng không ổn định.

- Về quản lý và điều hành nền kinh tế, như tôi đã nói sơ trên, cấp điều hành và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn. Họ hiểu luật pháp quốc tế vì đã từng tu nghiệp ở Mỹ, ở Pháp. Họ có phong độ của những nhà quản lý, có kiến thức quản lý. Họ có thể tham dự các cuộc đàm phán quốc tế không cần phiên dịch. Hệ thống quản lý của ta ngày nay về mặt đó là kém hơn. Phần lớn là các cán bộ chính trị của ta tri thức về quản lý vẫn còn bất cập so với những đòi hỏi của một cơ chế kinh tế thị trường hoàn hảo. Trình độ ngoại ngữ cũng như kiến thức chung về xã hội cũng vậy. Do đó, trong sự điều hành gặp nhiều vấp váp. Tình trạng lạm phát, những ách tắc trong đời sống kinh tế như nạn kẹt xe, xây cất lung tung, tai nạn xảy ra liên tục... thể hiện sự bất cập của hệ thống quản lý hiện nay.

Đặng Phong
Nguồn: Người Đô thị, Tháng 5/2008
Read more ...