Pages

Đại học miền Nam trước 1975: hồi tưởng và nhận định

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2011
Xin trân trọng giới thiệu một bài viết đặc sắc của Gs Lê Xuân Khoa về nền giáo dục đại học ở miền Nam trước 1975. Đây là bài viết sẽ xuất hiện trong Kỉ yếu Humboldt do Ts Nguyễn Xuân Xanh biên soạn. Giáo sư Lê Xuân Khoa là một "chứng nhân" của nền giáo dục đại học trước 1975, vì ông từng giữ những chức vụ quan trọng như giáo sư triết học phương Đông tại ĐH Văn khoa Sài Gòn, thứ trưởng Bộ Giáo dục (1965) và phó viện trưởng (như phó hiệu trưởng đại học ngày nay) của Viện Đại học Sài Gòn (1974-1975). Ông định cư ở Mĩ năm 1975, trở thành giáo sư thỉnh giảng tại trường Cao học Nghiên cứu Quốc tế thuộc Ðại học Johns Hopkins.  Nay thì ông đã nghỉ hưu. Tôi từng có cơ duyên gặp ông ở Mĩ. Đó là một người đàn anh rất đáng kính, dù ở xa nhà nhưng lúc nào cũng đau đáu nghĩ về quê nhà. Ông là tác giả cuốn sách "Việt Nam 1945-1995, Tập I" rất có giá trị, và tác giả của nhiều tiểu luận đáng chú ý. Ông còn có nhiều hoạt động cộng đồng và thiện nguyện trong cũng như ngoài nước. Mời các bạn theo dõi bài viết của ông và những nhận xét của tôi trong một chuyến về quê gần đây. NVT



Đại học miền Nam trước 1975
Hồi tưởng và Nhận định
Lê Xuân Khoa

Khi được một thành viên trong Ban chủ biên Kỷ yếu Humboldt 200, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Xanh, mời viết một bài về Đại học Miền Nam cho tập Kỷ yếu đánh dấu 200 năm Đại học Humboldt, tôi rất vui vì có cơ hội tham gia vào một công trình có ý nghĩa của một tập hợp trí thức trong và ngoài nước quan tâm đến sứ mệnh giáo dục Đại học ở Việt Nam. Tuy nhiên, tôi đã rất ngần ngại nhận lời, không chỉ vì tôi đã rời xa ngành giáo dục Việt Nam trên 35 năm mà còn lo ngại ký ức của tôi không còn nhớ nhiều về tổ chức và hoạch định chính sách cho nền giáo dục Đại học Miền Nam trước 1975. Quả thật, ngoài 15 năm giảng dạy một môn học rất xa thực tế là “Triết học Upanishad” và “Thiền học Việt Nam” ở Đại học Sài-gòn (sau này có dạy thêm “Văn minh Việt Nam” ở Đại học Đà-lạt,) tôi chỉ tham gia vào bộ phận điều hành ở Bộ Giáo dục, Viện Đại học Vạn Hạnh và Viện Đại học Sài-gòn trong những thời gian rất ngắn, từ năm tháng tới một năm. Tôi cũng ít có dịp hợp tác trực tiếp với những nhà lãnh đạo Đại học, trừ bốn người là cố Giáo sư Nguyễn Quang Trình (ĐH Sài-gòn), cố Linh mục Nguyễn Văn Lập (ĐH Đà-lạt), Thượng Tọa Thích Minh Châu (ĐH Vạn Hạnh) và cố Bác sĩ Nguyễn Ngọc Huy (ĐH Sài-gòn). Nhưng tôi đã được TS Nguyễn Xuân Xanh thuyết phục khi anh nhắc nhở rằng một bài viết về Đại học miền Nam của một “người trong cuộc”, dù ít dù nhiều cũng là điều không thể thiếu trong tập kỷ yếu Humboldt 200, trong đó có phần lịch sử Đại học Việt Nam từ thời cổ, triết lý và quá trình phát triển của nó trong 30 năm chiến tranh (1945-1975) và 35 năm sau thống nhất, đặc biệt là những vấn đề của hiện tại và nhu cầu “đổi mới để nhanh chóng vươn lên với thế giới”.

Vì đã có nhiều tác giả viết về lịch sử, triết lý và hệ thống tổ chức của nền giáo dục miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) từ Tiểu học tới Đại học, tôi thấy không cần thiết phải mô tả lại hệ thống giáo dục này. Tôi sẽ chỉ trình bày một số nhận xét và kinh nghiệm riêng của tôi về chính sách và điều kiện sinh hoạt Đại học trong khung cảnh chung của nền giáo dục ở miền Nam trước 1975, sau khi đã kiểm lại một số dữ kiện với hai bạn đồng nghiệp cũ là Giáo sư Nguyễn Thế Anh và Giáo sư Lê Thanh Minh Châu, cả hai đều từng giữ chức vụ Viện trưởng Viện Đại học Huế. Tuyệt nhiên đây không phải là một bài nghiên cứu hay luận thuyết mà chỉ là một bài ghi nhận  một số sự kiện đáng được lưu ý trong lịch sử ngắn ngủi 20 năm của nền giáo dục đại học ở miền Nam, từ ngày đất nước chia đôi đến ngày thống nhất. Do sự suy giảm của trí nhớ, tôi có thể đã bỏ sót hay không nhớ đích xác một số sự kiện diễn ra trên dưới 50 năm về trước.

Từ trung ương tập quyền đến tự trị đại học 

Nói đến giáo dục Đại học hiện đại không thể không nói đến quyền tự trị của Đại học. Đó là xu thế chung của đại học ở các nước dân chủ như một điều kiện sine qua non cho sự phát triển của con người và xã hội. Điều 10 trong Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1967 ghi rõ: “Nền giáo dục Đại học được tự trị”. Điều này phản ánh tinh thần khai phóng trong triết lý giáo dục miền Nam được xác định trong Đại hội giáo dục lần thứ nhất năm 1958, với ba nguyên tắc căn bản là “nhân bản, dân tộc, khai phóng”. Đại hội này được tổ chức với sự tham gia của đại diện giáo chức các cấp trên toàn quốc cùng một số trí thức độc lập bên cạnh các đại diện của Bộ Giáo dục. Mọi quyết định của hội nghị đều là kết quả của những cuộc thảo luận và biểu quyết hoàn toàn tự do không có bất cứ sự can thiệp nào của chính quyền. Tinh thần khai phóng ở Đại học được thể hiện rõ rệt nhất trong việc tiếp thu những kiến thức khoa học tiến bộ và những giá trị văn hóa nhân bản của thế giới nhằm hiện đại hóa đất nước và phát triển toàn diện con người. Điểm này sẽ được đề cập chi tiết hơn ở một đề mục dưới đây.

Thật ra cho đến năm 1975 Đại học miền Nam vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt tình trạng chuyển tiếp từ truyền thống trí thức hàn lâm của Đại học Pháp sang truyền thống thực dụng của Đại học Mỹ. Năm 1955, trước khi Pháp hoàn tất việc chuyển giao tất cả các cơ sở công quyền cho Việt Nam, hai nước đã ký kết một bản thỏa hiệp có hiệu lực mười năm về hợp tác và trao đổi văn hóa. Lý do là chính phủ Pháp muốn duy trì sự hiện diện và ảnh hưởng của văn hóa Pháp ở Việt Nam trong lâu dài, trong khi chính phủ mới ở miền Nam cũng cần phát triển giáo dục từ một nền tảng đã có sẵn, nhất là vì các nhà lãnh đạo chính quyền và trí thức đại học đều được đào tạo bởi nền giáo dục Pháp. Trong mười năm đó, chính phủ Pháp cấp học bổng cho nhiều giáo sư trung học sang Pháp tu nghiệp ngắn hạn hay tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ. Nhưng dần dần ảnh hưởng Pháp mờ nhạt đi kể từ khi Việt Nam bắt đầu gửi công chức và sinh viên sang Hoa Kỳ, Úc, Tân-Tây-Lan và các nước khác vào những năm cuối thập kỷ 1950.

Truyền thống giáo dục cổ điển của Đại học Pháp bắt nguồn từ bản Hiến Pháp năm 1791 (hai năm sau Cách Mạng 1789) xác định vai trò của quốc gia trong giáo dục, bảo đảm mọi công dân có cơ hội đồng đều về giáo dục ở mọi cấp và mọi ngành. Những nghị định năm 1806 và 1808 dưới thời Napoléon I đặt toàn thể hệ thống giáo dục từ tiểu học tới đại học dưới sự điều hành và kiểm soát của Bộ Quốc gia Giáo dục. Chính sách trung ương hóa nền giáo dục toàn quốc có mục đích kiện toàn nền thống nhất của quốc gia và tinh thần đoàn kết trong nhân dân Pháp. Định chế toàn quốc ấy đã tồn tại cho đến tận ngày nay, nhưng qua nhiều lần cải cách, chức phận điều hành và kiểm soát của Bộ Giáo dục đã được nới lỏng để con người được phát triển đầy đủ và tự do hơn. Đặc biệt ở cấp Đại học, sự kiểm soát không nhắm vào các hoạt động hàn lâm mà chú trọng đến sự hợp lệ trong các thủ tục điều hành ngân sách và nhân viên.

Chịu ảnh hưởng truyền thống cổ điển của Pháp, giáo dục đại học ở miền Nam không được tự trị về cả ba phương diện ngân sách, nhân viên và học vụ. Quả thật các Viện Đại học Sài-gòn, Huế, Cần Thơ, Đại học Bách Khoa Thủ Đức, các trường Cao đẳng và Đại học Cộng đồng của chính phủ đều được đặt dưới quyền điều hành của Bộ Giáo Dục. Các quyết định quan trọng như tuyển dụng hay thăng ngạch trật của giáo sư, mua sắm vật liệu hay chi phí xây dựng đều phải trình cho Bộ trưởng duyệt ký. Riêng chức vụ Viện trưởng là do Tổng thống bổ nhiệm, nhưng dưới thời Đệ nhị Cộng hoà thì việc bổ nhiệm Viện trưởng phải được Quốc hội thông qua sau một buổi điều trần về đường lối và tổ chức Đại học. Tiếp theo đó, Thủ tướng bổ nhiệm các Phó Viện trưởng theo đề nghị của Viện trưởng nhưng không cần phải thông qua Quốc hội. Chữ ký của Viện trưởng trên các văn bằng Đại học luôn luôn theo sau dòng chữ “Thừa ủy nhiệm Bộ trưởng Giáo dục”. Các khoản viện trợ từ bên ngoài cho phảt triển Đại học cũng phải qua ngân sách của Bộ Giáo dục ngoại trừ dưới hình thức hiện vật như sách vở, dụng cụ, máy móc, hay giáo sư thỉnh giảng (visiting professors) không do chính phủ Việt Nam trả lương. Nguồn viện trợ thường là các chương trình ngoại viện của các chính phủ Pháp, Mỹ, Úc, Tân-Tây-Lan . . . Về học vụ, mặc dù nội dung chương trình giảng dạy thuộc thẩm quyền của Đại học, việc tổ chức các phân khoa, thi cử và văn bằng cùng với mọi sáng kiến thay đổi hay dự án mới đều phải được sự chấp thuận của Bộ Giáo dục. Tóm lại, Bộ Giáo Dục giữ vai trò điều hợp tổng quát các đại học để thống nhất về mặt triết lý giáo dục, quản trị nhân viên và tài chánh (trừ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh huấn luyện công chức là trực thuộc phủ Tổng Thống).[1]

Công bằng mà nói thì truyền thống đại học của Pháp không hẳn là một di sản xấu khiến cho đại học Việt Nam bị yếu kém về phẩm chất, như nhận xét của hai tác giả Thomas Vallely và Ben Wilkinson trong bản phúc trình của Đại học Harvard năm 2009. Nhận xét này đã bị Giáo sư Tạ Văn Tài phản bác rất đúng khi ông trả lời cuộc phỏng vấn của Đài Á châu Tự do, nhấn mạnh rằng những giáo sư đại học Việt Nam do Pháp đào tạo đều là những trí thức ưu tú không thua kém gì những đồng nghiệp người Pháp hay ngoại quốc khác. Họ đã xây dựng vững chắc nền đại học miền Nam từ 1954 và hầu hết sinh viên của họ khi ra nước ngoài đi làm hay học lấy bằng cấp cao hơn cũng đều là những nhân tài xuất sắc.[2] Có bậc thày không chỉ có công đào tạo ít nhất là hai thế hệ sinh viên mà còn là tấm gương sáng về đạo đức nghề nghiệp. Chẳng hạn, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, người có công gây dựng Đại học Văn Khoa từ những ngày đầu ở Hà Nội vào năm 1949-1950; bên Y khoa không mấy ai không biết đến Giáo sư Phạm Biểu Tâm là một vị thày thuốc điển hình của truyền thống Hippocrate.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm đang tiếp chuyện với sinh viên Y khoa về việc ông bị bắt trong biến cố 1963

Ở miền Nam, khi ghi trong Hiến pháp năm 1967 là “Nền giáo dục Đại học được tự trị,” các nhà làm chính sách giáo dục đã xác nhận sự cần thiết phải hội nhập với thế giới dân chủ, nhất là theo mô hình của Mỹ. Nhưng việc trao cho đại học quyền tự trị, nhất là về quản trị nhân viên và sử dụng ngân sách, từ những định chế lâu đời như Bộ Giáo dục, Tổng Nha Công vụ và Tổng Nha Ngân sách đòi hỏi những sự thay đổi hay điều chỉnh thích hợp về luật lệ và thủ tục, do đó cần phải có thời gian thực hiện theo một tiến trình chuyển tiếp.
Trụ sở Viện Đại Học Sài Gòn cạnh bên Hồ con rùa (góc đường Duy Tân - Trần Quý Cáp). Trước 1975, các trường ĐH công lập như Luật khoa, Văn khoa, Kiến trúc, Dược khoa và Y khoa v.v... đều là các Phân khoa thuộc Viện ĐH Sài Gòn. (Hình ảnh và ghi chú trích từ "flickrer" manhhai)

Dù sao trong tiến trình tự trị hóa, Đại học miền Nam đã được hưởng nhiều ưu đãi. Các đề nghị của Hội đồng đại học về nhân viên hay ngân sách thường được chính phủ chấp thuận mau chóng ngoại trừ những quyết định thật quan trọng. Do sự tín nhiệm sẵn có đối với lãnh đạo đại học, sự chấp thuận của chính phủ được căn cứ vào sự hợp lệ về hành chánh và khả năng ngân sách hơn là xét về nhu cầu và giá trị của đề nghị. Về mặt học vụ, sự chấp thuận của Bộ Giáo dục lại càng có tính hình thức hơn nữa vì không khi nào Bộ ra chỉ thị hay can thiệp vào việc ấn định nội dung các môn học, thể lệ thi cử và chấm thi, các công tác nghiên cứu và giảng dạy, miễn là không trái ngược với ba nguyên tắc căn bản là nhân bản, dân tộc và khai phóng. Chính sách uyển chuyển này đối với lãnh đạo đại học đưa đến thái độ mặc nhiên chấp thuận cho đại học thử nghiệm sáng kiến mới để rốt cuộc chính thức công nhận kết quả của thử nghiệm. Một thí dụ: khoảng giữa năm 1965, tôi được biệt phái từ Đại học Văn khoa Sài-gòn sang Viện Đại học Vạn Hạnh trong một năm để giúp tổ chức và soạn thảo chương trình cử nhân cho Phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn.  Sau khi hội ý với Thượng Tọa Viện trưởng Thích Minh Châu và được sự đồng ý của Thượng Tọa, tôi bắt đầu soạn thảo các môn học theo hệ thống tín chỉ (credits) thay thế cho các chứng chỉ cử nhân nhưng vẫn duy trì chế độ niên khóa. Tôi trở về Đại học Sài-gòn khi xong công việc và được biết dự án cải cách dung hòa cũ-mới này sau đó được Hội đồng Viện hoàn chỉnh và lần lượt áp dụng vào các Phân khoa khác. Điều đáng chú ý là khi Viện ĐH Vạn Hạnh trình dự án này lên Bộ Giáo dục xin ý kiến, Bộ không chính thức chấp thuận hay bác bỏ, nhưng các văn bằng cử nhân của Đại học Vạn Hạnh đều được Bộ công nhận. Những buổi lễ phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên luôn luôn có sự hiện diện của Bộ trưởng Giáo dục. Từ đầu thập kỷ 1970, hệ thống tín chỉ chính thức được áp dụng ở các Đại học Cộng đồng và Đại học Bách khoa Thủ đức của chính phủ.

http://www.nguyenhuynhmai.com/images/upload/Article/2009/8/14/633858072758210000.gif
Một buổi lễ tốt nghiệp của Viện Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975. Trong ảnh Viện trưởng, HT Thích Minh Châu đang đọc thuyết văn

Sự nảy nở các đại học cộng đồng (hay đại học sơ cấp hai năm) từ 1971 đáp ứng nhu cầu thực tế về nhân lực của địa phương và thể hiện tinh thần dân chủ vì có sự tham gia trực tiếp về tài chính và quản lý của địa phương đó. Sự thành lập Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1973 được phỏng theo mô hình California Polytechnic State University đích thực là một đại học đa khoa, không chỉ gồm những phân khoa thiên về nghiên cứu mà bao gồm cả các ngành thực tiễn như nông nghiệp, kỹ thuật cơ khí, điện tử . . . là những ngành cần thiết cho nền kinh tế tại Đô thành và các tỉnh lân cận. Một đặc điểm trong chương trình đại học cộng đồng hồi đó là chương trình giáo dục bổ túc dành cho những sinh viên do hoàn cảnh chiến tranh nên thiếu căn bản vững chắc để theo các lớp đại học. Chương trình này cũng nhắm vào những quân nhân giải ngũ, nhất là khi đất nước hòa bình, cần được cập nhật và bổ túc kiến thức sau một thời gian bị gián đoạn việc học. Như vậy, việc cải cách giáo dục đại học theo xu hướng thực dụng và dân chủ hóa đã thật sự bắt đầu từ năm 1971.

Tự do học thuật và phát triển con người

Mặc dù một phái đoàn của Đại học Michigan đã đến Sài-gòn từ năm 1954 để giúp cải tổ chương trình đào tạo cán bộ ở Học viện Quốc gia Hành chánh, ảnh hưởng giáo dục đại học Mỹ chỉ bắt đầu ba bốn năm sau và đến những năm đầu thập kỷ 1970 mới có sự tăng tốc trong tiến trình đổi mới, với sự nâng cấp một số trường Cao đẳng Chuyên nghiệp, sự ra đời của một loạt Đại học Cộng đồng và của trường Đại học Bách Khoa Thủ Đức. Thế hệ trí thức theo truyền thống cũ của Pháp cũng ý thức được nhu cầu đổi mới và lợi ích của tự trị đại học trong công cuộc phát triển xứ sở nên cũng sẵn sàng chuyển hướng theo triết lý giáo dục của Mỹ. Tuy nhiên, mọi nỗ lực dân chủ hóa và thực tiễn hóa giáo dục đại học không có đủ thời gian thành tựu khi chế độ Cộng Hòa ở miền Nam sụp đổ năm 1975.

Tự trị học vụ trong qui chế tự trị đại học thường bị lẫn lộn với một chức năng liên hệ là tự do nghiên cứu và giảng dạy nay đã trở thành một truyền thống đại học ở các nước dân chủ. Đến đây, cần phải nhắc đến triết lý giáo dục của Đại học Humboldt nhấn mạnh vào sứ mệnh của trí thức đại học là phát triển toàn diện con người bằng khoa học và văn hóa, và điều kiện của phát triển là tự do nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy. Phát triển con người bằng khoa học là tinh thần khai phóng, phát triển con người bằng văn hóa là tinh thần nhân bản. Đó là hai nguyên tắc chính yếu đã được đưa vào triết lý giáo dục các cấp ở miền Nam cùng với nguyên tắc thứ ba là tinh thần dân tộc, theo thứ tự “nhân bản, dân tộc, khai phóng,” phù hợp với nhu cầu và sứ mệnh của một quốc gia đang mở mang muốn vươn lên và hội nhập thành công trong cộng đồng thế giới.

Giáo dục nhân bản lấy con người làm cứu cánh nên chú trọng vào việc xây dựng đạo làm người, phát triển mầm mống tốt ở con người, phục vụ nhân sinh để tiến đến một xã hội hoàn thiện, đúng như đã được định nghĩa trong sách Đại học của Nho giáo (Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện). Đạo Nho có những giáo điều phong kiến lỗi thời nhưng những nguyên tố để đào tạo mẫu người lý tưởng như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đều có giá trị phổ quát và vĩnh viễn. Người “quân tử” hay “kẻ sĩ” thời phong kiến khác với người “trí thức” thời dân chủ về trách nhiệm cụ thể, nhưng hoàn toàn giống nhau về tư cách đạo đức và tinh thần trách nhiệm. Giáo dục dân tộc nhằm bồi dưỡng tinh thần hiếu hòa nhưng nhiệt tình yêu nước của giống nòi Hồng Lạc qua hơn hai nghìn năm lịch sử, bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Tinh thần dân tộc được thể hiện ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba 1945 và trao trả độc lập cho chính quyền Bảo Đại/Trần Trọng Kim: nền giáo dục Việt Nam lập tức được Việt hóa với chương trình Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Giáo dục khai phóng tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ thuật và tinh hoa văn hóa của các nước Tây phương một cách không định kiến. Rút kinh nghiệm mất nước vì chính sách tự cô lập với thế giới của vua chúa nhà Nguyễn, giáo dục khai phóng cũng du nhập những tư tưởng mới về triết học và chính trị, chuẩn bị cho học sinh sau khi tốt nghiệp tiểu học hay trung học có điều kiện trở thành những công dân hữu ích cho xã hội.

Tinh thần khai phóng được thể hiện đầy đủ nhất ở Đại học qua sự thành lập các trường đại học mới, bổ sung tính chất nghiên cứu hàn lâm bằng khuynh hướng thực dụng để gia tăng khả năng phát triển kinh tế và công nghệ hóa miền Nam. Trong hai năm đầu, miền Nam mở thêm hai đại học, một công là Đại học Huế và một tư là Đại học Đà-lạt, cùng thành lập trong năm 1957; từ 1964 đến 1972 có thêm một đại học công là Đại học Cần Thơ (1966) và năm đại học tư là ĐH Vạn Hạnh (1964), ĐH Phương Nam (1967), ĐH Hòa Hảo (1970), ĐH Cao Đài (1971) và ĐH Minh Đức (1972). Sự gia tăng con số đại học tư—tổng cộng sáu đại học tư đều do bốn tôn giáo chính ở Việt Nam thành lập—cho thấy một đặc tính dân chủ ở miền Nam, mặc dù sự phát triển tự do này có vẻ biểu hiện nhu cầu xác lập vai trò và ảnh hưởng của mỗi tôn giáo trong xã hội hơn là nhu cầu thật sự về giáo dục đại học. Một đặc điểm khác của tinh thần khai phóng là quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy của các giáo sư. Các chứng chỉ, văn bằng và các môn học vẫn phải được Bộ Giáo dục duyệt y, nhưng nội dung các môn học và phương pháp giảng dạy đều do mỗi giáo sư tự ý quyết định.

Đáng tiếc là do tình hình chiến tranh, các hoạt động tự do học thuật này không phát triển được đến mức độ cao như mong đợi. Quả thật các giáo sư Đại học miền Nam được tự do nghiên cứu và giảng dạy, nhưng họ lại thiếu điều kiện để phát huy khả năng của họ. Trước hết là sự thừa kế truyền thống đại học cũ của Pháp từ thời Đại học Đông Dương. Trong những năm đầu chuyển tiếp từ 1954, Đại học Sài-gòn còn giảng dạy bằng tiếng Pháp ở các Phân khoa, trừ trường Văn Khoa, Cao đẳng Sư Phạm. (Ở trường Luật, nhờ những nỗ lực đặc biệt của GS Khoa trưởng Vũ Quốc Thúc và các đồng nghiệp của ông như Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Cao Hách, việc giảng dạy bằng tiếng Việt đã thực hiện được từ niên khóa 1955-56.)[3] Ngay cả khi đã hoàn toàn Việt hóa, Đại học miền Nam vẫn theo mô hình cũ của Pháp về tổ chức học theo năm và thói quen giảng bài hay phát bài cho sinh viên học thuộc lòng, trừ một số bộ môn khoa học như Toán và Vật lý. Giáo sư ít có những công trình nghiên cứu riêng, giữ nguyên bài giảng hàng năm hoặc chỉ thêm bớt đôi chút, không hoặc ít hướng dẫn cho sinh viên đọc sách tham khảo và thảo luận trong lớp học. Điểm bài thi cuối năm cao hay thấp phần lớn là tùy theo mức độ thuộc bài của sinh viên. Cho đến những năm cuối thập kỷ 1960, truyền thống cũ mới bắt đầu được thay đổi do sự trở về nước của một số giáo sư sau thời gian du học hay tu nghiệp ở những quốc gia ngoài hệ thống của Pháp như Anh, Đức, Úc, Tân-Tây-Lan, Nhật và Hoa Kỳ. Thật vậy, số người đậu tiến sĩ ở những nước này về Việt Nam dạy học gia tăng từ những năm giữa thập kỷ 1960, nhưng trách nhiệm lãnh đạo về học vụ vẫn ở trong tay thế hệ chịu ảnh hưởng của Pháp, vừa có thâm niên vừa chiếm đa số. Hệ thống giáo dục Đại học vì thế vẫn còn khá bảo thủ. Sự kéo dài tình trạng chuyển tiếp được thấy rõ ở Đại học Y khoa vào những năm cuối cùng: thành phần giảng huấn gồm các giáo sư Việt, Pháp và Mỹ, nhưng một số giáo sư người Việt khi giảng dạy vẫn pha lẫn tiếng Pháp và các bài giảng được viết bằng Pháp văn, đem đánh máy và in ronéo cho sinh viên học thuộc lòng để làm bài thi cuối năm.

Tập tin:SaigonUniversityCollegeofPedagogy.jpg
Trường Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn

Trong thời gian chuyển đổi từ ảnh hưởng của Pháp sang ảnh hưởng của Mỹ, một số giáo sư do Pháp đào tạo được đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ và khi về nước đã cập nhật kiến thức và phương pháp mới vào việc giảng dạy. Mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng mới và cũ tan biến mau chóng ngay cả ở Y, Dược khoa và sinh viên rất thích thú được hướng dẫn tra cứu thêm những sách báo y học và khoa học của Mỹ. Bên Luật khoa, các giáo sư trẻ mới du học về đưa ngay vào học trình một số môn mới trong hệ thống đại học Mỹ như kinh toán học, thống kê, phương pháp các khoa học xã hội, chính trị, bang giao quốc tế. Từ nay, thay vì chỉ ghi chép bài giảng của thày và học thuộc lòng để cuối năm sẽ viết ra y hệt (cours magistral), sinh viên đã có dịp áp dụng các phương pháp  tự tìm kiếm tài liệu nghiên cứu, do đó tập được thói quen tự học suốt đời, và có dịp tranh luận  trong lớp để huấn luyện óc phê bình, sáng tạo. Bên Văn Khoa thì bất kể là giáo sư xuất thân từ đại học Pháp hay Mỹ, đều “trăm hoa đua nở”, tự do giới thiệu và phê bình các hệ tư tưởng triết học, các khuynh hướng văn học, nghệ thuật, tức là rất sát với trào lưu quốc tế. Thí dụ, hồi đó triết học hiện sinh  (existentialisme) của Kierkegaard, Heidegger, Sartre và Merleau-Ponty được thảo luận sôi nổi nhất, và những tiểu thuyết hiện sinh của Albert Camus hay Simone de Beauvoir là những tác phẩm thời thượng.  Lại có giáo sư không ngần ngại lập ra trường phái mới như Giáo sư Linh mục Kim Định viết cả ngàn trang sách về tư tưởng “Việt Nho”. Các giáo sư trong Tạp chí Đại học thì nghiên cứu và phê phán không thiếu vấn đề gì, từ triết học, văn học đến chính trị. `Đại học Văn Khoa còn có một sồ giáo sư là Thượng Tọa và Linh Mục, như TT Thích Mãn Giác, TT Thích Quảng Liên, LM Trần Thái Đỉnh, LM Hoàng Sĩ Quý. Nói chung, dù xuất thân từ bất cứ đại học nào và thuộc khuynh hướng nào, các giáo sư văn khoa và các ngành khoa học nhân văn đều áp dụng phương châm giáo dục của Kant là “không chỉ giảng dạy cho sinh viên các tư tưởng mà dạy cho họ biết tư tưởng.”

Một câu chuyện đáng ghi nhớ về tự do tư tưởng của trí thức Đại học miền Nam là vào năm 1965, ngay sau khi chính phủ quân nhân cầm đầu bởi Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ được thành lập. Khi đó, Giáo sư Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, giao trách nhiệm đọc bài khai giảng niên khóa toàn trường cho Giáo sư Tạ Văn Tài, một trí thức trẻ mới ở Mỹ về,  xác nhận rằng ông có quyền tự do phát biểu. Giáo sư Tài đã trình bày tóm lược bản luận án tiến sĩ của ông ở Mỹ về vai trò của quân đội tại các nước Đông Nam Á, phân tích ưu khuyết điểm của chế độ quân nhân ở những nước láng giềng như Thái Lan, Miến Điện, Indonesia, nhấn mạnh đến quyết định sáng suốt của một số chính quyền quân đội đã mau mắn trao trả quyền lực cho nhân dân qua bầu cử, tránh được những cuộc đấu tranh chính trị gây đau thương chia rẽ trong cộng đồng dân tộc và kìm hãm sự phát triển của đất nước. Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ cử Đại tá Dương Hồng Tuân đến tham dự và lấy bài giảng về làm tờ trình cho Hội Đồng Quân Lực. Sau đó, Tổng Thư ký Hội đồng Quân lực là Trung tướng Phạm Xuân Chiểu nhận trách nhiệm nghiên cứu bản luận án của Giáo sư Tài nhưng không thấy công bố kết quả hay phản ứng của Hội Đồng Quân Lực như thế nào.

Ngoài truyền thống bảo thủ của Pháp, một lý do quan trọng khác làm chậm sự phát triển đại học là tình hình kinh tế thời chiến và nạn thiếu giáo sư so với tỉ lệ gia tăng của sinh viên và số đại học được mở thêm khiến nhiều giáo sư phải nhận dạy ở nhiều trường, có khi còn kiêm nhiệm chức vụ khác nữa. Mỗi lần đi dạy xa như từ Sài-gòn ra Huế hay Đà-lạt hay Cần Thơ, giáo sư cần phải ở lại địa phương trung bình hai, ba ngày. Công việc nghiên cứu chuyên môn lại càng bị hạn chế, sáng kiến và phương pháp giảng dạy mới cũng không được phổ biến khi những người có hiểu biết và đầu óc đổi mới lại chính là những người được giao phó thêm chức vụ mà công việc hàng ngày thường chiếm nhiều thì giờ hơn là dạy học. Riêng cá nhân tôi, trước khi được bổ nhiệm Phó Viện trưởng Đại học Sài-gòn đặc trách nghiên cứu và phát triển năm 1974, tôi đã kiêm nhiệm hai chức vụ trong khu vực tư là Giám đốc Nhà Xuất bản Hiện Đại do Hội Việt-Mỹ bảo trợ và Phó Tổng Giám đốc của Mandarin Garment Co., một công ty hợp tác đầu tư Việt Nam-Hong Kong-Tây Đức, trong khi vẫn giảng dạy ở Đại học Văn Khoa. Dự án cải cách và phát triển Đại học Sài-gòn của tôi bị đình trệ vì phải huy động giáo sư và sinh viên tham gia công tác cứu trợ khẩn cấp đồng bào di tản vì chiến tranh từ các tỉnh miền Trung.

Nhà Xuất bản Hiện Đại là một dự án văn hóa có những đóng góp không nhỏ cho những hoạt động tự do, khai phóng của Đại học. Vì sự gia tăng cường độ của chiến tranh, công cuộc phát triển Đại học gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc gửi sinh viên đi du học nước ngoài. Bộ Giáo dục và Viện Đại học đã phải mời một số giáo sư ngoại quốc tới giảng dạy nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu. Khi làm Đổng lý Văn phòng tại Bộ Văn hóa Giáo dục năm 1965, tôi đã có dự án du nhập trí tuệ bằng việc mời giáo sư nước ngoài và dịch sách nghiên cứu để giải quyết nạn thiếu giáo sư và mở rộng kiến thức của sinh viên. Khi nói chuyện với các cơ quan viện trợ văn hóa nước ngoài, khẩu hiệu “We want to bring the brain in” của tôi có sức thuyết phục nhưng chưa kịp làm được gì thì chính quyền dân sự Phan Huy Quát đã phải ra đi. Năm 1971, cùng với sự nở rộ của các đại học tư và đại học cộng đồng kiểu Mỹ, tôi có cơ hội quan hệ với Hội đồng Quản trị Hội Việt-Mỹ và đề nghị chương trình dịch tài liệu giáo khoa của Mỹ cho giáo sư và sinh viên đại học Việt Nam bên cạnh chương trình phổ biến kiến thức phổ thông về văn học, khoa học và nghệ thuật mà Hội Việt-Mỹ đang thực hiện. Dự án được chấp thuận, Hội Việt-Mỹ phụ trách điều đình với các nhà xuất bản ở Mỹ về quyền được dịch sách và NXB Hiện Đại ra đời với sự hợp tác của nhiều giáo sư và học giả có uy tín cho đến những ngày cuối tháng Tư 1975.

Trong bốn năm hoạt động, NXB Hiện Đại đã hoàn thành được 45 tác phẩm trong đó 30 cuốn là sách nghiên cứu về kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật. Điển hình là : Căn bản Chính trị của Phát triển Kinh tế của Robert T. Holt và John E. Turner, Vũ Quốc Thúc dịch; Sự Biến đổi của Quốc tế Công pháp của W. Friedman, Tạ Văn Tài dịch; Chính trị và Bang giao Quốc tế của Hans J. Morgenthau, một nhóm chuyên viên dịch, Nguyễn Mạnh Hùng chủ biên; Thế Quân bình Thế giới và Tương lai của Á châu của Robert Scalapino và William Griffith, Phạm Thiên Hùng dịch; Á châu và các Đại cường của Robert A. Scalapino, Nhóm Toàn Hưng dịch; Văn minh Dân chủ của Leslie Lipson, Vũ Trọng Cảnh dịch; Nguyên tắc Quản trị: Phân tích các Chức vụ Quản trị của Harold Koontz và Cyril O’Donnell, Trần Lương Ngọc và Cung Thúc Tiến dịch; Xã hội học của Joseph Fichter, Trần Văn Đĩnh dịch; Khía cạnh Kinh tế của Phát triển Nông nghiệp của John W. Mellor, Nguyễn Đăng Hải dịch; Năng lượng và Thế giới Ngày mai của Hal Hellman, Ngô Đình Long dịch; Ký giả Chuyên nghiệp của John Hohenberg, Lê Thái Bằng và Lê Đình Điểu dịch. Đáng chú ý là bộ Kinh tế học của Paul Samuelson, người được giải Nobel Kinh tế năm 1970, Cung Thúc Tiến, Nguyễn Minh Hải và Trần Lương Ngọc dịch, Nguyễn Cao Hách hiệu đính, mới in xong tập I (700 trang) khoảng giữa tháng Tư 1975, chưa kịp bán. Năm 1990, khi tôi và phái đoàn SEARAC gặp cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ở New York để vận động việc định cư cựu tù nhân cải tạo ở Mỹ, nhân dịp đề cập đến kế họach đổi mới của Nhà nước, ông Thạch báo tin vui là bộ sách của Samuelson đang được dịch sang tiếng Việt. Tôi kể lại chuyện năm 1975 NXB Hiện Đại để lại hai nghìn bản dịch cuốn sách này còn thơm mùi giấy mới và nói thêm: “Chắc lúc đó các anh đã cho đốt hết rồi.”  Ông Thạch trả lời bằng một nụ cuời xòa.
Ngoài chương trình dịch sách của các tác giả người Mỹ, NXB Hiện Đại cũng xuất bản sách dịch từ Pháp văn và sách viết bằng tiếng Việt của tác giả người Việt. Cuốn sách tiếng Pháp làm sôi nổi dư luận thế giới hồi đó là cuốn Ni Marx, Ni Jesus của triết gia Pháp nổi tiếng Jean-François Revel được Nguyễn Khắc Nhân dịch sang tiếng Việt là Không theo Marx, không theo Jesus. Ba cuốn sách viết bằng tiếng Việt do Hiện Đại xuất bản là Từ điển Quản trị và Hành chánh của Bùi Quang Khánh và Vũ Quốc Thông, William Faulkner: Cuộc đời và Tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ và Nguyễn Văn Nha, và Đặc khảo về Dân nhạc ở Việt Nam của Phạm Duy.

Tại mỗi phân khoa đại học, các giáo sư cũng đưa những công trình nghiên cứu chuyên môn của mình vào những ấn phẩm của phân khoa, như Y Dược có tạp chí Acta Medica Vietnamica, trường Luật có Luật học Kinh tế Tạp chí, Học Viện Quốc gia Hành chánh có Tập san Nghiên cứu Hành chánh, Văn Khoa Sài-gòn có tập san Nghiên cứu Sử Địa, Đại học Huế có tạp chí Đại Học do một nhóm giáo sư phụ trách với sự hợp tác của nhiều giáo sư ở Sài-gòn. Về bên Khoa học, tôi chỉ nhớ có cuốn sách nổi tiếng được ngoại quốc biết đến nhiều là cuốn Cây Cỏ Miền Nam của GS Phạm Hoàng Hộ. Tôi không thể kể ra hết danh tính của những giáo sư đã có công đóng góp vào sự nghiệp phát triển đại học miền Nam, nhưng có thể khẳng định một cách tổng quát là những người trong ban giảng huấn đại học ở mọi cấp bậc đều được đào tạo theo hệ chính quy, trong nước hay ngoại quốc, có khả năng và tư cách nghề nghiệp xứng đáng được tôn trọng. Họ là một lực lượng trí thức Tây học đông đảo chưa từng có trong lịch sử đất nước, có đầy đủ tinh thần và phẩm chất của người trí thức ở các nước phát triển, không thua kém về trình độ so với các nước trong khu vực, có tư duy độc lập, có thái độ rất dấn thân và tâm huyết cho sự nghiệp phát triển nước nhà. Nếu có điều kiện tiếp tục phát triển hoà bình, chắc chắn họ sẽ tạo nên sự thăng hoa cho đất nước, như giới trí thức, khoa học gia đã từng làm cho nước Đức thế kỷ 19.

Ngoài sự nghiệp giáo dục đào tạo, giới trí thức đại học hồi đó cũng thấy rõ nhu cầu phát triển xã hội trong thời chiến đồng thời với công cuộc chuẩn bị tái thiết đất nước trong thời bình. Bởi vậy mặc dù ít thì giờ cho những công trình nghiên cứu lâu dài, một số trí thức vẫn đóng góp ý kiến với những nhà làm chính sách bằng những bài luận thuyết về những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trí thức đại học chưa nghĩ đến việc thành lập “think tank” như ở Mỹ nhưng đã tụ họp với nhau trên các diễn đàn độc lập có những tiếng nói đáng kể như tạp chí Quê Hương do GS Nguyễn Cao Hách và đồng sự chủ trương, Văn Hóa Á châu (thêm ấn bản tiếng Anh Asian Culture) của Hội Nghiên cứu Liên lạc Văn hóa Á châu, Thế kỷ Hai mươi do GS Nguyễn Khắc Hoạch chủ nhiệm, và Phát triển Xã hội (thêm ấn bản tiếng Anh Social Development) do tôi và một số đồng nghiệp phụ trách. Ngay cả những tạp chí của chính quyền như Pháp lý Tập san của Bộ Tư pháp, Tập san Quốc phòng của Bộ Quốc Phòng cũng có sự tham gia của nhiều giáo sư đại học và trí thức độc lập. Cũng cần nhắc đến bản Phúc trình Thúc-Lilienthal của “Nhóm Nghiên cứu Kế hoạch Hậu chiến” là kết quả hợp tác giữa trí thức đại học Việt Nam và các chuyên gia về chính sách của Hoa Kỳ.

Kết luận

Đại học miền Nam chỉ tồn tại có hai mươi năm trong đó mười năm đầu còn chịu ảnh hưởng Pháp khá sâu đậm do thỏa hiệp hợp tác văn hóa Việt-Pháp năm 1955. Chỉ từ 1965 Đại học miền Nam mới có cơ hội tiếp cận với tinh thần thực dụng và chế độ tự trị đại học của Mỹ và tìm cách áp dụng vào hệ thống đại học Việt Nam. Tuy nhiên, ngay từ những năm còn theo truyền thống cũ của Pháp, Đại học miền Nam đã được hưởng nhiều sự dễ dãi của Bộ Giáo dục về các thủ tục hành chánh, tài chánh, nhất là về học vụ. Các giáo sư được tự do nghiên cứu và giảng dạy mặc dù còn thiếu nhiều điều kiện giúp cho việc phát triển tiềm năng. Mười năm sau (1965-1975) vẫn được coi như thời kỳ chuyển tiếp vì khuynh hướng thực dụng và những thay đổi theo mô hình đại học Mỹ chỉ có cơ hội nảy nở từ những năm đầu thập kỷ 1970.

Sự gia tăng cường độ của chiến tranh kéo theo tình trạng bất ổn về xã hội và khó khăn về kinh tế đã hạn chế rất nhiều khả năng nghiên cứu, cập nhật kiến thức và phương pháp giảng dạy của các giáo sư. Nhiều người đậu tiến sĩ ở ngoại quốc chưa muốn trở về nước giảng dạy vì bất mãn với chính quyền miền Nam. Nạn thiếu giáo sư càng trầm trọng trước sự gia tăng số sinh viên và số truờng đại học mới mở khiến cho những giáo sư giỏi phải đi dạy ở nhiều trường hoặc đảm nhận thêm công việc khác. Trong những điều kiện hạn chế và khó khăn như thế, Đại học Việt Nam vẫn cố gắng phát triển, nâng cấp những trường cao đẳng chuyên nghiệp, mở thêm các đại học cộng đồng và đại học bách khoa, áp dụng hệ thống tín chỉ . . . Môi trường đại học đích thực là một môi trường tự do của hoạt động trí thức. Nhiều giáo sư, dù bận dạy nhiều trường hay có việc làm thêm, vẫn cố gắng đóng góp ý kiến qua những diễn đàn trí thức về những vấn đề quan tâm chung. Tiếc rằng vào thời điểm những năm đầu thập kỷ 1970, chưa có ai nghĩ đến việc thành lập “think tank” để tư vấn cho những nhà làm chính sách, có lẽ khái niệm về những cơ quan nghiên cứu tư vấn kiểu Mỹ này còn khá xa lạ đối với Việt Nam.

Tôi không muốn so sánh Đại học miền Nam trong 20 năm chiến tranh trước 1975 với nền Đại học Việt Nam hiện nay, sau 35 năm đất nước hòa bình và thống nhất. Nhưng tôi thành thật nghĩ rằng nếu hiệp định Paris 1973 giữa bốn phe tham chiến được thi hành nghiêm chỉnh, thực hiện những đìều khoản đã thỏa thuận về “hòa giải và hòa hợp dân tộc” (chương IV, điều 10, 11 và 12)[4] thì miền Nam Việt Nam dưới một chính quyền mới sau cuộc tổng tuyển cử đã có triển vọng giàu mạnh không thua kém Nam Hàn, và Đại học miền Nam cũng đã đạt được “đẳng cấp quốc tế.” Kết quả này cũng chắc chắn đã diễn ra, dù chậm trễ hơn nhiều năm sau khi đất nước thống nhất, nếu đường lối đổỉ mới thật sự của những nhà lãnh đạo có tầm nhìn như Nguyễn Cơ Thạch hay Võ Văn Kiệt không bị trở ngại trên bước đường thực hiện.

Cũng may là ở Việt Nam ngày nay vẫn còn có những trí thức không quên theo đuổi lý tưởng của người làm thày cao hơn người làm quan (tiến vi quan, đạt vi sư), nhất là không quên sứ mạng “lương sư hưng quốc”. Họ đã không ngừng tuyên dương và cố gắng phát huy truyền thống đại học Humboldt, trong đó tự do nghiên cứu và giảng dạy là điều kiện thiết yếu để đào tạo con người và phát triển xã hội. Các nhà lãnh đạo Nhà nước cũng đã nhấn mạnh đến sự cần thiết xây dựng đại học “đẳng cấp quốc tế”, đang tiếp cận với các nền giáo dục phát triển phương Tây, đặc biệt nền giáo dục đại học Hoa Kỳ, nhưng đến bao giờ thì mới thật sự tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này? Thời gian không chờ đợi trên vũ đài thế giới.
Irvine, California
Tháng Mười, 2010

Tham khảo

  1. Wikipedia, tiếng Việt, “Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa”.
  2. Nguyễn Hữu Phước, Contemporary Educational Philosophies in Vietnam,1954-1974, luận án tiến sĩ tại University of Southern California, 1974.
Đỗ Bá Khê, “Phát triển Đại học miền Nam trước 1975”, trang 152-157, trong Giáo dục ở miền Nam tự do trước 1975 , Nguyễn Thanh Liêm chủ biên, Lê Văn Duyệt Foundation  xuất bản, Santa Ana, California, 2006.


[1] Điều này khác với mô hình các đại học ở Liên Xô mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã áp dụng cho đến những năm gần đây: Đại học ngành nào thuộc Bộ ngành đó, thí dụ Y khoa thuộc Bộ Y tế, Luật khoa thuộc Bộ Tư pháp. Từ 1994 các khoa mới được tập trung thành Đại học Quốc gia. Sau 30.4.1975, trường Luật và trường Quốc gia Hành chánh bị bãi bỏ, nhưng dưới thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt thì được tái lập, có lẽ vì chính quyền mới đã nhận ra vai trò đóng góp vào nền pháp trị của trường Luật ở miền Nam. Trong khi đó, kiến thức và kinh nghiệm của ban giảng huấn Học viện Quốc gia Hành chánh cũng cần thiết cho việc cải tổ hành chánh. Một số giáo sư chế độ cũ được mời giảng dạy và làm tư vấn về hành chánh cho Thủ tướng.
[2] Đài Á châu Tự do phỏng vấn GS Tạ Văn Tài ngày 19.10.2009, đăng lại trong Đặc San Luật Khoa 2010 của Câu Lạc Bộ Luật Khoa Việt Nam, Houston, Texas.
[3] Về điểm này, phải kể đến sự đóng góp quan trọng của GS Vũ Văn Mẫu, soạn giả tập Từ Điển Pháp-Việt: Pháp, Chính, Kinh, Tài, Xã Hội.
[4] Thí dụ: Chương IV, Điều 11 ghi rằng: “Ngay sau khi ngưng chiến, hai bên miền Nam sẽ: (1) thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, chấm dứt hận thù, cấm đoán mọi hành động trả thù và kỳ thị đối với các cá nhân và đoàn thể đã hợp tác với bên này hay bên kia; (2) bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm việc, quyền tư hữu, và quyền tự do kinh doanh.”
(Các hình ảnh trong bài viết là do tôi đưa thêm để minh họa. NVT)
Read more ...

Tử vi, số mệnh, tâm lí và gen

Thứ Tư, 9 tháng 2, 2011
http://phanquoctuanqa1.violet.vn/uploads/resources/blog/1280/tu_vi.jpgTiếp tục đọc báo Tết, xin giới thiệu một bài viết khác của tôi trên Kinh tế Sài Gòn. Bài này bàn về mối liên quan giữa tử vi, số mệnh, và ... gene. Hơi mạo hiểm một chút, nhưng mục đích vẫn là vui ba ngày Tết. NVT


Theo Kinh Dịch, vũ trụ khởi đầu là một khối thống nhất gọi là thái cực; thái cực biến hóa sinh ra lưỡng nghi là âm và dương. Âm và dương kết hợp sinh ra năm loại vật chất (còn gọi là ngũ hành): kim (kim loại), mộc (gỗ), thủy (nước), hỏa (lửa), và thổ (đất). Mỗi năm có liên hệ đến một trong năm thứ vật chất. Ví dụ, người sinh năm 1942 hay 1973 có mạng mộc, hay những người sinh năm 1956 hay 1986 có mạng hỏa. Một phần lớn của số mệnh chịu sự ảnh hưởng bởi năm sinh. Vì thế, theo tử vi, những thành công, thất bại trong đời sống, thậm chí tử vong, của cá nhân đó đã được định đoạt ngay từ lúc mới ra đời.

Người mạng thổ có nguy cơ ung thư cao?

Mỗi hành có liên quan đến một bộ phận của cơ thể hay triệu chứng. Chẳng hạn như hỏa có liên quan đến tim; thổ có liên quan đến bướu, khối u, hay nốt; mộc với gan, túi mật; kim với phổi, ruột; và thủy với thận, bàng quang.

Vì thế, theo tử vi, người sinh năm thổ có nguy cơ bị bệnh bướu (như ung thư) cao hơn, và nếu đã mắc ung thư sẽ có tuổi thọ thấp hơn những người bị ung thư sinh vào những năm khác. Cũng tương tự với những người sinh vào năm hỏa và bệnh tim.

Một nhóm nghiên cứu thuộc trường Đại học California tại San Diego (UCSD) do Tiến sĩ David Phillips chủ trì đã tiến hành một cuộc thử nghiệm để kiểm tra giả thuyết (về mối quan hệ giữa tử vi và tử vong) trên đây. Nhóm nghiên cứu đã dày công sưu lục những hồ sơ tử vong từ năm 1969-1990, của trên 28.000 người Mỹ gốc Hoa (trong bài này gọi là “người Trung Quốc”), 18 tuổi trở lên.

Cứ mỗi hồ sơ người Trung Quốc, họ tìm một cách ngẫu nhiên 20 người Mỹ gốc da trắng, cùng độ tuổi, cùng giới tính và cùng nguyên nhân chết, và cuối cùng họ tìm được 412.000 hồ sơ đáp ứng những tiêu chuẩn này. Họ tập trung nghiên cứu vào hai nguyên nhân chết là bệnh tim và ung thư, vì qua các nghiên cứu tâm lý học trước đây, hai bệnh này chịu nhiều ảnh hưởng tinh thần và tình cảm. Qua vài phân tích thống kê khá phức tạp, họ ghi nhận những dữ kiện, mà tôi có thể tóm gọn như sau:

- Người Trung Quốc chết vì bệnh ung thư và sinh vào năm thổ (tạm gọi là “xấu số”) có tuổi thọ trung bình là 61,8 năm. Nhưng người Trung Quốc chết vì bệnh ung thư, và không sinh vào năm thổ (tạm gọi là không xấu số) có tuổi thọ trung bình là 63 năm, tức là muộn hơn người Trung Quốc sinh vào năm thổ khoảng 1,2 năm. Trong khi ở nhóm người Mỹ da trắng, người “xấu số” - bị ung thư và sinh vào năm thổ - cũng chết sớm hơn người có cùng bệnh nhưng sinh vào các năm khác; tuy nhiên độ khác biệt chỉ 0,13 năm (tức khoảng một tháng).

- Người Trung Quốc xấu số - bị bệnh tim và sinh vào năm hỏa - có tuổi thọ trung bình là 74,6 năm. Tuy nhiên, người Trung Quốc với bệnh tim nhưng không sinh vào năm hỏa có tuổi thọ trung bình là 73,9 năm. Sự khác biệt này không đáng chú ý, vì qua phân tích thống kê, nó nằm trong giới hạn của ngẫu nhiên. Tuy nhiên, người Mỹ da trắng với bệnh tim và sinh vào năm hỏa chết sớm hơn đồng hương cùng bệnh của họ, nhưng sinh vào các năm khác khoảng 0,5 năm (tức khoảng sáu tháng).

- Ngoài ra, người Trung Quốc sinh năm thổ và bị tiểu đường, hay loét tiêu hóa (peptic ulcer); người sinh năm kim và bị suyễn, hay viêm phế quản cũng chết sớm hơn (từ 0,4-5 năm) những đồng hương có cùng bệnh nhưng sinh khác năm. Nhưng khuynh hướng này không được ghi nhận trong người Mỹ da trắng.

- Qua tỷ lệ giảo nghiệm tử thi, các nhà nghiên cứu có thể ước đoán được người Trung Quốc vẫn còn tin theo truyền thống và những người không tin theo truyền thống tử vi. Các nhà nghiên cứu khám phá rằng những người tin theo truyền thống và có “số mệnh xấu” càng chết sớm hơn những người không còn tin theo truyền thống.


Một vài mô hình có thể đặt ra để giải thích cho những kết quả trên đây. Một là tử vi chính xác: những người mang số xấu thường chết sớm. Nhưng nếu tử vi đúng thì tại sao trong người Mỹ da trắng lại không có sự khác biệt nào đáng kể giữa những người “yểu mệnh” và những người không yểu mệnh? Có thể tử vi chỉ phù hợp cho người Trung Quốc, mà không ứng dụng cho người Mỹ? Nhưng giả thuyết này cũng không giải thích được tại sao người Trung Quốc tin vào truyền thống lại chết sớm hơn người thiếu tin vào truyền thống văn hóa hay tử vi?

Cách giải thích khác, theo tôi, là đáng để ý hơn cả: yếu tố tâm lý. Nhưng đây lại là yếu tố khó định lượng một cách chính xác. Những người mang “số xấu” có thể đã không có ý định từ bỏ những tập tục, cách sống thiếu lành mạnh, vì nghĩ rằng họ đã được thượng đế đặt cho mình một số phận như thế. Chẳng hạn như những người sinh năm hỏa và bị bệnh tim, hay những người sinh năm thổ và bị bệnh ung thư, có thể không muốn thay đổi thói quen ăn uống hay bỏ hút thuốc. Sự chấp nhận số mệnh một cách tiêu cực như thế có thể giải thích tại sao họ chết sớm hơn người Mỹ da trắng cùng bệnh.

Tâm lí và khả năng chiến đấu với bệnh tật

Gần đây, một số nghiên cứu trên những bệnh nhân bị ung thư vú cho thấy bệnh nhân nào “chấp nhận” cái chẩn đoán ung thư như một bản án tử hình (tức là cảm thấy và chấp nhận một cách tuyệt vọng) thường chết sớm hơn những bệnh nhân không có đặc tính tâm lý này. Vì thế, niềm hy vọng vào sự sống, tính đấu tranh quyết liệt với bệnh tật, và sự tự tin của bệnh nhân thường là những động lực đáng kể có thể kéo dài sự sống và tuổi thọ.

Người bị bệnh không chỉ đau về thể xác, mà còn đau về tinh thần. Nỗi đau tinh thần này thường xoay quanh những niềm sợ hãi như sợ bị chết, sợ mất diện mạo, sợ mất độc lập, sợ mất quan hệ xã hội và gia đình, lo sợ cho tương lai. Người bị bệnh có khi tự cô lập, không muốn giao tiếp với bạn bè, đồng nghiệp, thậm chí thân nhân, vì họ không muốn người ngoài có ấn tượng về thân hình tiều tụy của họ.
Bệnh nhân cảm thấy mất niềm tin, mất tự tin, mất sự tự trọng. Những bệnh nhân này thường có khả năng đề kháng bệnh tật rất yếu. Ngay cả, dùng thuốc giảm đau, họ cũng có cảm giác như liều lượng không đủ để kiềm chế sự đau đớn! Do đó, không ai ngạc nhiên khi thấy nhiều nghiên cứu ghi nhận rằng những bệnh nhân như thế thường có tỷ lệ tử vong cao hơn trung bình.

Ngược lại, những bệnh nhân có tự tin cao, có quyết tâm chống trả lại bệnh tật thường là những người có khả năng thích nghi với môi trường (bệnh tật) mới nhanh, và có ý thức cao về sức khỏe. Họ cũng là những bệnh nhân sẵn sàng thay đổi cách sống cho lành mạnh hơn. Do đó, khả năng đề kháng những bệnh mãn tính như viêm khớp xương, tiểu đường, suyễn... của họ cũng rất cao, và có tỷ lệ tử vong thấp hơn những bệnh nhân “tiêu cực” với bệnh tật.

Ngay cả những dịp lễ lạt quan trọng như Tết Trung thu cũng có ảnh hưởng đến tinh thần của bệnh nhân, và qua đó có thể kéo dài sự sống. Thực vậy, trong một nghiên cứu được công bố trên tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ (Journal of the American Medical Association - JAMA), các nhà xã hội học thuộc trường Đại học California tại San Diego (UCSD) khám phá ra rằng tỷ lệ tử vong trong người Trung Quốc giảm 35% trong tuần lễ trước, nhưng tăng cũng vào khoảng 35% trong tuần lễ sau ngày Tết Trung thu.

Các nhà nghiên cứu này còn tiến hành thêm một nghiên cứu khác trong người Do Thái, và có ghi nhận tương tự: trong tuần lễ trước ngày lễ Passover (một ngày lễ trọng đại trong văn hóa Do Thái), tỷ lệ tử vong giảm khoảng 27-65%; nhưng tuần lễ sau ngày lễ này, tỷ lệ tử vong tăng lên khoảng 17-35% (tùy theo bệnh). Điều đáng ghi nhận là trong người Mỹ da trắng tỷ lệ tử vong trước, trong, và sau hai ngày lễ này (Trung thu và Passover) không thay đổi.

Sau khi thử nghiệm vài giả thuyết để giải thích hiện tượng này, các nhà nghiên cứu kết luận rằng xu hướng sụt-trồi về tỷ lệ tử vong này là do sự trì hoãn cái chết hay cố kéo dài sự sống trước một ngày lễ lớn hay những ngày có ý nghĩa quan trọng như ngày sinh nhật chẳng hạn.

Ngược lại, có những ngày có thể gây ra tinh thần căng thẳng (stress) như tuần lễ nhận giấy đòi nợ (bills) có thể là một động cơ làm tăng nguy cơ tử vong. Thật vậy, một nghiên cứu gần đây được công bố trên tập san New England Journal of Medicine cho thấy tỷ lệ tử vong trong người già vào những ngày đầu tuần (như thứ Hai) cao hơn gấp hai lần so với những ngày khác trong tuần.


Nói tóm lại, những yếu tố tâm lý có ảnh hưởng lớn đến thời điểm và nguy cơ tử vong, nhất là trong người cao tuổi. Nhưng ảnh hưởng tâm lý trong bệnh vẫn còn là một vấn đề ít khi được nghiên cứu cho có hệ thống. Cơ thể và tâm trí luôn luôn tương tác lẫn nhau. Sự nhận thức, suy nghĩ, ý định, ý muốn, và nỗi băn khoăn có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể và hành động của con người. Ngày nay, càng ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu dùng các kỹ thuật sinh học hiện đại để khai thác mối tương tác giữa tinh thần và cơ thể.

Bộ não là cơ quan điều khiển hành vi và tâm lý của con người. Trong những năm gần đây, có hàng trăm nghiên cứu cho thấy cường độ và cách thức hoạt động của bộ não chịu sự ảnh hưởng của các di truyền tố (genes). Tất cả các hoạt động của hormones, không ít thì nhiều, đều chịu sự chi phối của các di truyền tố. Khi nghiên cứu trong những người sinh đôi, người ta thấy những cặp sinh đôi một hợp tử có suy nghĩ và hành vi giống nhau đến 80%, trong khi những cặp sinh đôi hai hợp tử(*) mức độ giống nhau chỉ khoảng 30%.

Theo ước tính của các nhà di truyền học, khoảng 40-60% nguy cơ và thời điểm tử vong là do các di truyền tố quyết định. Vì thế, theo tôi, “số mệnh” mà tử vi đề cập đến có thể hiểu như là di truyền tố.
________________________________
(*) Sinh đôi một hợp tử là những người được sinh do một trứng duy nhất được thụ tinh nhưng sau đó bị phân chia để thành hai thai nhi, và vì thế cả hai có chung 100% tất cả các di truyền tố (genes). Sinh đôi hai hợp tử do hai noãn cùng được thụ tinh một lúc; họ chỉ có chung 50% các di truyền tố.
Read more ...

Ghi chép cuối năm 9: Sự diệu kì của internet

Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011
http://www.kumuka.com/slideshows/images/ASV11/Rural-Vietnam.jpgChuyến về quê vừa qua tôi gặp lại một gia đình mà internet đã giúp tôi nối kết với một gia đình bên Mĩ. Câu chuyện hơi dài dòng nhưng là một minh chứng cho sự hữu hiệu của internet trong việc gắn bó giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau …



Có lẽ nói ra cũng thừa, nhưng sự thật thì internet quả là diệu kì.  Mới đọc một bài “phấn đấu kí” của bác Tô Hải, thấy bác kể về chuyện nhờ internet mà bác đã tìm lại người thân, bà con, tôi chợt liên tưởng đến trường hợp của tôi.  Năm ngoái (2010) là năm internet giúp tôi làm quen với những bạn đọc trang web này ở Việt Nam.  Lần trước, tôi đã kể cho các bạn câu chuyện tôi gặp một số người đã nhận ra tôi trên đường phố Hà Nội, Sài Gòn, Mỹ Tho, và Bến Tre. Tất cả chỉ vì thế giới internet.  Cũng chính internet đã giúp tôi tìm lại một người bạn thân sau hơn 30 năm vắng bóng.  Chúng tôi quen nhau trong thời còn làm công chức cho Nhà nước sau 1975, và mất liên lạc sau khi mỗi người một phương, và hóa ra cả hai đều rời Việt Nam cùng năm!  Gặp nhau thì anh bạn tôi đã thành ông ngoại, nhưng những kỉ niệm của “ngày tháng cũ” thì không thể nào phai nhòa.  Nếu không có internet, chắc gì tôi đã gặp lại anh.

Nhưng có một trường hợp internet đã giúp tôi làm cầu nối cho 2 gia đình, một bên Mĩ và một bên Việt Nam, mà tôi xem là kì diệu nhất và một kỉ niệm đẹp nhất trong đời.  Chuyến về quê vừa qua tôi gặp lại gia đình đó (bên Việt Nam) và là động cơ để tôi ghi lại vài dòng để gọi là “chứng từ” cho một sự việc rất đáng nhớ, vì câu chuyện tự nó nói lên một khía cạnh xã hội trong vùng quê.

Khoảng 5 năm trước, một email ngắn nhưng mở đầu cho một hành trình thú vị.  Hôm đó, tôi nhận một email của một người kí tên tên là Susan Wood ở một vùng ngoại ô thành phố Cincinnati (bang Ohio, bên Mĩ).  Trong email, bà hỏi tôi có biết một người tên là Thảo Ly (không có họ) ở xã Bàn Thạch (còn gọi là Tràm Chẹt), huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.  Một xã ở Việt Nam như Bàn Thạch có đến khoảng 5 ngàn người (có khi 10 ngàn dân), và vì trong quê nên sống rải rác, chứ đâu có tập trung như ở thành thị.  Do đó, tôi nghĩ thầm chuyện tìm người có tên là Thảo Ly trong một cộng đồng như thế thì có khác gì “mò kim đáy biển”!  Nghĩ thì nghĩ như thế, nhưng tôi vẫn trả lời rằng tôi thật sự không biết người đó vì một phần đã xa nhà quá lâu và xã có nhiều thay đổi trong thời gian qua.  Tôi thắc mắc tại sao bà tìm tôi mà không là một người khác.  Hóa ra, vì bà dùng internet để tìm tên xã, và đã vào trang nhà cũ của tôi.

Thời đó, tôi có một trang web cá nhân do các bạn bên ykhoanet thiết kế dùm.  Trang web đó được thiết kế theo mô hình “web tĩnh”, rất dễ cho tôi tải bài nhưng không thấy bài của mình ở đâu!  Trang web vận hành một thời gian, hình như là chưa đầy 1 năm, thì bị sự cố và mất hết dữ liệu.  Tuy nhiên, trước khi “ngủm”, bà SW vẫn vào được và tìm thấy thông tin cho biết quê quán của tôi.  Từ đó bà tìm được nơi công tác cũ của tôi.  Thoạt đầu, bà liên lạc với trường đại học y khoa bên Ohio (nơi tôi công tác trước khi về Úc) nhưng các bạn bên đó cho biết tôi đã về Úc và cho địa chỉ email mới.  Thế là qua internet tôi có thêm một người “đồng hương” Ohio.  Khoảng 8 năm trước, bà SW có đến một viện mồ côi ở Rạch Giá xin hai em trai sinh đôi, nay có tên là John và Tom.  Nay bà muốn tìm người mẹ của hai đứa bé, và tất cả thông tin bà có được chỉ là cái tên “Thảo Ly”.

Quay lại câu chuyện tìm Thảo Ly.  Tôi gọi điện về nhà hỏi đứa em có biết ai trong xã mình tên là Thảo Ly không, mấy đứa em than trời rằng làm sao tìm được trong cái xã mênh mông này, mà lại chẳng có họ (vì có họ thì còn đến ủy ban nhân dân xã để tìm danh sách cư dân).  Trao đổi qua lại với SW thì tôi biết thêm một thông tin quan trọng là Thảo Ly có 2 đứa con trai sinh đôi và đã cho một viện mồ côi ngoài Rạch Giá do các tu sĩ công giáo (soeur) quản lí.  Với thông tin đó, và chỉ qua hỏi han người trong làng (nhân dịp đi chợ) em gái tôi bên nhà đã nhận ra Thảo Ly.  Hóa ra Thảo Ly ở với ba má của cô ta, và chỉ ở cách nhà tôi khoảng 20 căn nhà.  Khi biết chắc chắn Thảo Ly hàng xóm của nhà tôi chính là người SW tìm, tôi gọi điện sang Ohio báo tin mừng.  Lúc đó là 12 giờ đêm bên Sydney, và tôi có thể cảm nhận được sự vui mừng vô hạn của người bên kia đầu dây điện thoại.  Bà SW nói rằng tìm thì cố tìm thế thôi, chứ bà không có hi vọng gì cả, nhưng nhờ vào một cơ duyên độc đáo (chủ yếu là internet) mà tôi đã nối kết được gia đình bà và gia đình mà bà xin con nuôi.

Sự việc làm sống lại câu chuyện trong quá khứ của Thảo Ly.  Gia đình của Thảo Ly thuộc nhóm mà nói theo cách nói người dân quê là “nghèo rớt mồng tơi”.  Gia đình dọn đến sống trong xóm này độ trên dưới 15 năm.  Mảnh đất cất nhà là của một người bà con cho ở tạm.  Nhìn căn nhà lá trống huơ trống hoác mà tội nghiệp.  Tài sản đáng kể của cả nhà chỉ là cái xuồng để đi ruộng và làm mướn.  Gia đình có 3 người con, gồm 2 trai và 1 gái (tức là Thảo Ly).  Sau này hai người con trai thì đã ra Rạch Giá làm nghề nấu nướng trong nhà hàng, và nghe nói làm giỏi, còn Thảo Ly thì ở nhà với ba má. Thảo Ly lớn lên cũng chỉ học biết đọc biết viết, rồi nghỉ học đi làm mướn, cũng đi cấy lúa, đi gặt lúa, làm cỏ … như mọi người.  Là người con gái út trong một gia đình và cũng có nhan sắc khả ái, cô ta được nuông chiều hết mực và cũng “thu hút” chú ý của đám trai làng. Đến năm 17 tuổi, cô ta dang díu với một thanh niên ở xóm trên, có bầu, và vì sợ ba má quá nên bỏ nhà ra đi.  Đến khi sinh 2 đứa con trai, cô ta không cách nào có khả năng tài chính để nuôi con, còn cái anh chàng kia thì đã biến thành “sở khanh” từ lúc nghe tin cô ta có bầu.  Thế là cô ta đành gạt nước mắt đem 2 đứa con cho một cô nhi viện ngoài Rạch Giá.  Cho xong, cô về quê sống với ba má.  Câu chuyện rồi cũng vỡ lở, và dĩ nhiên là cô ta bị một trận đòn nên thân.


Nhà anh Hai: trống trơn! Đây chỉ là một hình ảnh tiêu biểu cho cái nghèo ở vùng quê

Thảo Ly không hề biết hai đứa con đã được bà vợ chồng bà SW xin làm con nuôi và đã ở Ohio bên Mĩ.  Do đó, khi em tôi đến cho biết rằng có người bên Mĩ muốn liên lạc, cả nhà Thảo Ly rất ngạc nhiên vì không biết chuyện gì xảy ra.  Họ không tin rằng có chuyện đó xảy ra, vì có quen biết ai ở bên Mĩ đâu. Ba của Thảo Ly, người trong xóm quen gọi là “Anh Hai”, cũng bất ngờ một cách thích thú khi biết rằng 2 đứa cháu đã là công dân Mĩ!

Sau khi hai bên nối lại liên lạc nảy sinh vấn đề ngôn ngữ.  Một bên chỉ biết tiếng Việt, và một bên chỉ biết tiếng Anh, thì rất khó nói chuyện với nhau.  Thoạt đầu, tôi làm người trung gian, dịch từ Anh sang Việt cho anh Hai, và dịch từ Việt sang Anh cho bà SW.  Cũng tốn kha khá điện thoại, nhưng không ai tiếc tiền cả.  Đến một lúc tôi có “sáng kiến” là dịch những lời nói trên điện thoại của phía Việt Nam sang chữ và gửi đi bằng email cho phía Mĩ.  Ấy thế mà sự việc cũng khá trôi chảy.  Cùng lúc đó, anh Hai bên VN học vài chữ tiếng Anh để chuẩn bị giao tiếp qua điện thoại.

Trong một chuyến công tác bên Mĩ, tôi có bay đến Ohio để thăm bạn cũ, và cùng anh bạn tôi lái xe đi thăm gia đình bà SW ở Cincinnati.  Gia đình bà ở một khu trung lưu ngoại ô Cincinnati trong một căn nhà khá to.  Gặp tôi, vợ chồng bà SW quá vui mừng muốn khóc.  Tôi cũng mừng vì thấy John và Tom khỏe mạnh, lanh lẹ, và rất … Mĩ.  Cố nhiên, chúng nó không biết tôi là ai, vì chúng sang Mĩ khi chưa đầy 2 tuổi.  Bà SW cho biết chờ cho 2 đứa bé lên trung học, vợ chồng bà và 2 đứa bé sẽ về quê tôi để nó nhìn mẹ ruột.

Khi biết gia đình Thảo Ly quá nghèo, bên Mĩ “viện trợ” hàng tháng cho bên Việt Nam, dưới danh nghĩa là quà.  Qua nhiều tháng nhận viện trợ thường xuyên, gia đình anh Hai giờ đã khá lên.  Mua một cái máy đuôi tôm và cái vỏ tắc ráng để đi lại.  Một cái đầu máy video và tivi cũng có mặt trong phòng khách.  Số tiền tài trợ đủ để gia đình mua vài công đất làm ruộng, và trong tương lai sẽ không nhờ phía Mĩ nữa.  Năm nay, gia đình ăn Tết thoải mái hơn những năm trước.  Câu chuyện hi hữu được cả làng biết đến.  Ai cũng mừng cho gia đình anh Hai.  Nhưng hình như chính quyền địa phương thì dè dặt, đặt câu hỏi về mối liên hệ!  Mỗi lần anh Hai nhận thư từ bên Mĩ đều phải đi trình cho ủy ban nhân dân xã!  Có lẽ giới an ninh quá lo xa chăng?

Riêng tôi thì từ sau sự việc có kết cục tốt, tôi trở thành “thượng khách” của gia đình anh Hai.  Lần đầu tôi về nhà sau sự việc, anh Hai đem một con gà để biếu tôi, và còn hỏi tôi thích ăn gì anh ấy có thể tìm!  Những lần sau, năm nào về quê thăm nhà, tôi cũng đều ghé thăm anh, lai rai rượu đế với khô cá lóc rất ngon, và để ý đến tình hình kinh tế gia đình của anh.  Trong những buổi trưa, anh đi ruộng về đều tạt ngang nhà tôi để nói chuyện nhân tình thế thái.  Tuy là người Khmer và ít học, nhưng tôi thấy những quan điểm hết sức thực tế của anh rất đáng để những ai quan tâm đến sự phát triển nông thôn phải chú ý.  Theo anh, những vấn nạn hiện nay ở miệt quê (như nghèo khó, ô nhiễm môi trường sống, thiếu an ninh và gia tăng bạo lực, v.v…) đều xuất phát từ sự mệt mỏi của người dân và thiếu lãnh đạo có tầm và có tâm.  Sau thời chiến, người dân đã quá mệt mỏi, nên đối đầu với một vấn đề khó người ta cảm thấy bất lực.  Trong khi đó thì người ta sống thực dụng theo kiểu “đèn nhà ai nấy sáng”, rất ít quan tâm đến lợi ích chung hay lợi ích cộng đồng.  Anh lấy một ví dụ nhỏ là ngay cả một cây cầu bắc ngang con rạch chỉ 4 thước mà cũng chẳng ai chịu làm.  Chỉ khi anh đứng ra tình nguyện huy động thanh niên trong xóm thì người ta mới chịu làm.  Từ đó, anh đi đến nhận xét rằng một đất nước chỉ có phát triển nếu có người làm đầu tàu và người đó phải gương mẫu, có uy tín để thuyết phục và huy động người dân.  Anh nghĩ rằng Việt Nam chúng ta chưa có những người “đầu tàu” như thế.

Người ta nói internet làm cho thế giới gần gũi hơn, và câu chuyện trên là một minh chứng.  Chính qua internet và chỉ đơn giản vài câu chữ, mà bà SW tìm đến tôi, và tôi tìm đến gia đình Thảo Ly, để rồi nối kết được hai gia đình với nhau.  Câu chuyện thoạt đầu tưởng chừng như “mò kim đáy biển” lại hoàn toàn có thể, và quan trọng nhất là có một kết cục đẹp.  Tôi chỉ ước rằng một ngày nào đó không xa, cả làng tôi đều có thể nối kết với thế giới mạng.  Thật ra, cơ sở vật chất (qua Viettel, Mobilfone và Vinaphone) thì đã có sẵn, nhưng vì máy vi tính vẫn còn là một cái gì xa xỉ với người dân miệt vườn, nên rất ít ai nối mạng internet.  Hệ thống wireless cũng đã về đến quê tôi.  Hiện nay, ở dưới chợ, có một quán internet nhưng lũ trẻ con chỉ vào đó chơi game là chính, chứ chẳng ai sử dụng cho mục đích giáo dục hay thông tin cả.  Năm ngoái một cuộc điều tra xã hội ở VN cho biết 53% người vào internet là để "chat" và chơi game.  Thật là phí phạm! Điều cần thiết hiện nay là làm cho người dân nhận thức được giá trị thực dụng của internet, và điều này đòi hỏi phải có “người đầu tàu” đứng ra chủ xướng.

Ghi thêm. Tên địa phương và tên của người trong cuộc đã được thay đổi để bảo mật.

http://www.symbiosis-travel.com/uploads/490/98905591f15dbd69cd3ca06bd3a42db5.jpg
Read more ...

Hợp tác khoa học ở Việt Nam: cơ hội và kinh nghiệm

Thứ Hai, 7 tháng 2, 2011
http://www.istockphoto.com/file_thumbview_approve/673443/1/673443-scientific-collaboration.jpgTiếp tục đọc báo Xuân, hôm nay xin giới thiệu bài viết của tôi. Bài này tôi viết cho Diễn Đàn (Pháp) số Tết, để gọi là chia sẻ vài kinh nghiệm trong việc hợp tác khoa học với đồng nghiệp trong nước.  NVT



Đối với cá nhân tôi, năm 2010 vừa qua là một năm bận rộn nhất so với  những năm trước đây. Những chuyến đi công tác bên Việt Nam có lịch trình kín mít từ ngày đặt chân xuống máy bay đến ngày lên máy bay rời Việt Nam. Nhưng đó là những bận rộn có ý nghĩa, vì qua đó mà mình góp một chút ít công sức cho khoa học bên nhà. Báo chí và nhiều bạn có nhã ý hỏi tôi chia sẻ những kinh nghiệm trong hợp tác nghiên cứu khoa học ở Việt Nam.  Thấy câu hỏi cũng đáng để bàn, tôi viết bài sau đây thuật lại “hành trình” hợp tác với các đồng nghiệp trong nước, và rút ra vài bài học chung để chúng ta cùng suy nghĩ cho tương lai. 



“Câu chuyện” bắt đầu từ một bài báo trên tập san Science hơn 15 năm trước.  Lúc đó, Science dành một số đặc biệt để nói về sự trỗi dậy của các nền khoa học trong khu vực Đông Nam Á.  Nhưng trong loạt bài đó, không có một chữ nào -- dù là chữ “Vienam” -- dành cho Việt Nam.  Thấy chuyện bất bình thường, tôi viết một lá thư ngắn (loại phản hồi theo kiểu Letter to the Editor) để nhắc nhở họ rằng Việt Nam vẫn còn đó, chưa biến mất trên bản đồ thế giới, và vẫn đóng góp cho khoa học quốc tế.  Sau khi bình duyệt, Science chấp nhận đăng lá thư.  Ngoài ra, tổng biên tập Science còn gửi cho tôi một lá thư riêng, trong đó ông giải thích rằng sở dĩ Việt Nam không được nhắc đến trong loạt bài đó là vì ban biên tập không tìm được những bài báo nào đáng kể từ Việt Nam, và cũng chẳng ai ở Việt Nam sẵn sàng liên lạc để trả lời những phỏng vấn cả.  Lúc đó, tôi tò mò tìm hiểu trong thư viện y khoa toàn cầu (PubMed) thì chỉ thấy <300 bài báo khoa học từ VN suốt từ thập niên 1960s đến 1990s.  Đó là một con số cực kì khiêm tốn.  (Cần mở ngoặc ở đây để thêm rằng ngày nay, mỗi năm, Việt Nam công bố được khoảng 300 đến 400 bài báo khoa học liên quan đến ngành y sinh học).  Từ đó, tôi và một vài đồng nghiệp cùng chí hướng đã muốn làm một cái gì đó để giúp đỡ bên quê nhà trong lĩnh vực nghiên cứu y học.



Gặp bạn bè ở "đất người" (Pattaya, 2007) trong một hội nghị loãng xương

Khác với nhiều bạn ở nước ngoài, tôi “làm quen” với nhiều đồng nghiệp trong nước qua những bài viết mang tính khoa học phổ thông, và qua những công trình nghiên cứu của tôi công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế.  Do những lí do mang tính kí ức cá nhân, tôi rất quan tâm đến vấn đề chất độc da cam.  Kết quả của nỗi “quan tâm” đó là hàng loạt bài báo liên quan đến chất độc da cam, và sau này tổng kết thành một cuốn sách do Nhà xuất bản Trẻ xuất bản.  Cuốn sách sau này in lại bên Mĩ và dịch sang tiếng Pháp và in lại bên Paris (Pháp).  Ngoài ra, tôi còn viết có lẽ hàng trăm bài viết liên quan đến nhiều đề tài khoa học, giáo dục, xã hội.  Một số đồng nghiệp trong nước cũng biết tôi qua những công trình khoa học liên quan đến loãng xương trong nhiều năm, và có liên lạc để hỏi thăm, tư vấn qua email. Qua cuốn sách, những bài báo phổ thông và công trình nghiên cứu, tôi có cơ duyên làm quen với nhiều bạn bè, một số sau này trở thành học trò và đối tác trong nghiên cứu khoa học ở trong nước.

Quá trình hợp tác khoa học giữa tôi và các đồng nghiệp trong nước đã diễn ra hơn 15 năm, và qua 3 giai đoạn chính. Giai đoạn đầu, tôi tìm hiểu tình hình nghiên cứu y khoa ở trong nước, và nhận dạng ra những ưu khuyết điểm cũng như định hướng cần thiết. Giai đoạn 2, chúng tôi tổ chức những seminar và workshop để huấn luyện về phương pháp khoa học. Giai đoạn 3 là hợp tác thực hiện những nghiên cứu qui mô vừa và lớn, và công bố bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Qua thời gian hợp tác trên, tôi có thể chia sẻ một số bài học và kinh nghiệm cùng các bạn quan tâm.

Từ nhận dạng những vấn đề … 

Nghiên cứu y khoa ở Việt Nam là một trong những lĩnh vực khoa học năng động nhất.  Tuy nhiên, đại đa số những công trình nghiên cứu y khoa ở Việt Nam chỉ công bố trên các tập san trong nước, mà chất lượng vẫn còn là một dấu hỏi lớn.  Chẳng hạn như trong năm 2004 các nhà khoa học Việt Nam công bố 1111 bài báo y học, trong số này chỉ có khoảng 100 (tức 9%) bài xuất hiện trên các tập san quốc tế.  Số liệu thống kê bài báo khoa học trên các tập san quốc tế cho thấy trong thời gian 1996 – 2005, số bài báo khoa học liên quan đến ngành y sinh học chiếm khoảng 23% trên tổng số bài báo khoa học từ Việt Nam, cao hơn các ngành “truyền thống” như toán (khoảng 11%) hay vật lí (13%). “Y sinh học” ở đây bao gồm các chuyên ngành nhỏ hơn như y học lâm sàng, miễn dịch học, bệnh nhiệt đới, y tế công cộng, v.v… Do đó, nếu chỉ tính về số lượng công bố quốc tế, ngành y sinh học đứng đầu trong tất cả các ngành khoa học ở Việt Nam.

Tuy nhiên, con số trên không nói nên một thực trạng là phần lớn các nghiên cứu y sinh học Việt Nam do người nước ngoài làm chủ. Khi chọn số bài báo khoa học trong thời gian 2000-2001, chúng tôi phát hiện rằng trong số 164 bài báo y khoa được công bố trên các tập san quốc tế, có đến 159 bài (97%) là do người nước ngoài hoặc là tác giả đầu hoặc là tác giả chính chịu trách nhiệm cho công trình nghiên cứu.  Tỉ lệ "ngoại lực" này cho các ngành khác là 80%. Thật ra, người có số bài báo y khoa nhiều nhất của Việt Nam là một người nước ngoài chứ không phải là người Việt !  Thật ra, hợp tác quốc tế là cần thiết, nhưng hợp tác như thế nào để đảm bảo "chủ quyền" trí tuệ thuộc về Việt Nam đòi hỏi một bản lĩnh và cách làm việc hoặc thương lượng hợp lí.

Một thực trạng khác là chất lượng nghiên cứu y khoa của Việt Nam vẫn còn thấp hơn trung bình. Phần lớn những công trình y khoa xoay quanh các chủ đề mang tính mô tả, công nghệ thấp, và mô hình nghiên cứu rất đơn giản. Có lẽ chính vì thế mà đại đa số (trên 95%) những bài báo y khoa từ Việt Nam chỉ công bố trên những tập san có hệ số ảnh hưởng (impact factor) thấp hơn hoặc bằng 3. Cần nói thêm rằng những tập san có ảnh hưởng lớn trong ngành y có hệ số ảnh hưởng cao hơn 6, thậm chí 50. Vì công bố trên những tập san có hệ số ảnh hưởng thấp, nên không ngạc nhiên khi chỉ số trích dẫn của những công trình này cũng thấp (tính trung bình  khoảng 3 trích dẫn sau 5 năm).

Các nhà nghiên cứu Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc làm nghiên cứu và công bố bài báo khoa học. Khó khăn đầu tiên và có thể nói là lớn nhất là chúng ta vẫn còn thiếu các chuyên gia tầm vóc quốc tế, và vì thế khó có thể chọn đề tài nghiên cứu sao cho theo kịp với tiến bộ của y học trên thế giới. Qua những công trình nghiên cứu y khoa ở Việt Nam (như luận án tiến sĩ, bài báo khoa học đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước) người ta có thể nhận ra sự vụn vặt và tủn mủn trong các đề tài nghiên cứu, những đề tài mà thế giới chẳng quan tâm hay rất ít quan tâm đến.  Tuy nhiên, cũng có nhiều người trẻ có ý tưởng tốt, nhưng không có kinh phí thực hiện ý tưởng mình. Cần nói thêm rằng, nhà tài trợ (kể cả cơ quan chính phủ) khó mà cấp kinh phí nghiên cứu nếu nhà nghiên cứu trẻ chưa chứng tỏ mình có khả năng làm nghiên cứu, và thế là một vòng tròn luẩn quẩn khó có lối ra cho cá nhân người có ý tưởng tốt nhưng không có kinh phí để làm. Điều này dẫn đến một nghịch lí là người không có khả năng làm nghiên cứu có giá trị thì nhận được tài trợ, còn người có khả năng làm thì không được kinh phí để thực hiện ý tưởng của mình !

Qua làm việc với các đồng nghiệp trong nước, tôi còn nhận ra họ gặp phải hai trở ngại lớn khi làm nghiên cứu : đó là vấn đề phương pháp khoa học và tiếng Anh. Đại đa số các đồng nghiệp Việt Nam không có cơ hội tiếp cận với các phương pháp khoa học hiện đại, nên họ chưa biết thực hiện ý tưởng ra sao, hoặc khi thực hiện xong thì kết quả khó diễn giải.  Một số khác thì được học qua vài lớp tập huấn căn bản về nghiên cứu y khoa (phần lớn là dịch tễ học cơ bản), nhưng vì những lớp học này cũng không có hệ thống, nên họ cũng chưa phát huy được khả năng của mình.  Có lẽ đây chính là lí do tại sao các nghiên cứu y khoa ở Việt Nam quá đơn giản, đơn điệu, và không có giá trị khoa học cao.  Thêm vào đó, đại đa số các bác sĩ gặp khó khăn trong việc hiểu và diễn giải bằng tiếng Anh, nên họ khó tiếp cận y văn quốc tế một cách có hệ thống.  Một số khác tuy có khả năng tiếng Anh, nhưng chỉ dừng lại ở mức độ giao tiếp (tức nói hay dịch), chứ chưa đủ khả năng để viết một bài báo khoa học nghiêm chỉnh.

Những nhận xét trên của tôi được đúc kết từ nhiều năm quan sát và theo dõi. Thật vậy, chúng tôi đã bỏ ra một thời gian dài để theo dõi và phân tích các nghiên cứu từ Việt Nam, và đã "phát hiện" ra những ưu thế cũng như nhược điểm trong nghiên cứu y khoa trong nước.  Từ những nhận xét trên, tôi tự hỏi mình phải và có thể làm gì để góp một tay vào việc thay đổi tình hình theo chiều hướng tích cực hơn. Qua liên hệ cá nhân đồng nghiệp với nhau, chúng tôi đặt ra những chương trình làm việc nhỏ, bắt đầu từ những seminar chuyên đề, đến workshop về phương pháp, và sau đó là thực hiện những nghiên cứu y khoa có chất lượng cao.

Đến hợp tác từng bước 

Bắt đầu từ những năm giữa thập niên 1990, tôi kết hợp với các đồng nghiệp trong nước thực hiện những seminar nhỏ (hiểu theo nghĩa chỉ giới hạn trong khoảng 30 đến 100 người).  Những seminar này chủ yếu giới thiệu một số định hướng nghiên cứu mới trong chuyên ngành. Phần lớn seminar được thực hiện từ những chuyến về thăm nhà mang tính cá nhân, nhưng một số seminar do các công ti dược có nhã ý bảo trợ mà không kèm theo một điều kiện nào.  Qua những buổi nói chuyện và trao đổi như thế, chúng tôi có thể xác định được định hướng nghiên cứu thích hợp cho Việt Nam.  Thích hợp ở đây hiểu theo nghĩa có thể làm được trong điều kiện còn thiếu thốn về thiết bị, tiền bạc, và môi trường y học ở trong nước cho phép.

Mãi đến giữa thập niên 2000 chúng tôi mới có khả năng thực hiện những workshop về phương pháp và chuyên đề.  Bắt đầu từ năm 2004, với sự giúp đỡ về mặt tổ chức từ các đồng nghiệp trong nước, tôi và đồng nghiệp thực hiện những workshop về phương pháp nghiên cứu, di truyền học, và loãng xương tại nhiều trung tâm nghiên cứu từ Bắc chí Nam.  Những workshop này thường có từ 70 đến trên 200 người tham gia, và kéo dài từ 3 đến 10 ngày.  Tính đến nay, chúng tôi đã thực hiện được hơn 20 workshop như thế ở những trung tâm như Bộ môn Nội tiết (Đại học Y Dược TPHCM), Đại học Y Hà Nội, Viện Nhi trung ương, Đại học Bách Khoa TPHCM, và nhiều bệnh viện cấp trung ương đến cấp tỉnh, kể cả một số tổ chức phi chính phủ.  Càng ngày workshop của chúng tôi trở nên có hệ thống hơn và chuyên sâu hơn.  Học viên được kiểm định trình độ trước và sau khi học, và thực hành trong lớp học.  Những năm sau này, chúng tôi cố đặt ra tiêu chí "outcome" là sau 12 tháng mỗi workshop phải có ít nhất là một bài báo khoa học đăng trên các tập san y khoa quốc tế. Thật ra, trong thực tế, chỉ có một số học viên có thể thực hiện được tiêu chí trên, vì phần lớn là nghiên cứu sinh và mục tiêu của họ là tiếp thu kiến thức và kĩ năng trước khi làm nghiên cứu.  Nhìn qua những phát triển cá nhân, chúng tôi có thể nói rằng những workshop như thế đã góp một phần nhỏ vào việc nâng cao kĩ năng nghiên cứu cho một số đồng nghiệp trong nước.

Workshop tại Đại học Y Dược TPHCM năm 2006 thu hút ~200 người. Thấm thoát mà đã 5 năm! 

Từ các workshop, tôi nghĩ đã đến lúc có thể hợp tác thực hiện những nghiên cứu y khoa ở Việt Nam.  Chúng tôi hợp tác với những học viên đã từng tham dự những seminar và workshop của chúng tôi trong quá khứ.  Ngoài ra, tôi cũng tham gia hướng dẫn nghiên cứu sinh cấp tiến sĩ (qua Viện Karonlinska ở Thụy Điển).  Về đề tài, chúng tôi tập trung vào những đề tài thiết thực ở Việt Nam nhưng có tầm ảnh hưởng quốc tế và có thể thu hút sự chú ý của giới y khoa quốc tế và những tập san có uy tín cao.  Về hình thức, chúng tôi làm theo 2 phương thức là cố vấn và trực tiếp tham gia.  Trong phương thức thứ nhất, chúng tôi chọn ra đề tài, cố vấn cho các đồng nghiệp về chọn thiết kế nghiên cứu thích hợp, mô hình thử nghiệm và đo lường, phân tích dữ liệu, và viết bài báo khoa học và công bố quốc tế.  Trong phương thức thứ hai, chúng tôi trực tiếp tham gia cùng đồng nghiệp từ khâu ý tưởng đến công bố quốc tế.  Chúng tôi nghĩ rằng qua 2 hình thức hợp tác như thế, các đồng nghiệp trong nước dần dần tiếp cận với những định hướng mới trong chuyên ngành, những phương pháp chuẩn, và làm quen với "văn hóa" công bố quốc tế, kể cả làm quen với những qui ước và qui định của các tập san y khoa quốc tế.

Đại học Bách Khoa 2006. Mỗi khóa học đều có chứng chỉ. Đây là một học viên (Bs Phạm Văn Hậu, đang dơ cao chứng chỉ) sau này có bài đăng trên International Journal of Epidemiology, tập san số 1 trong ngành dịch tễ học trên thế giới.

Trong thời gian khoảng 10 năm qua (chủ yếu là 5 năm qua), chúng tôi đã công bố được 14 công trình nghiên cứu "thuần Việt" trên các tập san y khoa quốc tế.  Một số công trình được công bố trên các tập san số 1 trong chuyên ngành.  Một công trình còn được một giáo sư Anh viết xã luận khen ngợi.  Có nghiên cứu được hiệp hội chuyên môn của Mĩ liệt kê vào "hot research" (chủ đề nghiên cứu nóng).  Trong số 14 bài báo, có 5 bài liên quan đến loãng xương và tiểu đường gây được tiếng vang lớn, được giới truyền thông quốc tế chú ý và đăng tải.  Một số tác giả được các đài truyền hình và báo chí phỏng vấn. Ngoài phần lớn những công trình liên quan đến chuyên ngành chính của chúng tôi (loãng xương và nội tiết), chúng tôi còn giúp các đồng nghiệp công bố những công trình liên quan đến dịch hạch và chất độc da cam. Một số đồng nghiệp đã bắt đầu "có tên tuổi" trên trường quốc tế qua những nghiên cứu có chất lượng cao và gây tác động.  Trong vài năm sắp tới, số bài báo khoa học sẽ tăng cao hơn sau khi những công trình nghiên cứu qui mô mà chúng tôi đang hợp tác sắp hoàn tất.  Chúng tôi hi vọng những công trình này sẽ góp một phần nhỏ nhằm nâng cao vị thế của y học Việt Nam lên một tầm vóc cao hơn trên trường quốc tế.

Và những kinh nghiệm …

Cũng như bất cứ việc làm nào, những khóa học và hợp tác của tôi không phải lúc nào cũng "thuận buồm xuôi gió".  Có lẽ vì quan điểm liên quan đến một số vấn đề y tế và giáo dục của tôi không tương đồng với quan điểm của các quan chức các bộ liên quan, nên thỉnh thoảng cũng dẫn đến một vài trục trặc.  Có lần người ta gửi người từ Hà Nội vào Nam để hủy bỏ một lớp tập huấn tôi thực hiện cho Tổ chức Y tế Thế giới với tư cách là chuyên gia tư vấn cho tổ chức này. Qua nhiều năm hợp tác với các đồng nghiệp trong nước, tôi cũng rút ra vài kinh nghiệm. Những kinh nghiệm này chủ yếu liên quan đến việc tìm đề tài thiết thực, đối tác, phương tiện khoa học, vấn đề tài trợ cho nghiên cứu, và phản biện.

Vấn đề ý tưởng. Nghiên cứu khoa học phải bắt đầu bằng một ý tưởng, và từ ý tưởng mới chuyển thành giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu. Kinh nghiệm của tôi cho thấy nhiều đồng nghiệp rất thiếu cập nhật thông tin và ít khi nào phát biểu câu hỏi nghiên cứu một cách cụ thể.  Phần lớn những thông tin họ có được là từ sách giáo khoa (có khi đã lạc hậu), hay các bài báo từ những tác giả không có uy tín cao hay những tập san "linh tinh".  Còn câu hỏi nghiên cứu thường quá đơn giản cứ như là bài tập cho học sinh, có khi chẳng có liên quan gì đến lâm sàng mà chỉ làm cho có "nghiên cứu", hoặc phạm vi quá hẹp chẳng có giá trị khoa học gì đáng kể.  Có khi ý tưởng của tôi không tương đồng với ý tưởng của thầy cô của nghiên cứu sinh (và thầy cô không chịu làm cách khác), nên không thể nào thực hiện được.  Do đó, phải tốn rất nhiều thì giờ để "chỉnh sửa" những ý tưởng như thế thành một dự án có tính khoa học và khả thi cao.

Tìm đối tác. Tìm được đối tác nghiên cứu là điều rất quan trọng. Nhiều lần đề nghị ý tưởng với đồng nghiệp, tôi thường nhận được hồi đáp lịch sự, đại khái như "ý tưởng hay lắm, nhưng khó thực hiện vì còn nhiều khó khăn."  Có người kì vọng rằng chúng tôi sẽ đem tiền và phương tiện về Việt Nam để nghiên cứu (như nhiều đồng nghiệp ngoại quốc khác), và họ thường hỏi họ sẽ được hưởng lợi gì hay bao nhiêu.  Cố nhiên, câu trả lời của chúng tôi là "ba không" : không tiền, không phương tiện, và không học bổng.  Chúng tôi chỉ có "ba có" : có tâm, có ý tưởng, và có kĩ năng.  Có khi ý nguyện mang tích tích cực nhưng được vài đồng nghiệp diễn giải theo nghĩa "tiêu cực", cho rằng chúng tôi đang gặp trở ngại ở nước ngoài hay sắp mất việc nên mới tìm về Việt Nam để cứu vãn tình thế !  Chúng tôi không quan tâm đến những hồi đáp và suy nghĩ như thế, mà chỉ muốn chứng minh bằng việc làm thực tế.  Chúng tôi nghĩ rằng cần phải có đối tác có tấm lòng với khoa học nước nhà, chịu dấn thân và hi sinh thời gian vì tri thức, và có khả năng làm nghiên cứu.  Ở nước ta, tìm được những cá nhân như thế không dễ chút nào.  Thế nhưng qua nhiều seminar và workshop, chúng tôi cũng có được nhiều đồng nghiệp hội đủ những tiêu chuẩn trên để đạt được những kết quả vừa trình bày.

Tôi cũng phải mở ngoặc để nói thêm rằng ở Việt Nam, vẫn còn một số lãnh đạo đại học rất dè dặt với "Việt kiều". Trong cái nhìn của họ, Việt kiều là những người đáng nghi ngờ, thành phần bị theo dõi, và từ đó dẫn đến quan điểm tránh né cho … an toàn. (An toàn cho chức vụ của họ).  Có người nói rằng làm thủ tục để mời giáo sư Việt kiều về giảng còn phức tạp và nhiêu khê hơn làm cho một giáo sư Mĩ hay Âu châu.  Cố nhiên, với quan điểm như thế (không phù hợp với những gì Nhà nước nói) thì sẽ không bao giờ có hợp tác.  Tuy nhiên, tôi phải nhấn mạnh rằng những lãnh đạo có quan điểm nghi kị Việt kiều chỉ là số ít, trong thực tế thì đa số lãnh đạo đại học Việt Nam, kể cả đại học địa phương, rất nồng nhiệt và hoan nghênh những đóng góp của các nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài.

Vấn đề thiết bị và phương tiện. Một khó khăn lớn ở Việt Nam là thiếu thiết bị hiện đại để thực hiện những nghiên cứu quan trọng và có chất lượng cao. Để làm những nghiên cứu "nóng" trên thế giới như nghiên cứu cơ bản hay di truyền học đòi hỏi nhiều thiết bị phân tích và chuyên viên lành nghề mà Việt Nam vẫn còn thiếu rất trầm trọng.  Do đó, chúng tôi chọn những đề tài vừa mang tính thiết thực cho lâm sàng và y tế công cộng, nhưng vừa có hàm lượng khoa học cơ bản để vượt ra ngoài phạm trù của những nghiên cứu đơn giản mà nhiều người ở Đông Nam Á hay thực hiện.  Cũng có khi chúng tôi chọn những kĩ thuật phân tích sinh hóa ít tốn kém hơn, nhưng vẫn đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy có thể chấp nhận được đối với cộng đồng khoa học quốc tế.

Vấn đề tài trợ cho nghiên cứu. Một trong những yếu tố làm nhiều đồng nghiệp trong nước nản chí là vấn đề kinh phí.  Họ không biết xin tài trợ từ đâu, và ngay cả biết nguồn thì vẫn rất ngại với việc "bôi trơn" vốn đã trở thành phổ biến ở trong nước.  Gần đây, sự ra đời của Quĩ Nafosted đã tạo ra một "sân chơi" bình đẳng và minh bạch cho giới làm khoa học, nhưng những người có khả năng thật sự, có công bố quốc tế tốt và chưa có bằng tiến sĩ thì không đủ điều kiện để xin tài trợ từ Quĩ !  Đành rằng nghiên cứu thực nghiệm thường đòi hỏi kinh phí khá cao, nhưng không phải công trình nào cũng đắt tiền cả. Tôi đã cố gắng thuyết phục nhiều đồng nghiệp như thế.  Tình trạng thiếu kinh phí dẫn đến một hiện tượng rất đáng quan tâm là nhiều nghiên cứu được thực hiện trên bệnh nhân mà tiền xét nghiệm đều do bệnh nhân chi trả và họ chẳng biết rằng họ là đối tượng của công trình nghiên cứu ! Đây đó và với vài người, y đức hình như là một ý niệm … xa xỉ.


Vấn đề phản biện và hành chính. Nhiều đồng nghiệp trong nước rất ngại phản biện và hành chính, không phải vì họ không có khả năng chuyên môn, mà vì qui trình phản biện không mang tính khoa học.  Hiện nay, qui trình phản biện dựa vào bình luận của một số chuyên gia trực tiếp (trước mặt tác giả) và không cho tác giả cơ hội để phản hồi.  Những chuyên gia này có khi thiếu cập nhật thông tin, thậm chí không am hiểu về lĩnh vực họ nhận xét, nên cũng gây ra vài khó khăn và đặt tác giả trong tình huống trớ trêu.  Tuy nhiên, cũng khó mà có được một hội đồng chuyên nghiệp ở Việt Nam.  Thật vậy, một giáo sư ở trong nước đã nghỉ hưu từng nói với người viết rằng ông rất "sợ" phải xin tài trợ từ các cơ quan khoa học Việt Nam, vì ông phải đương đầu với một hội đồng phản biện mà trong đó người ta không am hiểu về vấn đề chuyên môn, chưa từng công bố quốc tế, thậm chí chưa từng làm nghiên cứu nghiêm chỉnh, mà họ có quyền phán xét và quyết định đơn của ông.  Đó là một qui trình rất thiếu tinh thần khoa học.  Thêm vào đó là thủ tục hành chính hết sức máy móc và nặng nề (như báo cáo giữa kì và những qui định rất "lạ lùng" chỉ có ở Việt Nam) làm cho giới nghiên cứu khoa học nản lòng.  Có khi một công trình nghiên cứu đã công bố trên tập san y khoa quốc tế, nhưng cơ quan địa phương lại đòi hỏi phải qua "nghiệm thu" !

Khó khăn vẫn còn, nhưng cơ hội thì rộng mở.  Theo tôi, Việt Nam là một môi trường cho những dự án khoa học rất tốt, và nếu biết khai thác thì trong tương lai, Việt Nam sẽ đuổi kịp, thậm chí vượt qua, những nước trong vùng về mặt nghiên cứu khoa học.  Cái lợi thế của Việt Nam là chúng ta có những chuyên gia gốc Việt ở nước ngoài có trình độ khoa học cao, có uy tín lớn, và sẵn lòng đóng góp cho quê nhà.  Cái khó khăn chính là cơ chế (tôi rất ghét chữ này, nhưng thú thật chưa tìm ra chữ nào tốt hơn !) để người Việt trong và ngoài nước có thể hợp tác vì mục tiêu chung.  Những ai quen biết với cách làm khoa học ở ngoài sẽ khó "hội nhập" với cách làm ở trong nước, và ngược lại, nhiều đồng nghiệp trong nước thì chưa quen với cách làm việc ở nước ngoài, nên thỉnh thoảng gây ra nhiều hiểu lầm đáng tiếc và dẫn đến gãy vỡ.

Bất cứ một hợp tác nào cũng đem lại nhiều thành quả cho hai bên.  Đối với tôi, những hợp tác trong thời gian qua ở trong nước là một phần quan trọng (có lẽ quan trọng nhất) trong những việc tôi làm cho và ở Việt Nam.  Những việc làm đó cũng là một phần có ý nghĩa trong sự nghiệp cá nhân tôi. Tất cả những hợp tác trên đều thực hiện với tư cách cá nhân và liên hệ cá nhân. Cá nhân tôi không có bất cứ một "appointment" chính thức nào với bất cứ một trung tâm khoa học nào ở Việt Nam.  Đối với các đồng nghiệp trong nước, tôi nghĩ những công trình trong quá khứ là những cơ hội để tiếp cận những ý tưởng và phương pháp mới, cũng như cơ hội để đóng góp vào y văn quốc tế.  Tuy rằng những nghiên cứu được thực hiện ở Việt Nam, nhưng ý nghĩa thì mang tầm quốc tế, và vì thế những nghiên cứu đó cũng góp một phần rất khiêm tốn để nâng cao vị thế của y học Việt Nam trên trường quốc tế.  Việc đã làm vẫn chưa đủ, nên trong tương lai chúng tôi có ý nguyện làm nhiều hơn nữa và thiết thực hơn nữa, qua những workshop và dự án nghiên cứu qui mô hơn.  Tôi hi vọng trong tương lai với những nỗ lực mới sẽ nâng cao vị thế của y học Việt Nam cao hơn nữa.

NVT
Read more ...

Ghi chép cuối năm 8: Bức tranh ảm đạm của nông thôn miền Tây

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2011

ead : 7 timeshttp://www.tainguyenmoitruong.com.vn/quoc-te/111ong-bang-song-cuu-long-sap-201cbien-mat201d/imageHôm nay là ngày mồng Bốn. Hết tết rồi!  Tôi sẽ tiếp tục loạt bài ghi chếp cuối năm.  Lần này tôi muốn ghi lại một số cảm nhận cá nhân về nông thôn miền Tây nam.


Nói đến nông thôn, chúng ta thường hay nghĩ đến một vùng đất đồng ruộng và cây trái xanh tươi, gió mát trăng thanh, những con đường làng mơ mộng, dòng sông lửng lờ, những con người hiền lành mộc mạc, v.v… Nhưng bức tranh nông thôn mà tôi cảm nhận được trong những năm gần đây thì hoàn toàn tương phản với những hình ảnh mà chúng ta từng có trong tâm tưởng hay kí ức của một thời xa xăm.

http://www.onlinetravelvietnam.com/images/uploads/Product/Mekong-Delta.jpg
Đẹp như tranh!
Phát triển theo hướng thiếu qui hoạch 

Tình trạng bùng nổ dân số dẫn đến mật độ dân số càng ngày càng cao.  Theo một thống kê gần đây thì vùng Đồng bằng sông Cửu Long có một dân số lên đến 17 triệu, tăng gần gấp 2 lần so với 20 năm trước đây.  Trong khi đó thì (dĩ nhiên) diện tích đất cố định, hay thậm chí diện tích đất cho cư dân càng ngày càng giảm.  Do đó, không ai ngạc nhiên khi thấy mật độ dân số ở các tỉnh miền Tây tăng một cách chóng mặt.  Nhà cửa ở vùng nông thôn mà san sát nhau, giống y chang như mật độ nhà cửa ở thành phố.

Ngày xưa ở làng tôi, xa xa mới có một căn nhà, nhưng ngày nay thì nhà cửa san sát nhau.  Nhớ ngày còn đi học trường làng, cứ đến chân cầu là tôi phải dớn dác nhìn quanh, rồi ba chân bốn cẳng … chạy.  Số là khu đầu voi gần cầu này có một bụi tre già, và người lớn tuổi trong làng hay kể nhau rằng nhiều khi có con ma mặc bộ đồ trắng ra nhát.  Đám trẻ nhỏ chúng tôi nghe được câu chuyện, nên cứ mỗi lần đến đây là phải nhìn quanh rồi chạy, vì sợ ma nhát.  Nay thì bụi tre không còn nữa, và thay vào đó là 6 căn nhà lớn nhỏ, thêm một quán cà phê vườn, trông rất … sầm uất.

Ở quê tôi, tình trạng nhà cửa xây dựng một cách vô qui hoạch tạo nên một khung cảnh nông thôn cực kì nham nhở, xấu xí.  Chẳng nói đâu xa, gia đình của chị Hai D có 4 đứa con, và chúng lớn lên thì có gia đình; và thế là khu đất của chị được cắt thành 4 mảnh cho 4 gia đình mới.  Tùy theo khả năng tài chính, có đứa thì xây nhà gạch, có đứa xây nhà gỗ, và có đứa nghèo hơn thì chỉ nhà tranh vách lá.  Gia đình của chị Hai D chính là một bức tranh thu nhỏ của làng tôi.  Có năm tôi về nhà tìm đường qua sông (vì nhà tôi ở bên kia sông) mà tôi không tìm ra được bến để xuống xuồng qua sông vì hai căn nhà mới mọc lên sát mé sông đã làm mất bến xuồng của tôi.

Ô nhiễm 

Nhìn một cách tổng quan, một trong những vấn nạn lớn nhất của Việt Nam hiện nay là vấn đề ô nhiễm môi trường.  Ô nhiễm không chỉ ở thành thị, mà còn nghiêm trọng hơn là ở các vùng nông thôn.  Dân số tăng, cơ sở hạ tầng còn kém và chưa đáp ứng được tốc độ tăng trưởng, nên dẫn đến tình trạng ô nhiễm.  Cơ sở hạ tầng tôi muốn nói ở đây là phương tiện xử lí rác.  Không có một làng quê nào có phương tiện xử lí rác.  Ngày xưa, khi còn nghèo, rác chủ yếu là rác hữu cơ và thường thường là tan rã sau vườn hay dưới sông, nên cũng chưa hẳn gây ô nhiễm trầm trọng.  Còn bây giờ, người dân khá lên và dùng bao plastic thay cho tre hay lá chuối, nên tình trạng ô nhiễm vô cùng nghiêm trọng.  Ở những thành phố lớn như Cần Thơ, chỉ có 60% rác được xử lí.  Ở nông thôn, chưa biết con số này là bao nhiêu, nhưng tôi nghĩ chắc không đầy 10%.

Vì không có phương tiện xử lí rác, nên rác hữu cơ và vô cơ không vứt ngoài vườn, ngoài ruộng, thì cũng xuống sông.  Có thể nói không ngoa rằng những con sông rạch ở miền Tây là những bãi rác khổng lồ.  Ngày nay, đi bất cứ con sông nào trong vùng, tôi cũng thấy đủ thứ bao plastic và đồ ăn thức uống trôi lềnh bềnh.  Đó là chưa kể đồ dùng trong nhà, từ chiếu giường đến lò bếp cũng có mặt trên sông.  Thậm chí, xác gia cầm cũng vứt xuống sông!  Con sông còn là bãi rác hóa học.  Tất cả những thuốc trừ sâu và diệt cỏ sử dụng trên ruộng cũng đều theo nhau xuống sông.  Trong những mùa lúa, dễ dàng thấy nước sông có những vệt nước giống như dầu (mà thực chất là thuốc hóa học trừ sâu).  Ở quê tôi ngày nay không ai dám tắm sông.  Tôi nghĩ rằng những con sông vùng Đồng bằng sông Cửu Long là những con sông hoặc đang hấp hối hoặc đã chết.


http://xttm.agroviet.gov.vn/ASPXBackend/uploads/sxuat2.jpg
Gặt lúa

Nước sông ô nhiễm dẫn đến thiếu nước sạch.  Những con số làm cho chúng ta phải quan tâm: chỉ có trên dưới 30% các hộ nông thôn có cầu xí đạt tiêu chuẩn vệ sinh; chỉ có 50% hộ gia đình có nguồn “nước sạch”.  Bởi vì không ai dám dùng nước sông cho sinh hoạt hàng ngày, nên người ta phải đào giếng.  Nhưng ngay cả nước giếng cũng hàm chứa nhiều hóa học độc hại, kể cả arsenic.  Không biết Việt Nam đã có nghiên cứu nào chưa, nhưng tôi đọc đâu đó thấy bên Thái Lan, việc đào giếng dẫn đến tình trạng đất bị lún, đến nổi chính quyền cấm không cho đào giếng nữa.  Còn ở nước ta, hình như giải pháp đào giếng vẫn được chính quyền xem là thực tế nhất.  Tại sao không suy nghĩ đến việc xây dựng những cây nước cho từng ấp như bên Mĩ vẫn làm?

Người Việt Nam chúng ta có văn hóa vào chứ không có văn hóa ra.  Lo ăn uống mà không quan tâm đến đầu ra.  Chúng ta xây nhà cửa, tòa nhà hoành tráng, nhưng đằng sau là một bãi rác khổng lồ.  Nhà hàng phía trước thì rất trang trọng, nhưng phía sau thì toilet ôi thôi không tưởng tượng nổi.  Hình như người Việt chỉ chú trọng bề ngoài, chứ phía sau thì rất bê bối.  Tôi nghĩ có thể chính vì không có văn hóa đầu ra, nên người ta không ý thức được vấn đề vệ sinh và ô nhiễm, và dẫn đến tình trạng môi sinh bi đát như hiện nay.  Hi vọng là tôi sai.

Vấn đề an ninh 

Nói đến miền quê, chúng ta hay nghĩ đến một nơi an bình, nơi mà chòm xóm đùm bọc nhau khi có hoạn nạn.  Có thể bức tranh đó chỉ đúng trong quá khư, chứ ngày nay, thật ra thì hình ảnh đó chỉ đúng một phần.  Khi mật độ dân số tăng, tội phạm cũng tăng theo.  Ở miền quê, khi thanh thiếu niên lớn lên và không có việc làm, họ quay sang ăn trộm, ăn cắp.  Chẳng những nạn trộm cắp hoành hành, tình trạng bạo lực cũng càng ngày càng đáng ngại.

Thật vậy, nạn trộm cắp hoành hành khắp nơi ở quê tôi.  Tất cả tài sản đều là đối tượng của trộm cắp.  Gà, vịt, chó, thậm chí cả heo đều có thể bị trộm.  Em tôi bỏ tiền ra nuôi vài trăm con cá điêu hồng trong cái ao sau nhà, nhưng cá chưa lớn thì đã bị ăn trộm câu sạch.  Cây mít sau vườn không khi nào có trái để chủ nhà ăn, vì bọn ăn trộm đã hái trước khi bất cứ trái mít nào chín.  Chuối, xoài, cam, quít, mận, bưởi, v.v… tất cả đều chịu chung số phận.  Có nhà bực mình quá, nên phải bày một cái giường ngoài vườn để ngủ đêm, phòng ăn trộm!

Thủ phạm ăn trộm dưới quê thường là người làng bên, nhưng gần đây thì có xu hướng người Khmer bên Cambodia sang Việt Nam ăn trộm.  Hôm nọ, nhà cậu tôi bị ăn trộm, nhưng vì nhà có nhiều người nên thủ phạm bị bắt.  Hai tên trộm là người Khmer nhập cư bất hợp pháp (thật ra, họ đi từ biên giới Hà Tiên), không nói được tiếng Việt.  Nhưng khi đến đồn công an có người nói tiếng Khmer thì hai anh chàng nói là … câm điếc. :-)  Tình trạng trộm cắp ở miệt vườn đã trở nên quá phổ biến, đến nổi người dân chấp nhận sống chung như sống với lũ.

Ăn trộm chưa nguy hiểm bằng đâm chém.  Chưa bao giờ làng quê của tôi có những băng đảng đâm chém nhau như ngày nay.  Người dân làng vẫn còn nhớ những trận đánh nhau kinh hoàng và đẩm máu mà công an xã cũng không dám can thiệp, phải “cầu viện” lực lượng cảnh sát cơ động để giải quyết.  Phần lớn những băng đảng này là nhưng thanh thiếu niên mới lớn, có khi là con các … quan lớn.  Chúng dùng xe gắn máy đi gây sự với những ai chúng không ưa thích.  Vũ khí chúng thường dùng là súng, dao, kiếm, có thể gây tác hại tối đa cho nạn nhân.  Lễ Nobel vừa qua, vị linh mục làng tôi không dám tổ chức lễ khuya như mọi năm, vì có tin các băng đảng sẽ lợi dụng lễ để thanh toán nhau.  Thật là khó tưởng tượng nổi một làng quê êm đềm ngày nào mà bây giờ là một nơi có tiềm năng trở thành bãi chiến trường cho bọn côn đồ!

Không biết đã có những nghiên cứu nào về tình trạng bạo lực ở nông thôn hay chưa, nhưng tôi nghĩ đây là vấn đề nghiêm trọng.  Tình trạng bạo lực và cái ác đang lan tràn là một tín hiệu cho thấy đạo đức xã hội đang xuống cấp đến mức báo động.  Có giả thuyết cho rằng vì vai trò của tôn giáo càng ngày càng mờ nhạt trong xã hội, nên mới dẫn đến tình trạng suy đồi đạo đức xã hội như hiện nay.  Trong một thời gian dài, hoạt động tôn giáo bị đàn áp hay hạn chế.  Chúng ta không có những đoàn thanh niên Phật tử, không có đoàn thể thanh niên của Công giáo.  Ngay cả đoàn thể như Hướng đạo cũng bị cấm một thời gian dài.  Trong khi đó, đại đa số thanh niên không thiết tha gì đến việc tham gia (chứ chưa nói sinh hoạt trong) các đoàn thanh niên mang màu sắc chính trị như Đoàn Thanh niên Cộng sản.  Hệ quả là thanh niên ngày nay mất định hướng đạo đức xã hội.  Tôi nghĩ giả thuyết đó cũng đúng, nhưng tôi nghĩ suy cho cùng, văn hóa là mầm mống của tất cả.  (Cố nhiên, văn hóa bao gồm cả tôn giáo, vì tôn giáo là một thành tố làm nên văn hóa).  Vì thiếu cái phông nền văn hóa, nên thanh thiếu niên không nhận dạng được lằn ranh giữa cái ác và cái thiện, và cộng với thiếu trình độ văn hóa, họ sẵn sàng sử dụng bạo lực để giải quyết những xung đột cá nhân.

Giáo dục

Nói về thực trạng giáo dục ở miền Tây, có lẽ bài sau đây (trên Người lado động) cung cấp cho chúng ta vài con số đầy đủ hơn là những nhận xét cá nhân:

ĐBSCL: vùng “trũng” giáo dục

Tỉ lệ chưa đi học còn cao

Theo số liệu điều tra dân số năm 2009, nước ta còn 4 triệu người chưa bao giờ đi học, chiếm 5% tổng số dân. Số người 15 tuổi trở lên chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm tỉ lệ 86,7%. Trong đó, cao nhất là ở ĐBSCL (93,4%) và thấp nhất là ở đồng bằng sông Hồng (80,6%).

ĐBSCL gồm 13 tỉnh, TP từ Long An đến Cà Mau với dân số 17.213.400 người. Tại hội nghị các tỉnh, TP ĐBSCL bàn về nguồn nhân lực tổ chức ngày 4-12-2010 ở TP Cần Thơ, UBND TP Cần Thơ đã báo cáo năm 2010, trong lực lượng lao động của TP trung tâm ĐBSCL này có 4,9% số người chưa bao giờ đi học; 22,5% chưa tốt nghiệp tiểu học. Tổng cộng, tỉ lệ chưa bao giờ đi học và chưa tốt nghiệp tiểu học là 27,4%.

An Giang có dân số cao nhất vùng ĐBSCL (2.149.200 người) và cũng là tỉnh trọng điểm sản xuất lúa. Theo báo cáo của tỉnh này, năm 2009, trong số người 15 tuổi trở lên có tới 10,3% chưa bao giờ đi học; 31,7% chưa tốt nghiệp tiểu học. Còn tại tỉnh Trà Vinh, trong số lao động đang làm việc có đến 15% chưa bao giờ đến trường hoặc chưa tốt nghiệp tiểu học.

Nếu tổng cộng toàn vùng ĐBSCL thì có đến 6,9% số người từ 15 tuổi trở lên chưa đi học (chiếm gần 1 triệu người) và 26,7% chưa tốt nghiệp tiểu học (gần 3,5 triệu người). Cộng số chưa đi học và số chưa tốt nghiệp tiểu học là 33,6% (4,5 triệu người) - con số khiến chúng ta phải trăn trở.

Trình độ nghề nghiệp thấp

Do tỉ lệ người chưa đi học và chưa tốt nghiệp tiểu học tại ĐBSCL còn cao nên dẫn đến hậu quả là trình độ nghề nghiệp cũng thấp hoặc không có nghề. Tỉnh An Giang có đến 94,2% số người từ 15 tuổi trở lên chưa được đào tạo nghề.

Tỉ lệ này ở tỉnh Trà Vinh là 74,5%. Tỉ lệ chưa được đào tạo nghề của toàn vùng ĐBSCL lên đến 93,4%. Số lao động được đào tạo chủ yếu là ngắn ngày (32,8%). Trong đó, trình độ CĐ trở lên chỉ 2,6% và thực tế số người được đào tạo trình độ ĐH, CĐ lại phần lớn là hệ tại chức.

Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, ĐBSCL hiện có 11 trường ĐH, 1 phân hiệu ĐH và 27 trường CĐ. Năm 2010, toàn vùng có 166.111 sinh viên. Điểm đáng lưu ý là sinh viên hệ tại chức chiếm tỉ lệ rất cao so với hệ chính quy. Cụ thể, ở Trường ĐH Trà Vinh, tỉ lệ này là 177,9%.

Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê, vào thời điểm năm 2009, cứ 1 vạn dân ĐBSCL thì có 71,5 sinh viên ĐH, CĐ. Đây là tỉ lệ thấp nhất khi so với các vùng trong cả nước (đồng bằng sông Hồng là 370 sinh viên/vạn dân, trung du và miền núi phía Bắc: 108 sinh viên/vạn dân, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung là 169 sinh viên/vạn dân, Đông Nam Bộ là 344 sinh viên/vạn dân).

Từ cơ sở học vấn của người lao động còn thấp nên rất dễ lý giải vì sao năng suất lao động và thu nhập đầu người của ĐBSCL vẫn thấp hơn so với các khu vực khác.”

Trích báo nld.com.vn

Những con số được trình bày một cách rối rắm, nhưng đọc kĩ thì thấy vài xu hướng rất đáng lo ngại:
  • Gần 7% người trên 15 tuổi (tức gần 1 triệu người) chưa đi học;
  • 27% (4.5 triệu người) chưa tốt nghiệp tiểu học;
  • Tỉ lệ sinh viên trên 10,000 dân là 71.5, thấp nhất nước. Như vậy toàn vùng ĐBSCL chỉ có 121,500 sinh viên.
Như chúng ta biết trên dưới 70% dân số Việt Nam sống ở nông thôn, hay làm nghề nông.  Trong những năm bao cấp, cuộc sống của người dân ở nông thôn miền Nam hết sức khó khăn,  những khó khăn mà – nói theo Nhà văn Bùi Ngọc Tấn – Một thời mà mỗi khi nhớ lại, bỗng nhiên thấy mình đã là những người anh hùng, đã vượt qua một quãng đời tưởng như là bịa đặt, không thể nào tin được.  Và thế hệ hôm nay càng chẳng thể quan niệm nổi.  Nhưng sau khi có chính sách đổi mới chỉ vài năm, nông thôn Việt Nam phát triển một cách nhanh chóng, nhanh đến nổi chóng mặt.  Nói chung là những phát triển theo chiều hướng tích cực, nhưng cũng có vài hiện tượng tiêu cực đi kèm.

Nhưng nói chung đời sống của người nông dân vẫn còn nhiều khó khăn.  Trong khi nhiều người khá lên thì cũng có nhiều người khác dậm chân tại chỗ, thậm chí thiếu ăn.  Sau thời kì bao cấp hợp tác xã, Nhà nước có chia ruộng cho những gia đình nào chưa có ruộng.  Thông thường một gia đình được chia khoảng 3 đến 5 công đất để trồng lúa.  Nhưng sau một thời gian, nhiều gia đình không có khả năng tài chính để duy trì ruộng, và phải bán cho những gia đình có tiền của trong xóm.  Trắng tay lại hoàn trắng tay.  Họ quay sang nghề cũ là làm mướn.  Mỗi ngày làm mướn chỉ được 30.000 – 50.000 đồng, tức trên dưới 2-3 Mĩ kim.  Với một thu nhập khiêm tốn như thế, họ chỉ sống qua ngày ...

Hai trong những vấn đề lớn nhất của nông dân hiện nay là y tế và giáo dục.  Hệ thống y tế nông thôn trước đây gần như là không có, cho nên sau này, xây dựng một hệ thống y tế dự phòng ở nông thôn đòi hỏi một chi phí rất lớn.  Ngay cả hiện nay, nhiều làng xã không có cơ sở y tế.  Xã tôi may mắn hơn vì có một trạm y tế (do một người Đức, có vợ là một cô gái trong làng, xây và tài trợ) và có bác sĩ, y sĩ chăm sóc những bệnh thông thường cho bà con.  Thành ra, khi có vấn đề sức khỏe, người dân phải hoặc là đi bệnh viện huyện hay bệnh viện tỉnh.  Cả tỉnh chỉ có một bệnh viện đa khoa duy nhất (khoảng 1000 giường).  Tuy số giường không phải là nhỏ so với các bệnh viện Tây phương, nhưng vì dân số liên tục gia tăng, nên bệnh viện này càng ngày càng lâm vào tình trạng quá tải.  Có khi, như đề cập ở một bài viết khác, 2, 3 người bệnh phải nằm chung một giường!

Trong khi thu nhập của nông dân hết sức khiêm tốn, thì chi phí chữa trị bệnh tật lại cực kì đắt đỏ.  Ngày nay, người dân không bị bệnh truyền nhiễm, mà những bệnh liên quan đến ăn uống và thừa thải thực phẩm.  Những bệnh thường hay gặp nhất ở nông thôn ngày nay là: cao huyết áp, tiểu đường, khớp xương, tim mạch và tai biến mạch máu não.  Mỗi lần đi khám bệnh, chi phí bác sĩ thì không bao nhiêu, nhưng cái toa thuốc kèm theo mới làm cho nhiều gia đình điêu đứng, méo mặt.  Chẳng hạn như dì tôi bị bệnh tiểu đường, mỗi lần đi khám bác sĩ đều có một toa thuốc trị giá 600.000 đồng có thể dùng trong vòng 1 tháng.  Đó là chưa kể các dịch vụ thử nghiệm khác, cũng tốn khoảng 100.000 đồng một lần.  Một người nông dân làm trung bình 1 tháng chưa chắc đủ tiền để trang trải toa thuốc này.  Chính phủ chẳng có tài trợ gì, người dân phải tự lo liệu lấy.

Toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cứ 10.000 dân số có 18 giường bệnh, trong khi đó chỉ số cho cả nước là 35 giường.   Ngoài ra, sự thiếu thốn về dụng cụ y khoa vẫn còn triền miên.  Nhưng một vấn đề khó khăn khác là nhân sự trong hệ thống y tế còn thiếu nghiêm trọng.

http://img.vietnam.vn/2010/11/22/18/16/LuaL.jpg

Đời sống của người nông dân nói chung là một cuộc đấu tranh liên tục.  Đấu tranh chống cái nghèo.  Đấu tranh chống lại thiên nhiên.  Mấy năm trước đây là họa ốc bưu vàng.  Nay thì sâu rầy đang làm bà con khốn đốn.  Muốn chống lại sâu rầy, bà con phải tiêu ra hàng nửa triệu đồng (một số tiền không phải là nhỏ) để mua thuốc trừ sâu.  Cái khó trong việc trừ sâu là càng dùng thuốc mạnh, thì sâu rầy càng biến hóa đề kháng thuốc, và nông dân càng dùng thuốc mạnh hơn.  Mà nếu dùng thuốc quá mạnh thì sẽ làm cho chết cá, một mối nguy cơ đối với người nông dân.  Nói như một anh hàng xóm, “Sâu nó cũng như người mình vậy, nó cũng tìm cách thích nghi và sống sót, biết bao giờ mới xóa bỏ được nó.”  Nhà nước có chương trình giáo dục về cách dùng thuốc trừ sâu, thậm chí có lệnh cấm dùng những thuốc có hại đến cá và môi trường, nhưng bà con vẫn cứ liều, bị phạt thì chịu, chứ để chết lúa thì chắc là không.  Các nhà khoa học nông nghiệp cũng khá thành công trong việc nghiên cứu thuốc trừ sâu mới an toàn cho môi trường, nhưng thường thường họ đi sau con sâu khoảng 1 đến 2 năm!  Bài toán trừ sâu thật là nan giải.

Với chi phí sản xuất càng ngày càng tăng, mà sản lượng lúa và giá lúa thì gần như chẳng có gì thay đổi, nên dẫn đến tình trạng thu nhập càng ngày càng ít.  Theo một thống kê mà tôi đọc được gần đây, mặc dù Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực dẫn đầu về sản xuất lúa gạo, nông sản, hải sản cho cả nước, và có lẽ cũng là một trong những trung tâm sản xuất lúa gạo lớn trên thế giới, nhưng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội ở đây nói chung còn thấp so với các vùng khác trong nước.  Mỗi, số lượng gạo xuất khẩu từ vùng ĐBSCL là 4 triệu tấn, đem về hàng tỉ USD cho cả nước.  Dĩ nhiên, thành tích này là do sự đóng góp từ nông dân vùng ĐBSCL.  Nhưng trớ trêu thay, chỉ có 15% số tiền này là đến tay người nông dân, một số lớn (45%) lại nằm trong tay các công ty quốc doanh, và phần còn lại lọt về các tay trung gian buôn bán.  Thật là hết sức bất công!

Chả thế mà vùng đất vốn mang tiếng "thừa gạo", nhưng lại bị thiệt thòi hầu như trên mọi mặt, thua kém các vùng khác trên hầu hết mọi chỉ số về kinh tế và xã hội.  Thực ra, đối với phần đông bà con vùng ĐBSCL, hai chữ "thừa gạo" là một sỉ nhục.  Theo một nghiên cứu gần đây của trường đại học Cần Thơ, khoảng 60% dân số thiếu gạo ăn từ 4 tới 5 tháng.  Hơn ba phần tư dân chúng vẫn còn ở nhà tranh vách lá.  Thu nhập quân bình của bà con trong vùng cũng thấp hơn cả nước và không theo đuổi kịp lạm phát.  Do đó, dù nông thôn ĐBSCL đã phát triển và còn đang phát triển nhanh, đời  sống dân khá hơn trước nhiều, trường học phát triển nhiều, hệ thống y tế cũng về đến tận làng xã, v.v…. nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết.
Read more ...

Nhớ Tết miệt quê

Thứ Năm, 3 tháng 2, 2011
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhiohvEJmJIp24QbPocMsruQwPLVYnQS_9g1S5TRwi1U5dKQ-R1Zdz85n8H_aQTcCKYjalMvFEMZz-NJpsuH1iKvPLSOt_reYvk7elGTjvuYEK0_rYG3zhyphenhyphenQzJdu-tnw9-FZlbnuvVXyA/s400/vietnamese-new-year.jpgĐón xuân này, tôi nhớ xuân xưa.  Một ca khúc đã khá xưa.  Lời ca gợi lại bao nhiêu kỉ niệm của những cái Tết miệt vườn thời còn chiến tranh.  Đó là những cái Tết vào cuối thập niên 1960s và đầu thập niên 1970s.  Những cái Tết trong thời chiến.  Nhưng đánh nhau thế nào đi nữa, thì ngày Tết người ta cũng độ lượng hơn, sẵn sàng bỏ qua những hiếm khích ngày thường.  Tuy chiến tranh có lúc sôi động, lúc ác liệt, nhưng đến ngày Tết thiêng liêng, đạn bom cũng phải nhân nhượng cho 3 ngày của tình thương và xum họp gia đình.


Ở miệt quê tôi, Tết thật ra đến sớm hơn ngày mồng Một.  Đó là lúc mà lúc trời bắt đầu se se lạnh, những cơn gió bấc bắt đầu thổi lao xao, nước sông lăn tăn gợn sóng.  Đó là lúc mùa gặt lúa xong xuôi, lúa đã vào bồ.  Má tôi tất tả chuẩn bị nào nếp, nào gạo, nào đậu, thịt thà … để nấu bánh tét.  Dĩ nhiên là không thiếu những tấm vải để may áo mới cho mấy đứa em gái tôi (còn tôi và anh Hai vì đi học trên “thành” nên tự cho mình cái đặc quyền tự chọn bộ đồ nào ngon lành nhất).  Tôi về nhà trước Tết cả hai ba tuần để gọi là “phụ giúp” ba má tôi (nhưng trong thực tế giúp thì ít mà đi chơi thì nhiều).  Nói cho ngay, tôi cũng có phụ giúp lau chùi nhà cửa và nấu nồi bánh tét sau vườn.  Công việc đánh bóng bộ lư đồng này tuy đơn giản nhưng khá tốn công.  Dụng cụ và nguyên liệu để đánh bóng chỉ là trấu, tro, và miếng vải mà thôi.  Sau này có thêm vài chất hóa học, nhưng hình như loại chất này làm mòn đồng hơn là trấu, và cái bóng của nó cũng không bằng cái bóng của trấu.  Phải tốn đến cả nửa ngày mới làm xong bộ lư.   Xong cái lư đến việc phụ giúp nấu nồi bánh tét sau vườn, với nhiệm vụ duy nhất là canh chừng nồi bánh.  Hễ thấy củi sắp cháy hết thì bỏ củi mới vào.  Trong ánh lửa bập bùng và khí trời dịu mát của mùa giáp Tết, tôi ngồi đọc sách và kể chuyện Tam Quốc chí cho lũ nhỏ đang vảnh tai ngồi nghe một cách say mê.  Bây giờ nghĩ lại những khoảnh khắc đó, tôi như thấy lại một khung trời đầy kỉ niệm và hạnh phúc.

 http://image.rol.vn/Resources/2009/01/21_DOOL_080121_CD_L1_H1.jpg

Ngày 30 Tết là ngày tôi cũng bận rộn chút đỉnh.  Công việc của tôi là đem mấy đòn bánh tét đi cho khắp xóm và bà con.  Bà con tôi trong làng rất đông, nên tuy cái việc mới nghe qua thì rất đơn giản, nhưng thật ra tốn rất nhiều công sức.  Phải bơi xuồng ngang dọc mấy con kinh rạch để ghé từng nhà và cho bánh.  Đến nhà nào, tôi chỉ việc nói một câu học thuộc lòng, “Má con gửi chú/bác/thiếm/dượng/dì/cô/cậu vài đòn bánh tét”, nhưng thỉnh thoảng tôi lại “chế” ra vài chữ mà tôi nghĩ là hay ho hơn như “ăn lấy thảo trong 3 ngày xuân”.  Khổ nỗi là mấy lời tôi chế ra có khi làm cho bà con cười nhạo, vì trong quê có ai nói “xuân” đâu; người ta nói “Tết” thôi.  Do đó, tôi mang tiếng là “công tử thành”, vì mấy chữ trong sách vở như thế được xem chữ của dân thành thị!  Còn nhớ có lần cậu hai Đ ở rạch Lô Bích thấy tôi, ổng hỏi “Dìa hồi nào đó mậy?” Tôi trả lời “Dạ, con mới về hôm kia”, và thế là bị ổng sửa lưng liền: ở đây tụi tao chỉ nói dìa chứ hông phải về nghe mậy!  Nói xong, cậu hai tôi cười lớn, làm tôi thấy mình … quê.  Đó là những chuyến “công tác”, nói theo cách nói bây giờ, là góp phần nối kết bà con, chòm xóm với nhau trong 3 ngày Tết.  Thông lệ cho bánh Tét trong dịp Tết phải nói là một truyền thống rất hay, một nét văn hóa đẹp của người miệt vườn.

Xong phần cho bánh là đến ngày 30, một ngày có thể nói là quan trọng.  Đó là ngày cả nhà quây quần chuẩn bị cúng đón ông bà tổ tiên về nhà.  Những nén nhang trên bàn thờ như mời gọi ông bà về nhà.  Những trái cây được sắp xếp trên bàn thờ như là một “phát ngôn” cầu mong để được cầu (mảng cầu) cho vừa (dừa) đủ (đu đủ) xài (xoài).  Người miền quê chỉ khiêm tốn thế thôi, chỉ cầu mong ông bà phù hộ sao cho năm tới gia đình vừa đủ xài.  Còn ngày nay, trong thế giới đầy bon chen này, hình như người Việt chúng ta cũng chỉ mong ước có vừa đủ:

Vừa đủ vật chất để được thảnh thơi sống
Vừa đủ bạn bè để bớt cô đơn
Vừa đủ nghị lực để nói không với cái xấu
Vừa đủ hi vọng để đón chờ hạnh phúc
Vừa đủ hạnh phúc để tâm hồn cảm thấy ngọt ngào.
Vừa đủ tình yêu để thực hiện hy vọng và ước mơ!
Vừa đủ thành công để thêm nhiệt huyết
Vừa đủ thử thách để có cơ hội rèn luyện
Vừa đủ phiền muộn để thấy mình là một con người
Vừa đủ thất bại để biết khiêm nhường
Vừa đủ nhiệt tình để đi đến cùng các dự tính
Vừa đủ niềm tin để xua đi những phút ngã lòng

Ngày mồng Một là ngay chúng tôi qui tụ ở nhà ngoại.  Có thể nói thời đó, nhà ngoại tôi luôn luôn là “tổng hành dinh” của ngày Tết. Tất cả con cháu đều tụ tập về nhà ngoại.  Đó là ngày hạnh phúc nhất của tôi, vì hôm đó là ngày tôi được gặp lại mấy người dì, dượng, cậu, anh em lưu lạc tứ phương ít khi gặp nhau trong năm qua.  Người lớn thì loay hoay chuẩn bị bàn thờ để cúng. Mấy dì cô lúc nào cũng bận bịu dưới bếp lo nấu nướng.  Mấy cậu dượng thì có người tán gẩu, có người đánh cờ, nhưng cậu Út Chân của tôi thì lúc nào cũng lo cái bàn thờ rất trang trọng.  Còn bọn trẻ chúng tôi chỉ chờ được sai vặt, và được ... lì xì.  Đó là một bức tranh ngày Tết hết sức sinh động còn đọng lại trong tôi.  Bọn trẻ cùng tuổi đi học như tôi thì tâm sự nhiều lắm, có khi khoe khoang nữa. Bao nhiêu câu chuyện buồn vui trong thi cử, tình yêu, làm ăn, đều lần lược được thuật lại và chia sẻ.  Năm qua gặp ông thầy hắc ám, năm tới sẽ thoát nạn.  Năm rồi có cô H nhờ đưa thư tình cho thầy B.  Thích lắm!  Những toan tính hoài bảo tương lai, xong tú tài sẽ làm gì, vào đại học hay đầu quân, bạn bè ai còn ai mất.  Những dịp như thế, lúc nào tôi cũng hỏi nhỏ cô em họ tên Đ (nó rất xinh gái) rằng năm qua có mấy người "ngắm nghía mày, tao biết hết"; cô ta sợ tôi lắm vì sợ bị báo cáo cho cậu mợ là nó "mệt", nhưng nói ngay tôi làm công tác bảo mật rất tốt. Hai anh em tôi rất thân nhau, vì cùng tuổi và quan điểm sống cũng giông giống nhau. Có lúc tôi bắc cái võng giữa hai cây cau, nằm đó vừa kể chuyện vừa nghe chuyện của anh em, thấy vừa hạnh phúc vừa bình an dưới thế gian.

Có một lần dượng Út tôi mua được một cái máy hát dĩa hiệu Philip, và dượng muốn “khoe” của nhân ngày Tết.  Bọn trẻ chúng tôi chỉ đứng chung quanh chứ không được đến gần máy mà nghe nói tốn cả chục giạ lúa để mua, và đó là một tài sản tương đối lớn.  Tôi còn nhớ đó là loại máy hát giống như cái vali lớn, khi dùng phải mở ra như mở vali.  Máy hát này phải lên giây thiều, và chỉ dùng dĩa nhựa hay dĩa than (tôi quên) nhưng toàn màu đen.  Dượng trịnh trọng mở máy, đặt cái dĩa Mỹ Châu lên, rồi cẩn thận để kim vào dĩa, và chúng tôi thưởng thức những ca khúc Tết như Xuân này con không về, Câu chuyện đầu xuân, Cánh tiệp đầu xuân, Mùa xuân trên cao,  Hạnh phúc đầu xuân, Nhạc khúc mừng xuân, Nếu xuân này vắng anh, v.v… Thích nhất là dĩa nhạc hài của ban AVT và vọng cổ Văn Hường.  Đó là những ca khúc sống mãi cùng năm tháng, lúc nào cũng được cất lên khi có ngày Tết, cho dù lời ca hay nhạc điệu có bị dè bỉu là “sến”.   Ai nói sến tôi chịu, nhưng đã 40 năm qua, tôi chưa thấy một ca khúc nào viết được những lời ca như thế này: Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng / Xuân đến rồi đây nào ai biết không? / Mang những hoài mong đi vào ngày tháng / Bao nhiêu mơ ước đến khi mùa Xuân sang.  Tôi chúc gì đây vào mùa Xuân này / Khi nắng vàng tươi nhuộm làn tóc ai / Khi gió nhẹ lay hoa đào hồng thắm / Trong khi Xuân ấm mới tô đẹp tháng năm.

Không biết ở vùng khác thì sao, nhưng ở quê tôi, có nhiều người ra đồng từ ngày mồng hai.  Ra đồng để xem ruộng lúa, nhưng trong thực tế cũng là dịp để ghé qua hàng xóm nhâm nhi, tán gẩu nhân dịp đầu năm.  Ở dưới chợ thì có múa lân và đánh bầu cua cá cọp cũng vui.  Nhưng tôi thì không bao giờ tham dự vào những trò chơi này, mà chỉ lân la ghé nhà bà con, nhà thầy cô, hay ra Rạch Giá chúc Tết bạn bè.

Ở dưới quê, ngày mồng Ba có lệ coi chân gà.  Mà phải là gà trống, vì hình như người ta cho rằng gà trống là biểu tượng của các đức tính cao quí như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.  Gà được luộc chính, chéo cánh gà, và quan trọng nhất là xem cặp chân gà.  Phải là cặp chân màu vàng mới được xem là biểu tượng tốt, có nghĩa là sung mãn, tốt đẹp trong năm.  Miệng gà thì để cọng hành lá cho gà ngậm, hình như có nghĩa là “thông”, tức là mong cho công việc làm ăn quanh năm suốt tháng sẽ được thông suốt.  Cúng xong, ba tôi treo cặp chân gà trước cửa nhà, nghe nói là để trừ tà ma.  Riêng tôi thì hôm đó có một bữa ăn gà.  Gà thời đó là gà nuôi trong nhà (hay "gà chạy bộ" theo cách nói ngày nay) nên thịt rất ngon chứ không phải như thịt gà công nghiệp như bây giờ.  Nhưng chúng tôi không được ăn chân gà, vì người lớn nói là ăn chân gà thì tay sẽ bị run không cầm viết được!

Đón xuân này, tôi nhớ xuân xưa. Mỗi người chúng ta đều có một góc quê, một hình bóng, hay những kỉ niệm ở quê hương.  Đối với tôi, đó là cái làng êm ả bên dòng sông lặng lờ trôi, là hình bóng của ba má tôi trong những ngày Tết, là kỉ niệm êm đềm của một thời xum họp anh em.  Nay thì cái hình ảnh quê nhà đó đã nhạt nhòa trong kí ức, hình bóng ba má tôi cũng đã dần khuất xa, và những kỉ niệm xum họp ngày Tết cũng dần dần phai nhạt theo tỉ lệ nghịch với tiến trình đô thị hóa nông thôn.

Xuân đến Xuân đi, Xuân về gieo thương nhớ / Xuân qua để tôi chờ / Xuân đến Xuân đi, Xuân về mơn lá hoa / Xuân qua rung đường tơ.
Read more ...

Giới thiệu statistics.vn và chúc Tết

Thứ Tư, 2 tháng 2, 2011
http://www.danang.gov.vn/photo/pictures/051220-Hoa_mai.jpgChỉ còn một giờ nữa là đến giờ giao thừa (giờ Sydney).  Nhân dịp này, tôi kính chúc các bạn một năm Tân Mão nhiều may mắn, dồi dào sức khỏe, và an lành.  Biết rằng những câu chữ đó là sáo ngữ nhưng tôi nghĩ đó là những sáo ngữ cần thiết.


Nhân dịp năm mới tôi có một món quà tặng bạn đọc.  Rất tiếc, đó không phải là món quà mang tính vật chất.  Nói xa không qua nói gần: đó là trang web www.statistics.vn mà chúng tôi muốn tặng các bạn nhân dịp đầu năm, ngay tại thời khắc thiêng liêng này.

Statistics.vn là một “brain child” của workshop tại Đại học Bách Khoa vào tháng 12/2010 vừa qua, và cũng là một trong những “outcome” của nhiều workshop trước đó do Bộ môn Nội tiết thuộc ĐH Y Dược TPHCM trong những năm trước đó.  Thật ra, đó là một trong những hoài bảo của các bạn quan tâm đến việc ứng dụng khoa học thống kê trong nghiên cứu khoa học, nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường khoa học quốc tế.

Statistics.vn là một nỗ lực của một nhóm bác sĩ, kĩ sư, giảng viên, và chuyên gia trong và ngoài nước.  Mục tiêu của nhóm là nhằm “nhằm giới thiệu các phương pháp thống kê hiện đại có thể ứngdụng cho nghiên cứu khoa học.  Mục tiêu thứ 2 là chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, kể cả những kĩ năng thực tế, trong việc phân tích dữ liệu.  Sau cùng, statistics.vn cũng muốn giới thiệu khoa học thống kê đến công chúng và nhất là giới phóng viên báo chí vốn có nhu cầu sử dụng thống kê hàng ngày.”  Chúng tôi mong muốn statistics.vn sẽ là một mái nhà chung cho những ai quan tâm đến khoa học thống kê ở Việt Nam.

Là một trong những thành viên của nhóm, tôi rất hân hạnh và có vinh dự viết lời giới thiệu trang web đến các bạn xa gần nhân dịp ngày Tết cổ truyền.  Kính mời các bạn ghé thăm www.statistics.vn như là một cuộc du ngoạn đầu xuân Tân Mão 2011.

NVT
Read more ...

Chúc mừng năm mới

Thứ Tư, 2 tháng 2, 2011

Mến chúc các bạn một năm Tân Mão 2011 an lành, thành đạt, và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.

Read more ...

Lại chuyện bầu viện sĩ

Thứ Tư, 2 tháng 2, 2011
Nạn mua bán danh xưng khoa bảng là một chuyện buồn giáo dục ở nước ta. Mấy năm trước tình trạng này đã xảy ra và có nhiều người, kể cả tôi, cảnh báo, nhưng hình như tình trạng này vẫn còn tiếp diễn. Tiêu biểu nhất là bản tin dưới đây trên báo Nhân Dân về một giáo sư được ABI phong viện sĩ.



ABI, nếu dịch sang tiếng Việt, thì rất trang trọng. ABI là viết tắt của American Biographical Institute, tiếng Việt có thể dịch là Viện tiểu sử Hoa Kì (chứ không có chữ nào gọi là “quốc tế” như bài báo trên tờ Nhân Dân dịch).  Danh từ “Viện” nghe rất trang trọng. Đây chính là chỗ đã “bầu” một giáo sư răng hàm mặt Việt Nam làm viện sĩ.  Nhưng để biết đó là một tin mừng hay không thì có lẽ chúng ta cần phải xem xét ABI là ai.

Những ai làm trong khoa bảng đều biết ABI không phải là một viện khoa học nghiêm chỉnh.  Nhưng để cho chắc ăn, chúng ta thử xem wikipedia nói gì về ABI.  Trong mục American Biographical Institute, wikipedia viết như sau: “The American Biographical Institute (ABI) is a paid-inclusion biographical reference directory publisher basedin Raleigh, North Carolina which has been publishing biographies since 1967. It generates revenue from sales of certificates and books.  Its awards are frequently denounced as scams by politicians, journalists, and others.”  (Tạm dịch: Viện tiểu sử Hoa Kì (ABI) là một nhà xuất bản danh mục tham khảo, mà những người có tên trong danh mục phải trả tiền.  ABI có trụ sở ở Raleigh, bang North Carolina, và đã hành nghề xuất bản tiểu sử từ năm 1967. Thu nhập của ABI là từ việc bán các giấy chứng chỉ và sách. Những giải thưởng của ABI thường bị giới chính trị gia và nhà báo tố cáo là lường gạt.)  Trong mục này, wikipedia còn mô tả chi tiết các thương vụ của ABI như cấp các chứng chỉ cho những cá nhân với những danh hiệu cao quí và rất “kêu” như "International Man of the Year" (Nhân vật quốc tế trong năm), "Most Admired Man of the Decade" (Nhân vật được ngưỡng mộ nhất trong thập niên), hay "Outstanding Man of the 21st Century" (Nhân vật xuất sắc của thế kỉ 21).  Wikipedia còn cho chúng ta xem lá thư mẫu mà ABI gửi đến người được “bầu”.  Chú ý mặt trái của lá thư là người được bầu phải cung cấp tài khoản, số thẻ tín dụng để trả tiền để được “bầu” vào những danh xưng vừa đề cập.

File:Letter from American Biographical Institute 150dpi front page.jpg
Một lá thư "câu khách" của ABI (nguồn: wikipedia)
File:Letter from American Biographical Institute 150dpi.jpg
Phía sau của lá thư là chi tiết thanh toán tiền! (Nguồn: wikipedia)


Dựa vào những thông tin trên của wikipedia, rất có thể vị giáo sư của chúng ta là một nạn nhân mua bán danh xưng của ABI. Thật ra, đây là lần thứ hai vị giáo sư này nhận được danh dự của ABI.  Năm 2007, một bản tin khác cho biết ông được bầu làm “Nhân vật của năm 2007”.  Có thể xem đây là trường hợp nạn nhân lần thứ hai?

Cách đây vài năm, tôi có viết một bài trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn cảnh báo về nạn buôn bán danh xưng khoa bảng.  Tuy bài viết đó được nhiều báo in lại, nhưng thỉnh thoảng còn nhiều trường hợp sa đà vào cái bẫy của các cơ sở kinh doanh danh xưng khoa bảng.  Ngoài ABI, còn có nhiều doanh nghiệp khác cũng kinh doanh danh xưng, như IBC (International Biographical Centre, từng hợp tác với ABI) , UCC, WAL, Who is Who, Marquis Who is Who, Manchester Who's Who Registries, Empire Executive and Professional Registry, v.v… Những doanh nghiệp này đã từng bị báo chí phương Tây tố cáo là bịp bợm.  Do đó, họ đã dần dần mất “thị trường” ở các nước phương Tây, và họ đang tìm ra thị trường mới ở các nước còn hạn chế thông tin như ở nước ta và các nước đang phát triển. Ở những nước này, với văn hóa “phải có danh gì với núi sông”, danh xưng là một yếu tố để thăng tiến trong sự nghiệp, và đó chính là những thị trường lí tưởng cho các doanh nghiệp như ABI.

Do đó, không ngạc nhiên khi thấy là nạn nhân của các công ti như thế có khi là những người có quyền thế tột đỉnh.  Những người như Yahya Jammeh (tổng thống Gambia) và Benazir Bhutto (cố thủ tướng Pakistan) từng được ABI bầu làm nhân vật xuất sắc trong năm!  Có điều khá khôi hài là cả Mark Twain và  Martin Luther King được liệt kê trong danh sách Great Minds of the 21st Century (Những bộ óc vĩ đại của thế kỉ 21) dù cả hai đều qua đời trong thế kỉ 20!  Nói tóm lại, các doanh nghiệp này chẳng cần nội dung ra sao, họ chỉ quan tâm đến cái thẻ tín dụng và cái giá mà cá nhân được bầu phải chi trả cho họ.

Việc vinh danh hay trao tặng giải thưởng là một hình thức ghi nhận đóng góp của một cá nhân.  Trong các ngành chuyên môn, đóng góp của một nhà khoa bảng có thể là thành tựu giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu khoa học, đóng góp cho cộng đồng quốc gia và quốc tế, đóng góp cho chuyên ngành, v.v… Những thành tựu và đóng góp phải là những gì công chúng và đồng nghiệp biết, thấy và cảm nhận được.  Chẳng hạn như thành tựu nghiên cứu khoa học phải được thể hiện qua những công trình được công bố trên những tập san khoa học quốc gia và quốc tế, hay đóng góp cho chuyên ngành qua những hoạt động nhằm nâng cao uy tín của ngành và đào tạo thế hệ mới.  Những thành tựu và đóng góp như thế phải cần thời gian để đồng nghiệp và công chúng có thể cảm nhận và ghi nhận, chứ không thể chỉ một sớm một chiều được.  Giải Nobel y học thường được trao cho những nhà khoa học với công trình nghiên cứu đã công bố cả 30 năm trước.  Thật khó tưởng tượng một nhà khoa học được vinh danh mà không có “chứng từ” về thành tựu khoa học trên trường quốc tế.

Cũng như uy tín của chức danh giáo sư tùy thuộc vào tên trường đại học, giải thưởng cũng tùy thuộc vào tổ chức trao tặng.  Một người được đề bạt chức danh giáo sư từ trường đại học Harvard phải rất khác với một cá nhân với chức danh tương tự của trường Mahidol bên Thái Lan (chỉ là ví dụ).  Ở đây, chức danh giáo sư phải đi kèm theo tên trường đại học thì người ta mới biết uy tín của cá nhân đó ra sao.  Tương tự, văn bằng tiến sĩ từ Mã Lai có uy danh khác với một văn bằng tương tự của trường Stanford.  Và, theo đó, giải thưởng Nobel Hòa bình phải khác với giải thưởng của ABI.

Trong khoa học, việc vinh danh thường được phong tặng bởi các tổ chức nghiêm chỉnh như đại học và hiệp hội chuyên môn.  Những hiệp hội chuyên môn thường có hợi nghị thường niên, và người ta bình bầu và công bố nhà khoa học được vinh danh trong năm.  Đó mới chính là những vinh danh có giá trị.  Cái giá trị chính của việc vinh danh như thế là nó được đồng nghiệp (thông qua ban chấp hành hiệp hội chuyên môn) công nhận, và chỉ có đồng nghiệp mới đánh giá được thành tựu của nhà khoa học.  Một doanh nghiệp như ABI không có cái “prestige” của một hiệp hội chuyên môn thì không có tư cách để trao tặng giải thưởng hay vinh danh nhà khoa học được.  Do đó, những giải thưởng và vinh danh của các doanh nghiệp buôn bán danh xưng như ABI đã trở thành chuyện đàm tiếu trong cộng đồng khoa học.

Các nhà khoa học Việt Nam không cần phải có tên (và tốn tiền) trong các danh bạ của các doanh nghiệp như ABI. Những "giải thưởng" và danh xưng của các doanh nghiệp này chắc chắn không có uy tín bằng những giải thưởng của chính các hiệp hội VN trao tặng. Hi vọng rằng trong tương lai các giáo sư Việt Nam không là những nạn nhân của các doanh nghiệp buôn bán danh xưng và giải thưởng.

NVT
====

http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/khoa-hoc/khoa-h-c/giao-s-ti-n-s-tr-n-v-n-tr-ng-c-b-u-la-vi-n-s-c-a-vi-n-ti-u-s-qu-c-t-hoa-k-abi-1.283747#dqoQGgxcPM4D

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Trường được bầu là Viện sĩ của Viện tiểu sử quốc tế Hoa Kỳ (ABI)

Cập nhật lúc 04:16, Thứ bảy, 29/01/2011 (GMT+7)

Giáo sư, Tiến sĩ (GS, TS) Trần Văn Trường, Chủ tịch Hội Răng Hàm Mặt (RHM) Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện RHM quốc gia, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học RHM vừa được Viện tiểu sử quốc tế Hoa Kỳ (ABI) bầu là Viện sĩ do những công trình nghiên cứu và thành tựu xuất sắc về khoa học - kỹ thuật y học cống hiến cho xã hội.

GS, TS Trần Văn Trường là nhà khoa học, giáo dục giảng dạy lâu năm trong nước và quốc tế đã đào tạo nhiều chuyên gia cao cấp RHM trong nước và quốc tế, biên soạn và xuất bản nhiều sách chuyên khảo, giáo trình, nghiên cứu, chuyên đề về RHM bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Giáo sư là Ủy viên của các tổ chức quốc tế như Liên đoàn nha khoa quốc tế (FDI), Hội Ðại học nha khoa quốc tế Hoa Kỳ (ADI), Hội hợp tác nha khoa quốc tế vùng sông Mê Công (DCMR), Diễn đàn nha khoa Ðông - Nam Á (AFD)... Giáo sư đã và đang hợp tác với nhiều nước và tổ chức y tế thế giới (WHO) tổ chức thành công các chương trình chăm sóc sức khỏe răng miệng cộng đồng (Public dental health), răng miệng học đường (School dental health), phẫu thuật hàm mặt, điều trị kết quả ung thư hàm mặt, phẫu thuật khe hở môi - vòm miệng miễn phí cho hàng triệu nhân dân, trẻ em trong cả nước.


http://www.khoahoc.com.vn/cau-chuyen/18591_GS-TS-Tran-Van-Truong-duoc-ABI-bau-chon-la-nhan-vat-cua-nam-2007.aspx

GS, TS Trần Văn Trường được ABI bầu chọn là nhân vật của năm 2007

Cập nhật lúc 11h29' ngày 12/12/2007

GS, TS Trần Văn Trường, Chủ tịch Hội Răng hàm mặt Việt Nam, Giáo sư của Trường đại học Răng hàm mặt vừa được Viện Tiểu sử quốc tế Hoa Kỳ (ABI) bầu chọn là "Nhân vật của năm 2007" do những thành tựu nghiên cứu khoa học và cống hiến xuất sắc cho cộng đồng và chuyên ngành răng hàm mặt trong nước và quốc tế.
GS, TS Trần Văn Trường là nhà khoa học và giáo dục, giảng dạy lâu năm, có nhiều uy tín trong nước và quốc tế, đã giảng dạy và đào tạo nhiều chuyên gia cao cấp răng hàm mặt trong nước và nước ngoài.

Giáo sư là Ủy viên của các tổ chức quốc tế như Liên đoàn Nha khoa quốc tế (FDI), Hội Đại học Nha khoa quốc tế Hoa Kỳ (ADI), Hội Hợp tác Nha khoa quốc tế vùng sông Mê Công (IDCMR), v.v. Giáo sư đã giảng dạy nhiều năm ở các trường đại học nha khoa quốc tế và trong nước, biên soạn và xuất bản hàng chục công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo đăng trên các tạp chí trong nước và quốc tế.

Giáo sư đã hợp tác với nhiều nước và Tổ chức Y tế thế giới (WHO), FDI, v.v. tổ chức thành công các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng như Nha khoa học đường, Nha khoa cộng đồng (Public dental health), chăm sóc răng miệng cho hàng triệu học sinh và nhân dân các vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, v.v. hạ thấp nhanh tỷ lệ người mắc các bệnh răng miệng đang rất cao ở nước ta.
Giáo sư còn là người đề xướng và tổ chức hợp tác quốc tế về phẫu thuật nhân đạo cho hàng nghìn trẻ em bị khuyết tật khe hở môi - vòm miệng trong cả nước.

Do có nhiều công trình nghiên cứu khoa học y học, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hợp tác quốc tế về các lĩnh vực giảng dạy và điều trị, nên năm 2007, GS, TS Trần Văn Trường được Viện ABI Hoa Kỳ bầu chọn và ghi danh vào sách "Những nhà trí tuệ lớn của thế kỷ 21" (Great Minds), Viện Tiểu sử quốc tế Anh (IBC) bầu chọn và ghi danh vào sách "2.000 nhà trí thức xuất sắc" (Outstanding intellectuals) của thế kỷ 21.
Read more ...