Pages

Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2009
Xin giới thiệu một bài viết của họa sĩ Trịnh Cung về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhân ngày giỗ thứ 8 của nhạc sĩ. Bài viết có rất nhiều tư liệu và thông tin mà tôi chưa từng biết. Không cần nói gì thêm, vì lời tòa soạn đã nói quá đầy đủ.

NVT


http://damau.org/archives/5055
Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị

Trịnh Cung


LTS:“Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị” của họa sĩ Trịnh Cung nhất định sẽ được đón nhận với nhiều phản ứng khác nhau từ nhiều tầng lớp độc giả. Bài viết đưa ra một số nhận xét của cá nhân Trịnh Cung về người nhạc sĩ tài hoa, sống và sáng tác trong một giai đoạn vô cùng điêu linh của đất nước, cùng với một số tư liệu đã được công bố ở một số nơi. Tác giả Trịnh Cung tất nhiên đã dự kiến được những gì bài viết này có thể mang đến cho chính ông khi ông viết: “Bài viết này chắc chắn sẽ gây ra sự mất mát tình cảm, sự đổ vỡ các mối quan hệ vốn có của tôi, vì một số những nhân vật được đề cập nay đang còn hiện diện trong cuộc đời. Sự thật bao giờ cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều năm qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nhà tù ký ức cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là giải phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá.”

Tạp chí Da Màu trân trọng ghi nhận tinh thần trách nhiệm của hoạ sĩ Trịnh Cung, và bài viết được đăng tải với ước muốn tạo cơ hội làm sáng tỏ những ngóc ngách trong đời sống của một nghệ sĩ tài hoa nay đã thành người thiên cổ.

Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (Trích bài viết: “Về Trịnh Công Sơn và Những Ca Khúc Phản Chiến Của Anh”, in trong Trịnh Công Sơn, Cuộc Đời, Âm Nhạc, Thơ, Hội Hoạ & Suy Tưởng do Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn ấn hành năm 2005)?

Sự thực có đúng như câu khẳng định chắc nịch ở trên của ông Hoàng Tá Thích và hoạ sĩ quá cố Bửu Chỉ? Chắc chắn là sai 100% rồi nếu như Trịnh Công Sơn không là tác giả của 3 tập nhạc phản chiến (Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam và Ta Phải Thấy Mặt Trời), và cũng chưa từng tham gia vào Phong trào Đấu tranh Đô thị của Thanh niên Sinh viên Học sinh để chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn mà chính cuốn sách của Hoàng Tá Thích và bài viết của Bửu Chỉ vừa nhắc đến ở trên đã có nhiều tiết lộ. Mặt khác, trong bài viết “Có Nghe Ra Điều Gì” Trịnh Công Sơn gửi cho bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều năm 1973 có đoạn như sau: “…Chưa bao giờ tôi có ý nghĩ tự đề nghị với mình một trách nhiệm quá lớn, nhưng khi đã lỡ nhận chịu những cảm tình nồng hậu từ đám đông, thì những tình cảm kia phải được đền bồi…”. Và trong thư TCS gửi cho Ngô Kha - người bạn cùng chí hướng chính trị và cũng là người em rể, đồng thời là lãnh tụ của Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức này đã bị Công An Huế bắt (1972-1974) - chúng ta sẽ dễ nhận ra ý thức làm chính trị chống chế độ Sài Gòn của Trịnh Công Sơn. Nhất là trong đoạn Lê Khắc Cầm nói về mối quan hệ giữa TCS và tổ chức cơ sở thành uỷ Huế do Lê Khắc Cầm bí mật phụ trách trước 1975 như thế nào, thì không thể nói là TCS không có toan tính chính trị như nhận định của hoạ sĩ Bửu Chỉ (Xin xem thêm Thư TCS gửi Ngô Kha và đoạn trao đổi về lá thư này giữa Nguyễn Đắc Xuân và Lê Khắc Cầm trong phần tư liệu đính kèm bài).

Trước khi nêu thêm những dẫn cứ quan trọng hơn để chúng ta có cái nhìn rõ hơn về thái độ chính trị của TCS thời chiến tranh VN, và cũng nhằm cung cấp thêm tư liệu để làm rõ các mối quan hệ có tính dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS, tác giả xin kể một kỷ niệm với Ngô Kha và vì sao Ngô Kha lấy tên cho lực lượng đấu tranh của mình là Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức.

Vào năm 1971, tôi có mời Ngô Kha tới dự bữa cơm đầy năm Vương Hương, con đầu lòng của tôi tại nhà ở Phú Nhuận. Sau tàn tiệc, tôi đưa Ngô Kha ra về. Chúng tôi đi bô từ ngã tư Phú Nhuận về hướng cầu Kiệu, khi gần đến chân cầu, Ngô Kha nói với tôi: “Cậu vào chiến khu với mình đi, có người dẫn đường đang chờ”. Tôi không ngờ lại bị Ngô Kha đưa vào thế kẹt. Lúc này, tôi đang là Trung Úy biệt phái dạy tại Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, vừa bị Nha Mỹ Thuật Học Vụ trả về lại Bộ Quốc Phòng vì được Mỹ cấp học bổng tu nghiệp mỹ thuật tại Trung Tâm Đông và Tây, Hawaii, Hoa Kỳ (Sau 1975 tôi mới biết ông Nguyễn Văn Quyện, kiến trúc sư, Giám đốc Nha Mỹ Thuật Học Vụ, người ký quyết định không cho tôi đi Mỹ và trả tôi lại quân đội theo đề nghị của hoạ sĩ Vĩnh Phối - Hiệu trưởng Trường CĐMT Huế, cả 2 đều là Việt cộng nằm vùng), và Ngô Kha đang là em rể của Trịnh Công Sơn, cũng mang cấp bậc thiếu uý Quân lực VNCH có tư tưởng phản chiến, nhưng tôi không biết gì về hoạt động ly khai của anh cho tới lúc này. Thật bất ngờ và căng thẳng, làm sao tôi có thể đi về phía bên kia chiến tuyến? Tôi không hề tham gia vào phong trào phản chiến, tôi chơi với Trịnh Công Sơn, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường khi họ chưa là người chống lại chế độ Việt Nam Công Hoà. Ngay cả tại “túp lều cỏ” Tuyệt Tình Cốc ở Huế, nơi mà nhà văn Thế Uyên trong một bài viết của anh có tên “Cuộc Hành Trình Làm Người Việt Nam Qua Trịnh Công Sơn” đã tự bạch anh từng đến dự những cuộc họp bàn về đấu tranh chính trị do nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đứng ra tổ chức, tôi cũng chưa bao giờ đặt chân đến đó và thậm chí không hề biết có những việc như thế. Đơn giản vì tôi rời Huế vào sống ở Sài Gòn sau khi tốt nghiệp Mỹ thuật năm 1962, mối quan hệ giữa tôi và họ chỉ là một tình bạn văn nghệ thuần tuý. Để thối thác lời đề nghị ghê gớm này của Ngô Kha, tôi dừng lại trong bóng đêm bên này cầu Kiệu và nói với anh:”Ông thấy con mình vừa đầy năm, bà xã còn quá trẻ và yếu đuối, làm sao mình bỏ nhà đi vào căn cứ với bạn được. Hơn nữa mình không đồng ý cách giết người của họ ở Huế hôm Tết Mậu Thân… thôi chúc bạn lên đường may mắn!”. Thế nhưng, sự việc sau đó lại đưa Ngô Kha đến một hoàn cảnh khác. Anh không đi vào rừng mà về Huế rồi bị bắt và chịu một cái chết bi thảm.

Về Nguyễn Đại Thức là ai mà Ngô Kha dùng đặt tên cho lực lượng đấu tranh của mình?

Theo Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đại Thức nguyên là một hạ sĩ quan quân lực VNCH ly khai đã bắn hụt tướng Huỳnh Văn Cao khi ông dùng trực thăng kiểm soát tình hình Phật giáo xuống đường ở Đà Nẵng và Huế, và đã bị lính Mỹ bắn hạ. Hành động và cái chết của Nguyễn Đại Thức đã đưa Ngô Kha đến sự chọn lựa Nguyễn Đại Thức là tên và biểu tượng cho nhóm quân nhân ly khai đấu tranh chống Mỹ Nguỵ do anh tổ chức. Sau đây là đoạn viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Căn Nhà Của Những Gã LangThang: “…Theo tin tức quân báo của Kha nhận từ đoạn Đà Nẵng, thì lực lượng thuỷ quân lục chiến của Kỳ sẽ chĩa mũi nhọn vào những người của phong trào mà họ cho là nguy hiểm, ngay từ lúc họ đặt chân đến Huế để tránh hậu hoạ. Ngô Kha cùng đi với chiến đoàn ly khai của anh sẽ kéo dài cuộc cầm cự trên đèo Hải Vân, để tạo điều kiện cho tôi thoát…”. Đối với cá nhân tôi, nhờ tiết lộ kinh khủng này của Hoàng Phủ Ngọc Tường, những năm gần đây, tôi mới biết mình đã từng bị Ngô Kha dùng tình bạn để đưa vào cái gọi là Chiến đoàn ly khai Nguyễn Đại Thức mà không biết khi anh rủ tôi đi vào cứ như đã nói ở trên. May mà tôi đã từ chối.

Với bao nhiêu sự việc gắn kết với nhau, hoà quyện, ăn khớp, như thế mà chúng ta vẫn còn hoài nghi, vẫn biện bạch đây chỉ là một thứ tình cảm hồn nhiên hay hoa mỹ hơn, đấy là ý thức về thân phận dân tộc, tiếng nói đòi hoà bình đậm tính nhân bản cho quê hương của một người nghệ sĩ tài hoa như TCS, thì chi tiết sau đây đã được Nguyễn Đắc Xuân tiết lộ và đã xác nhận lại với tác giả bài viết này như sau: “Vào đêm ngày 29-5-1966, trên đường Trần Bình Trọng-Đà Lạt, Trần Trọng Thức (nhà báo), Nguyễn Ngọc Lan (linh mục, đã chết), Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đã cùng nhau bàn về một giải pháp chính trị cho trí thức yêu nước và người đưa ra sự chọn lựa rất quyết đoán và hợp ý với 3 bạn đồng hành với mình: “Không có con đường nào khác cho anh em mình ngoài Mặt trận Giải Phóng Miền Nam!”.Vậy là đã quá rõ về khuynh hướng chính trị của Trịnh Công Sơn!

Từ Chính Trị Phong Trào đến Chính Trị Cầm Quyền?

Vỡ mộng chính trị cầm quyền

Những ngày trước 30-4-75, Sài Gòn rơi vào tình trạng hỗn loạn. Người thân cộng thì hí hửng, người quốc gia thì lo âu và tìm đường bỏ nước. Mọi thứ sinh hoạt đều tê liệt, tôi nằm trong số người chịu trận, bế tắc, no way out. Trong thời điểm tinh thần sa sút này, tôi thường ghé qua nhà TCS để tìm một thông tin tốt lành vì anh có nhiều mối quan hệ, nhưng cũng không được gì vì TCS từ chối ra đi và cho biết sắp nhận chức Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá trong chính phủ Dương Văn Minh lên thay Thiệu-Kỳ, em trai TCS là đại uý Trịnh Quang Hà sẽ được giao làm Cảnh sát Trưởng quận 2 (nay là quận 1). Thế là xong, TCS sẽ tham gia chính quyền được chuyển từ tay Nguyễn Văn Thiệu để thương lượng hoà bình với quân GP đang bao vây Sài Gòn và doạ sẽ tắm máu Sài Gòn nếu VNCH không buông súng.

Thế nhưng, TCS và người em không có tên trong thành phần chính phủ Dương Văn Minh khi các hệ thống thông tin quốc gia công bố ngày 27-4-75 và cũng không có tên kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đống trong vai đệ nhất Phó Thủ Tướng - người bạn chính trị không lộ diện của TCS từ trước sự kiện Tết Mậu Thân 1968, một cố vấn chính trị, một công trình sư cho sự nghiệp chính trị của TCS, đã vận động cho TCS vào chính phủ này như là đại diện của phe Phật giáo. Và với kết quả này, nhà hoạt đầu chính trị trẻ tuổi Nguyễn Hữu Đống đã phải rời khỏi nhà TCS ngay sau đó, sau khi đã ăn ở trong nhà TCS nhiều tháng trước như một người em rể.Sau này, trong thời Lý Quí Chung còn sống, tôi có hỏi về sự việc này. Với tư cách là một Bộ trưởng Thông Tin và người rất thân cận với tướng Dương Văn Minh, Lý Quí Chung đã xác nhận: không hề có một đề cử nào cho TCS và Nguyễn Hữu Đống vào chính phủ Dương Văn Minh cả. TCS và gia đình đã bị Nguyễn Hữu Đống lừa rồi! Và từ đó TCS đã coi Nguyễn Hữu Đống là kẻ ghê tởm.

Một chút về Nguyễn Hữu Đống

Nguyễn Hữu Đống tốt nghiệp thủ khoa Trường Kiến Trúc Sài Gòn khoảng năm 1964 nhưng không hành nghề kiến trúc sư, bắt đầu chơi thân công khai với Trịnh Công Sơn vào khoảng 1970. Tôi không được biết gì nhiều về nhân vật này ngoài việc chứng kiến sự xuất hiện thường xuyên trong nhà TCS những tháng trước 4/1975 với tư cách em rể TCS, giữa lúc Sài Gòn liên tiếp nhận những thông tin về các tỉnh Tây Nguyên thất thủ, và cũng được biết từ TCS vào những ngày cuối của tháng 4/1975 là: chính quyền mới sẽ vẫn giữ nguyên chiếc ghế Đệ nhất Phó Thủ Tướng của chính phủ đầu hàng Dương Văn Minh (tức ghế của Nguyễn Hữu Đống). Sau đó, Nguyễn Hữu Đống đã vượt biên và định cư ở Pháp.

Thế nhưng, vào khoảng năm 1992, Nguyễn Hữu Đống về Sài Gòn và tìm thăm tôi. Tôi tiếp anh tại nhà và cùng ăn trưa. Thật ra, giữa tôi và Nguyễn Hữu Đống không đủ thân để anh tìm thăm, chẳng qua là chỗ để anh trút hết những gì TCS và gia đình không tiếp khi anh tìm đến thăm họ sau hằng chục năm ly gián từ ngày ấy. Trong những thổ lộ của Nguyễn Hữu Đống có 2 chi tiết đáng chú ý: Một là: Ý tưởng và mô hình kiến trúc Ngôi Đền Tình Yêu có hình quả trứng (lấy từ truyền thuyết Âu Cơ đẻ ra 100 trứng) để TCS chủ trì như một giáo đường là của Nguyễn Hữu Đống; Hai là: để Ngôi Đền Tình Yêu này mang đậm sắc thái TCS, Nguyễn Hữu Đống lập ý cho TCS viết Kinh Việt Nam. Dự án này tôi đã được TCS cho biết trước năm 1975 và sẽ xây dựng trên ngọn đồi của Bác sĩ Bùi Kiện Tín ở Thủ Đức, nằm đối diện với nghĩa trang quân đội Sài Gòn cũ. Xét về mặt tài năng kiến trúc và con người đầy tham vọng làm chính trị của Nguyễn Hữu Đống cũng như mối quan hệ mang tính chính trị giữa anh và TCS thì thông tin này đáng tin hơn là gần đây có nghe dư luận từ Phạm Văn Hạng là dự án này của Phạm Văn Hạng và TCS được ông Võ Văn Kiệt ủng hộ?
(Để biết thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa TCS và Nguyễn Hữu Đống, xin độc giả đọc thêm đoạn trích dẫn trong phần ghi chú cuối bài viết này, câu Lê Khắc Cầm trả lời phỏng vấn Nguyễn Đắc Xuân về TCS).

Bài Học Lớn Cho Người Làm Chính Trị Tự Phát Trong Xã Hội CSVN

Những Gáo Nước Lạnh Ngày “anh em ta về”

Tuy nhiên, sau sự thất bại ấy, TCS lại đứng lên vui mừng vì Sài Gòn của anh trong ngày 30-4-75 đã xuất hiện: “Cờ bay trăm ngọn cờ bay” và“anh em ta về mừng như bão cát quay cuồng…”. Từ sự kiện tại Đà Lạt mà Nguyễn Đắc Xuân đã nhắc đến ở trên cho đến ngày 30-4-75 không có một chỉ dấu nào cho thấy có mối liên lạc về mặt tổ chức giữa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Trịnh Công Sơn. Thậm chí khi anh được kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái đưa đến Đài Phát Thanh Sài Gòn để hát bài Nối Vòng Tay Lớn mừng chiến thắng lịch sử 30-4-75, TCS, tác giả của ca khúc có tính dự báo cho ngày huy hoàng này của quân Giải phóng và bi thảm cho phía VNCH, cũng bị Tôn Thất Lập, một nhạc sĩ chủ chốt trong phong trào Hát Cho Đồng Bào đã thoát ly đi theo MTGPMN, đuổi ra khỏi phòng thu: “Mày có tư cách gì mà hát ở đây!”…

Bị bất ngờ với cú ra đòn khá tàn nhẫn này của người “anh em”, TCS thật sự choáng váng và sợ hãi, mọi niềm hân hoan trong anh về giấc mơ hoà bình cho đất nước của mình nay đã thành hiện thực bỗng chốc tan thành mây khói. Niềm vui tưng bừng reo ca “…Mặt đất bao la / anh em ta về / Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng/ Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam…” (Nối Vòng Tay Lớn) hôm ấy không thuộc về TCS, và thay vào đó là nỗi ám ảnh sắp bị thủ tiêu và phải làm thế nào chạy trốn khỏi “người anh em” càng sớm càng tốt.

Thật ra, tai nạn chính trị này đã có nguồn gốc từ quan điểm chính về tính hai mặt trong âm nhạc và con người TCS của Ban Văn Hoá Tư Tưởng-Trung Ương Cục Miền Nam do Ông Trần Bạch Đằng phụ trách. Chính nhạc sĩ Trần Long Ẩn đã kể lại rằng đã có một cuộc họp kiểm điểm TCS trong Cứ trước 1975 với thành phần tham dự gồm có hầu hết các văn nghệ sĩ thoát ly theo MTGPMN như: Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn,… dưới sự chủ trì của ông Trần Bạch Đằng.

Và Cuộc Chạy Trốn Khỏi Sài Gòn

Sự sợ hãi càng tăng cao khi TCS nhận được tin mình sẽ bị thanh toán. Chỉ vài ngày sau, TCS đã âm thầm cùng mẹ rời khỏi Sài Gòn bằng xe đò, trực chỉ ra Huế, nơi anh cũng đang có những “người anh em” thân thiết cũ vừa chiến thắng trở về như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Thái Ngọc San,… hy vọng chắc được yên thân.

Trở lại sống trong căn hộ cũ 11 Nguyễn Trường Tộ - Huế, TCS quây quần với bạn bè cũ và mới không được bao lâu thì cả thành phố Huế lên cơn sốt đả đảo TCS và Phạm Duy. Các biểu ngữ được giăng ở các trường đại học và TCS phải lên Đài truyền hình Huế đọc bài tự kiểm điểm. Sự cố lần này cũng lại do một nhạc sĩ tổ chức, nhạc sĩ Trần Hoàn, Giám đốc Sở VH&TT tỉnh Bình Trị Thiên. Thế là TCS đã tránh được vỏ dưa SG nay lại găp vỏ dừa Huế! Sự bé cái lầm lần này, có lẽ do TCS đã kỳ vọng ở bạn mình quá nhiều nhưng thực tế vai trò trong lực lượng tiếp quản Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân rất khiêm tốn, chính họ cũng đang phải cố gắng phấn đấu để được kết nạp vào đảng thì làm sao bao che cho tác giả của 2 ca khúc từng bị người CSVN kết án (Ca khúc Gia Tài Của Mẹ với câu: “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” đã xúc phạm đến đại cuộc chống Mỹ cứu nước của người CSVN và ca khúc Cho Một Người Nằm Xuống để thương tiếc Lưu Kim Cương - đại tá không lực VNCH chết bởi đạn của quân GPMN - người bạn một thời đã từng dùng máy bay không quân đưa TCS lên Đà Lạt thăm Khánh Ly hoặc ngược lại, đón Khánh Ly về hát với TCS) tại Sài Gòn?

Lần này ở Huế, tính tẩy chay TCS nghiêm trọng và công khai hơn hẳn vụ ở Đài Phát Thanh SG vừa qua. Tình bạn cũ trong trái tim TCS sụp đổ đã đành mà giấc mơ “Khi đất nước tôi thanh bình/Tôi sẽ đi thăm…” tưởng dễ thực hiện của anh cũng bị dập tắt. Những tháng ngày tiếp theo ở Huế, TCS sống như một con tin trong Hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên, thường xuyên được tổ chức bố trí đi lao động thực tế trên những cánh đồng vào mùa khô cũng như mùa lụt, không hơn gì một người phải chịu cải tạo.

Cuộc Chạy Trốn Lần Thứ 2

Tuy nhiên, đang kẹt trong cái thế “tiến thoái lưỡng nan” này ở tại chính quê nhà, nơi mình từng tham gia hoạt động đấu tranh chống Diệm rồi chống Mỹ-Thiệu trong Phong Trào Đô Thị Huế với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ng K, Nguyễn Đắc Xuân,… cũng không xong mà về lại Sài Gòn thì càng nguy hiểm thì một vị cứu tinh kịp xuất hiện, ông Võ Văn Kiệt - nhà lãnh đạo công sản cao cấp tiếp quản Sài Gòn lúc bấy giờ. Một cuộc vượt biên nội địa đưa TCS vào lại Sài Gòn sau khoảng 1 năm anh phải “đi thực tế” tại các vùng quê tỉnh Bình Trị Thiên được bí mật tổ chức do ông Kiệt uỷ thác cho nhà văn cộng sản Nguyễn Quang Sáng thực hiện thành công. Từ đây, dưới sự ưu ái của ông Kiệt và nhà văn Nguyễn Quang Sáng được uỷ nhiệm của thượng cấp chăm sóc TCS, cái hạn bị hăm doạ hay trù dập với người nhạc sĩ lãng mạn cách mạng này đã kết thúc.Qua những “sự cố” như thế, có thể thấy TCS đã mắc những sai lầm với người CS như sau:

- Thiếu minh bạch trong suy nghĩ về chiến tranh VN và tính hai mặt trong quan hệ xã hội.
- Không ở trong một đường dây của tổ chức và chịu sự lãnh đạo của tổ chức đó.
- Không dám thoát ly đi theo MTGPMN.

Và những sai lầm của TCS với phía VNCH:

- Kêu gọi phản chiến nhưng chỉ nhằm vào phía VNCH.
- Thiên về phía người CSVN ngay cả sau khi bị họ giết hụt trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế.- Chống lại phía đã tạo cho mình điều kiện học hành và tự do sáng tác, kể cả tự do tư tưởng dù có bị chế độ SG hạn chế và kiểm duyệt, nhưng không quyết liệt tiêu diệt như đã được thổi phồng (dùng giấy của Hoàng Đức Nhã cấp để đi đường do Phùng Thị Hạnh trung gian, nhiều sĩ quan VNCH che dấu,…) để có một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tồn tại lừng lẫy như thế cho đến ngày 30-4-75. Dù ý thức chính trị ra sao, Trịnh Công Sơn vẫn là sản phẩm của chế độ VNCH đúng như Đặng Tiến đã nhận định trong một bài viết ở đâu đó mà tôi không còn nhớ tên.

Bước Ngoặt “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”

Sa Lầy vào Rượu và Xu Nịnh

Cuối tháng 5-1978, tôi ra khỏi trại cải tạo, gặp lại TCS. Lần nào đến nhà anh ở 47c Phạm Ngọc Thạch-Sài Gòn, sáng hay chiều, cũng thấy TCS ngồi nhậu rượu Ararat, một loại cô-nhắc Nga (sau “đổi mới” chuyển qua rượu chát đỏ của Pháp, và sau cùng là Whisky Chivas) với Nguyễn Quang Sáng và một số bạn “mới”. Tôi cảm thấy có một điều gì đó không ổn, hình như tôi, một thằng sĩ quan Nguỵ đi tù về, không còn được TCS và gia đình coi là người thân như ngày xưa. Thái độ khó chịu của tôi mỗi lần ngồi trước mặt những người bạn “mới” này của Sơn đã khiến tôi bị TCS và gia đình tẩy chay ngầm.

Thực ra, tôi đã bị TCS và nhóm bạn Huế cũ loại ra từ những năm tháng tôi đi lính VNCH mà tôi không hề biết. Sau này, hoạ sĩ Tôn Thất Văn (đã chết) đã kể lại cho tôi rằng có những cuộc họp ở Huế vào những năm 60-70, TCS và những người mà tôi đã coi là bạn thân tình đã đem tôi ra để phê phán, tẩy chay vì tôi đã không trốn lính và đứng về phía Quốc Gia. Rất tiếc, trong số này lại có cả Đinh Cường, người đã từng học cùng trường mỹ thuật, ở cùng nhà, và do tôi giới thiệu làm quen với TCS, do tôi kết nối với anh bạn Thọ giàu có ở Đà Lạt để có những tháng ngày cùng TCS rong chơi thơ mộng khi lưu lại căn phòng anh Thọ đã thuê cho tôi tại biệt thự số 9 đường Hoa Hồng hay ở trong căn nhà sàn gỗ thơ mộng bên một dòng suối róc rách trong một hóc núi của thị trấn Đơn Dương từ trước khi tôi rời Đà Lạt về Sài Gòn năm 1964 theo giấy gọi vào quân trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức khoá 19. Và cả những tháng ngày nhàn nhã làm sinh viên sĩ quan tại đây vào năm 66 hay 67, lúc này tôi là sĩ quan huấn luyện CTCT và phụ trách một phần nguyệt san “Bộ Binh”. Sau ngày 30-4-75, với cấp bậc Trung uý ngành Công binh VNCH, Đinh Cường trở lại Trường Mỹ Thuật Huế và được miễn đi học tập cải tạo nhờ vào việc đã tham gia các hoạt động đấu tranh chống VNCH của nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, TCS,.., nhiều năm trước.

Có một kỷ niệm đặc biệt với Đinh Cường mà tôi cũng muốn nói ra luôn sau bao nhiêu năm cố giữ chặt trong lòng, để lòng mình thôi nặng trĩu và cũng minh chứng cho một tình bạn không hề có thật mà anh ấy đã dành cho tôi, mà tôi đã hằng chục năm cố nghĩ khác đi, cố không tin. Sự việc xảy ra như thế này: Ngày 1-5-75, 8g sáng tôi đến nhà Đinh Cường ở đường Nguyễn Đình Chiểu cũ, gần chợ Tân Định để xem tình hình như thế nào. Như thường lệ tôi vẫn đến đây dễ dàng như người trong nhà nên rất tự nhiên bước lên cầu thang dẫn lên căn gác của bạn mình. Thế nhưng chị TN, vợ Đinh Cường đã chặn tôi lại ở giữa cầu thang và nói Đinh Cường đi khỏi rồi. Tôi không tin và nói lớn là có hẹn trước, lúc đó Đinh Cường mới nói vọng xuống để tôi lên. Khi lên tới nơi thì đã có mặt của Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng cùng ngồi đó. Tôi gượng gạo ngồi xuống và Đinh Cường nói với 2 vị khách kia như hỏi ý: “Mình cấp cho TC cái giấy chứng nhận thuộc Thành Phần Thứ 3 nhé!”. Lập tức tôi đứng lên và từ chối: “Không, hãy để tôi chịu trách nhiệm với họ, và Thành Phần Thứ 3, Thứ 4 gì họ cũng dẹp sạch thôi!”…

Với TCS, gia đình cùng các “đồng chí” rượu của anh, tôi lúc này là một kẻ xa lạ, một người lạc hướng, môt cái gai khó chịu, một con kỳ đà làm cho cuộc vui hoan lạc của họ không được hoàn hảo, tôi nên biến đi. Nhưng tôi lại là một gã ngoan cố, tự cho mình nhiệm vụ phải ngồi lại để làm Sơn tỉnh táo hơn, để những tiếng nói bớt đi những lời xu nịnh. Ý thức được rượu, phụ nữ và xu nịnh là một loại ma tuý tổng hợp đang nhấn chìm TCS được nguỵ danh dưới khẩu hiệu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” nên tôi cố chiụ đựng sự khó chịu của họ và vẫn không tìm cách lấy lại chỗ đứng thân thiết vốn có với TCS thủa còn trai trẻ ở Huế bằng rượu chè, quà cáp đắt tiền và những tán tụng nuông chìu. Tôi vẫn đứng trên đôi chân liêm sỉ và theo đuổi một thứ nghệ thuật tri thức, đó là chỗ mà TCS, trong thâm sâu của tâm hồn anh, không thể loại bỏ tôi cho dù có khác nhau về quan điểm chính trị và cách sống. Đó cũng là điều mà TCS trong những lúc cô đơn nhất đã đến gõ cửa nhà tôi bất kể đêm khuya hay khi bình minh vừa ló dạng để hàn huyên hoặc khoe và hỏi ý kiến tôi về bức tranh mà anh vừa vẽ.

Điều Đáng Tiếc

Trong thời buổi sống như một kẻ bên lề của một Sài Gòn đã bị đổi tên và những người bạn thân một thời hồn nhiên như thế nay cũng đã cúi mình, ngoan ngoãn làm những con rối của chế độ mới, quay lưng lại với thân phận khốn đốn của đồng loại, tự huỷ tri thức, lương tâm, thứ một thời nhờ nó đã làm nên những ca khúc tranh đấu cho thân phận và tự do con người, nay chọn cho mình con đường sa lầy vào rượu, thuốc và phụ nữ, tôi thấy mình thật sự cô độc và bất lực trước sự sụp đổ từng ngày của một người bạn tài hoa nhất mà tôi từng yêu quí. Nhiều khi tôi muốn nói với bạn mình: “Tại sao cậu lại sa đà vào những cuộc chơi phù phiếm? Tại sao cậu không viết những ca khúc cho thân phận VN 2 đang bị một thứ xiềng xích vô hình nhưng vĩnh cửu, vì nó được khoá bởi chính người VN chứ không phải ngoại bang? Hay ít ra thì cậu nên sống yên lặng như một cái bóng, một hòn đá tảng vì cái giấc mơ hoà bình, thống nhất quê hương của cậu dù không phải nguyên nhân chính gây ra sự sụp đổ hoàn toàn nền Cộng Hoà trẻ tuổi MNVN, nhưng về mặt tâm lý cũng đã ít nhiều làm lợi cho phía bên kia, vô tình đồng loã với kẻ đã gây ra cái bi kịch thảm khốc cho hằng triệu người Việt từng ái mộ, tôn thờ cậu nay phải bỏ nước ra đi bằng giá của cái chết không được chôn cất, bằng sự tật nguyền tinh thần, nếu may mắn đến được bờ tự do thì bạn cũng đáng được cảm thông… Vì tôi biết chắc chắn một điều là tất cả những trí thức thiên tả VN như cậu cũng đều không chờ đợi một kết cuộc cho đất nước theo cách như đang diễn ra…”. Nhưng có lẽ trực giác của tôi đã mách bảo rằng điều ấy nằm ngoài khả năng của TCS, cứ để cuộc sống của anh phụ thuộc vào bản năng, đã tiêu vong rồi một TCS mạnh mẽ dấn thân, mạnh mẽ ca hát cho hoà bình đất nước, cho dân tộc ấm no, bình đẳng, tự do và hạnh phúc như ngày nào. Thời cuộc làm ra TCS đấy thôi, anh không phải là người làm ra thời cuộc, nên tôi đã nghẹn họng.

Ảo Tưởng Cuối Cùng

Dần dà rồi TCS cũng tìm lại cho mình một phần phong độ sáng tác nhờ hấp thụ những ngọn lửa nhỏ từ những nhan sắc phụ nữ và sự trân trọng (theo chủ trương) của những nhạc sĩ thuộc Hội Âm Nhạc TP HCM như Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Thanh Tùng, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn,… và một nhóm nhạc do họ tổ chức có tên “Những Người Bạn” ra đời khoảng thập niên 90, và TCS được coi là đầu đàn. Anh trở thành nhân tố quan trọng nhất trong việc thu hút sự chú ý của công chúng mỗi khi anh có mặt trong các show diễn của nhóm. TCS cũng là một tiếng nói có trọng lượng nhất đối với nhiều tên tuổi hàng đầu của nhạc cách mạng VN như Văn Cao, Trọng Bằng, Hồng Đăng,… trừ ông nhạc sĩ Bộ Trưởng Bộ VH&TT Trần Hoàn (đã nghĩ hưu), người từng mở chiến dịch đả đảo anh một thời ở Huế, là vẫn tiếp tục nhìn TCS như một kẻ xấu.

Dù gì thì thế đứng chính trị của TCS cũng đã được tốt hơn trước rất nhiều, có phải vì thế mà anh đã chủ quan nghĩ mình là người đến lúc nên đứng vào hàng ngũ của đảng?

Sơn đem ý định này nói với tôi, tôi liền can:“Không nên Sơn ơi, cậu đang là một nhân vật âm nhạc lớn, người ta nể trọng vì ảnh hưởng của cậu đối với công chúng rất lớn cũng như quốc tế. Nay cậu trở thành đảng viên mới tò te còn ai coi trọng nữa. Nếu ông Hoàng Hiệp chống lai là may cho cậu lắm đó!”. Tôi đã nói với TCS như thế và TCS im lặng. Tuy nhiên không phải nhờ sự phân tích ấy mà TCS không trở thành đảng viên Đảng CSVN, mà bởi sự ngăn cản của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, người giữ vai trò chính trị của Hội Âm Nhạc TP HCM và cũng là cán bộ có trách nhiệm quản lý TCS. Trong một lần bất bình vời Hoàng Hiệp về việc bị kiểm điểm, TCS đã chửi thẳng vào mặt Hoàng Hiệp ngay tại trụ sở Hội Âm Nhạc TP HCM:”Mày là thằng mặt lồn!”.

Đã không những không được vào đảng, TCS còn được cho về hưu để vĩnh viễn kết thúc giấc mơ - ảo tưởng cuối cùng của anh.

Cái Chết - Vinh Quang Đích Thực

Nếu con đường chính trị đối với TCS là một con đường dẫn anh xuống vực thẳm thì cái chết là một kết thúc hoàn hảo. Hay nói một cách khác, nó đã giải cứu và trả lại vinh quang đích thực cho anh - vinh quang dành cho di sản ca khúc TCS.

Không chỉ niềm vinh quang này bừng sáng huy hoàng bởi hàng chục ngàn người yêu âm nhạc của anh ở trong nước tiễn đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, mà người Việt trên khắp thế giới cũng nhỏ lệ tiếc thương, nhất là người Việt ở Mỹ, nơi mà Trịnh Công Sơn lúc sinh tiền không dám đặt chân đến dù không ít lời mời. Một lễ tưởng niệm long trọng được tổ chức tại Hội trường báo Người Việt với sự tham dự đông đảo của nhiều giới khác nhau trong cộng đồng ở cả Nam và Bắc California ngay trong đêm 1-4-2001, điều mà trước đó không ai dám nói công khai về tình cảm của mình với TCS ở chỗ đông người tại Mỹ.

Lời Kết

Sau 8 năm Trịnh Công Sơn ra đi, mọi cảm xúc thương tiếc sau cái chết của anh trong mỗi chúng ta cũng đã phần nào chìm lắng, hôm nay, tôi quyết định và chọn lựa thời điểm này để viết về một góc khác, một phương diện khác của Trịnh Công Sơn mà chưa ai viết hoặc viết một cách có hệ thống.
Bài viết này chắc chắn sẽ gây ra sự mất mát tình cảm, sự đổ vỡ các mối quan hệ vốn có của tôi, vì một số những nhân vật được đề cập nay đang còn hiện diện trong cuộc đời. Sự thật bao giờ cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều năm qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nhà tù ký ức cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là giải phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá.

Đó là về phần cá nhân tôi, còn đối với TCS, bài viết này tôi muốn bổ sung thêm những điều mà trong các cuộc nói chuyện về TCS ở Mỹ tôi đã không thể nói hết được. Một nửa sự thật cũng chưa phải là sự thật. Tôi tin vào điều tốt đẹp của sự thật. Nó có thể sẽ làm tan đi hình ảnh một TCS được tô vẽ bởi những huyền thoại và ảo ảnh lấp lánh trong lòng ai đó, nhưng sẽ trả lại một TCS thiên tài đích thực của âm nhạc như nó vốn có, để mọi người nếu đến với nhạc Sơn thì sẽ có được cơ may yêu mến trọn vẹn một con người có thực, chứ không phải một thứ tượng đài được nhào nặn, tô vẽ và dựng lên vì một mục đích riêng. Đã đến lúc sự thật đó cần được trả lại cho những người Việt đã, đang và sẽ mãi còn coi nhạc Trịnh là lẽ sống của mình, mang nó theo mình như một thứ tài sản vô giá dù đi đến bất kỳ đâu, dù ở chiến tuyến nào.

Tất nhiên, những lập luận và lời kể trong bài viết này dựa vào những gì tôi đã trải qua, những tư liệu riêng và những tư liệu của những người bạn cũ của TCS mà họ đã công khai phổ biến trên các phương tiện truyền thông, và vì thế chắc chắn còn thiếu sót tất yếu, vì tôi biết còn nhiều sự thật đang được cất dấu bởi những người có quan hệ cận kề với TCS trong từng giai đoạn của lịch sử VN từ 1954 đến hôm trước khi TCS qua đời mà họ vì những lý do nào đó chưa tiện nói ra. Tôi xin cám ơn những ai sẽ đóng góp thêm những gì giúp cho bài viết này được hoàn hảo hơn, kể cả những phản biện.

Sau cùng, mỗi con người Việt Nam đã trải qua và sống sót sau cuộc chiến tranh khốc liệt vừa qua đều giữ trong mình những sự thật riêng, một gốc nhân chứng riêng, xin quí vị hãy trả lại nó cho lịch sử, nếu được như thế thì tấm gương lịch sử VN mới trong sáng được. Cũng vì điều này, cho tôi xin lỗi những gì mà bài viết có làm tổn thương đến một ai đó cũng là vì không còn sự lựa chọn nào khác.

Sài Gòn 29/3/2009
TRỊNH CUNG

Tư liệu tham khảo:

1. Như Những Dòng Sông, Hoàng Tá Thích, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ 2007.

2. Trịnh Công Sơn, Cuộc đời, Âm nhạc, Thơ , Hội hoạ & Suy tưởng, Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn, 2005.

3. Thư TCS gửi Ngô Kha, nguồn: http://www.gio-o.com

4. Sự thực Thư Gửi Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, phần phỏng vấn Lê Khắc Cầm, nguồn: http://www.gio-o.com

5. Có nghe ra điều gì, Thủ bút của TCS nói về trách nhiệm của mình với đám đông (Tư liệu của Bác sĩ, nhà văn Thân Trọng Minh - Lữ Kiều).
Read more ...

Trả lời phỏng vấn trực tuyến

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2009
Hôm qua, lần đầu tiên tôi tham gia trả lời trực tuyến về loãng xương cho bạn đọc của Thời báo Kinh tế Sài Gòn (KTSG). Thật là thú vị! Lần đầu tiên tham gia vào việc này, tôi thấy mình như “trưởng thành” về mặt kĩ thuật vi tính. Hồi nào đến giờ tôi thấy báo Tây và báo Ta có tổ chức trao đổi trực tuyến nhưng chưa biết cách làm như thế nào. Hóa ra, việc này rất đơn giản mà lại rất tiện lợi.

Tòa soạn làm một trang web nhỏ cho mình; bạn đọc vào đó gõ câu hỏi; câu hỏi hiện ra trong cái box; và tôi chỉ việc nhấn nút “Trả lời” rồi có một cái box trống khác để gõ câu trả lời. Những phút đầu có rất nhiều câu hỏi liên tục xuất hiện, nên mấy ngón tay phải gõ liên tục cũng mệt … tay. Có nhiều câu hỏi thiết thực, nhưng cũng có câu hỏi trùng hợp ý, dù chữ thì khác nhau.

Qua các câu hỏi tôi mới nhận ra là đa phần bạn đọc quan tâm đến calcium, vì có lẽ như phần lớn công chúng (bên này cũng thế) nghĩ đến xương là nghĩ đến calcium. Nhưng trong thực tế, xương đâu chỉ là calcium, mà phức tạp hơn nhiều. Thật ra, xương là mô hình, là cơ phận lí tưởng để học về nội tiết và gien, bởi vì hầu như tất cả các hormones và cả hệ thần kinh đều liên quan đến việc chuyển hóa xương. Muốn biết về PTH và vitamin D tương tác ra sao, xương là mô hình lí tưởng nhất để biết. Tuy nhiên, đối với công chúng thì có ai cần biết đến mấy hormone này; người ta cần biết chuyện đơn giản hơn. Chuyện đơn giản nhất mà họ cần biết hóa ra là calcium. Chẳng ai hỏi về collagen. Chẳng ai hỏi về vitamin D. Cũng không có ai hỏi về gãy cổ xương đùi và xương cột sống. Do đó, lần sau chắc phải viết một loạt bài “tuyên truyền” để bà con nhận thức cao hơn về mấy chuyện này.

Đây là một phần của buổi trao đổi trực tuyền trên KTSG. Tòa soạn phải biên tập bỏ những câu hỏi trùng hợp.

http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/suckhoe/16883/

NVT
Read more ...

Ăn chay

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2009
Bài viết về ăn chay như một cách trị liệu được nhiều người hưởng ứng. Tôi cũng mừng. Hôm nọ đọc bài “Bữa ăn của người Việt Nam: nhiều thịt, ít rau, thừa chất béo” thấy rất thú vị về xu hướng ăn uống của người Việt. Nhưng rất tiếc bài báo không có những dữ liệu cụ thể nên chẳng biết thay đổi ra sao. Viện dinh dưỡng thì hình như không có website nên cũng không có thông tin gì thêm về nghiên cứu này.

Người mình quen với suy nghĩ rằng thuốc men giải quyết tất cả đau khổ của chúng ta, nhưng suy nghĩ này rất sai. Chẳng có thuốc nào giải quyết cho chính mình, khi bệnh tật một phần lớn là do hành vi của mình gây ra.

Tôi nghĩ trong tương lai, ăn chay hay chế độ ăn uống ít đạm động vật và tăng đạm thực vật có lẽ là một trong những biện pháp ngừa bệnh hữu hiệu nhất. Tôi muốn chấp bút viết một bài khác về ăn chay, nhưng tạm thời ở đây, tôi thu thập vài thông tin có ích làm tư liệu để mai mốt viết tiếp.

NVT


http://www.tintuconline.com.vn/vn/song/158235/

Bữa ăn của người Việt Nam: nhiều thịt, ít rau, thừa chất béo

Theo nghiên cứu, từ năm 1987-1995, lượng tiêu thụ chất béo tăng gấp 2 lần. Đây chính là nguy cơ tiềm tàng của các bệnh mãn tính như tiểu đường, cao huyết áp, lipid máu, xơ vữa thành mạch vành” – GS Nguyễn Công Khẩn, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng VN cho biết như vậy tại buổi Hội thảo “Kế thừa và nâng cao tính hợp lý của cách ăn truyền thống VN”.

Đậu phụ, đậu tương dự phòng được bệnh tim mạch, ung thư

Theo một điều tra của Viện Dinh dưỡng năm 1985-2005, mức tiêu thụ các thức ăn chế biến sẵn như bánh mì, mì tôm tăng lên 4 lần sau hơn 10 năm. Mức tiêu thụ đậu phụ nhìn chung có tăng nhưng vẫn còn thấp. Theo các nghiên cứu dinh dưỡng, đậu tương với thành phần giàu isoflavon được coi như một thực phẩm chức năng trong dự phòng một số bệnh mãn tính như tim mạch, ung thư... đã được người VN chế biến với nhiều chế phẩm đa dạng như đậu phụ, tào phớ, sữa đậu nành, tương... Nhưng hiện nay trong các bữa ăn của người VN, sử dụng các chế phẩm từ đậu tương không đa dạng và thường xuyên.

Trong khi đó, cũng tại cuộc điều tra này cho thấy, các thức ăn động vật đã tăng lên rõ rệt từ 55,4g/ngày (1985) lên 113,3g/người/ngày (2000) và 180,4g/người/ngày (2005), chủ yếu do tăng tiêu thụ thịt gấp 5 lần. Trứng, sữa chỉ tiêu thụ rất ít ở thời điểm năm 1985 thì vào năm 2005 đã tăng lên gấp 24 lần. Lượng mỡ, dầu trong khẩu phần ăn tăng từ 1,7g/người/ngày (1985) lên 6,8g/người/ngày (2000). Đường mật cũng tăng lên nhanh chóng.

Tuy nhiên, chỉ có rau xanh hầu như không thay đổi trong 20 năm qua, mức tiêu thụ trung bình chủ đạo 200g/người/ngày. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra mục tiêu là mức tiêu thụ rau trung bình nên là 400g/người/ngày. Vai trò của rau xanh và quả chín như là các nguồn vitamin và các chất chống oxy hóa đã được khẳng định. Bên cạnh đó, do áp lực công việc người nội trợ thường chế biến rau chủ yếu dưới dạng luộc và nấu canh. Người nội trợ rất ngại ăn rau dưới dạng salat, tươi sống vì lo ngại về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì thế, các loại rau gia vị ít xuất hiện trong bữa ăn, điều này cũng làm bữa ăn mất cân đối.

Theo GS.TSKH Hà Huy Khôi, Chủ tịch Hội Dinh dưỡng VN, khi chế độ ăn thay đổi theo chiều hướng nhiều chất béo như hiện nay, sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe. Lượng thịt tăng nhanh kèm theo tăng cholesterol và chất béo bão hòa, các thực phẩm chế biến sẵn đang lấn chỗ củ quả, lượng rau xanh - nguồn chất xơ và các chất hóa thực vật- còn ít thay đổi. Một số thực phẩm truyền thống có giá trị như cá và đậu phụ tăng không đáng kể. Trong khi ở một số bộ phận dân cư đô thị, lượng thịt sử dụng hàng ngày tăng đã gần 200g/người và lượng chất béo đã vượt quá 20% năng lượng khẩu phần. “Ở một bộ phận dân cư do chế độ ăn quá nhiều chất béo, lối sống ít vận động đang làm tăng nguy cơ mắc một số bệnh mãn tính liên quan dinh dưỡng như tim mạch, đái tháo đường, ung thư... Đó cũng là tình hình đang xảy ra ở nhiều nước đang trong thời kỳ chuyển tiếp về dinh dưỡng như ở VN”- GS Khôi nói.

Bệnh vào từ miệng

Trong những năm gần đây, các chuyên gia dinh dưỡng đã cảnh báo về tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ nhỏ. Thống kê cho thấy, tỷ lệ trẻ bị béo phì có chiều hướng gia tăng.

Tại các quận nội thành Hà Nội, có 4,9% trẻ từ 4 đến 6 tuổi bị thừa cân, béo phì. Tỷ lệ này cũng gia tăng ở đối tượng người trưởng thành. Càng cao tuổi thì số người bị thừa cân, béo phì càng lớn. Tình trạng này xuất hiện ở cả nam lẫn nữ, cả nông thôn lẫn thành thị.

Tiểu đường cũng là một bệnh liên quan đến chế độ ăn uống. Hiện nay, số người bị bệnh tiểu đường do ăn uống không hợp lý ngày càng tăng nhanh. Một phần là do thói quen ăn uống của người dân thay đổi chóng vánh, ngày càng nhiều người ăn đồ ăn nhanh và thức ăn không có lợi cho sức khỏe. Thức ăn được nấu ở các cửa hàng thường chứa nhiều calore hơn đồ chế biến tại gia.

Tiến sĩ Gauden Galea, cố vấn của Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương cho biết trong 10 năm qua, ở Hà Nội, số người bị bệnh tiểu đường tăng gấp đôi. Tiểu đường thậm chí tấn công cả vào trẻ em. Bệnh nhân trẻ nhất ở Việt Nam hiện mới 11 tuổi. Bên cạnh đó là bệnh tim mạch ngày càng gia tăng. Gần đây nhất, cuộc điều tra của Viện Tim mạch tại khu vực Hà Nội, năm 2000, cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn là 16%.

GS Khẩn khuyến cáo: “Khẩu phần chất béo no nhiều hơn (hầu hết là từ nguồn động vật), giảm tinh bột, giảm chất xơ, rau và trái cây là những nguyên nhân của những bệnh mãn tính ngày càng tăng trong dân số VN”. “Chỉ có thay đổi về dinh dưỡng trong bữa ăn, chúng ta mới tránh được các bệnh chết người này” - GS Khẩn nói thêm.

Thói quen ăn đồ nướng sẽ gây bệnh ung thư

Một cuộc khảo sát tại vùng nam bộ cho thấy, người ở những vùng này thường sử dụng các thực phẩm chế biến theo kiểu nướng trực tiếp trên lửa. Những đồ nướng này được coi là một trong những tác nhân gây ra bệnh ung thư. Người Nam Bộ cũng hay sử dụng nước cốt dừa chế biến món ăn như bánh canh, bánh xèo, bánh khọt, chè, xôi... Nước cốt dừa có thành phần acid béo no rất cao, có thể làm gia tăng quá trình tổng hợp cholesterol nội sinh gây ra các bệnh như thừa cân, béo phì, rối loạn lipid máu, hội chứng chuyển hóa, đái tháo đường tuyp II.

Vegetarian Diets:

Study Shows Vegetarian Populations Have Lower Rates of Hypertension, Berkow & Barnard 2005, Nutrition Reviews: A scientific review shows that high blood pressure can be reduced with diet changes, especially a vegetarian diet. The report analyzes the results of published studies and concludes that vegetarian populations have lower rates of hypertension, “the silent killer.”
Vitamin B12: Are You Getting It? Jack Norris 2003, Vegan Outreach: All vegans should meet the RDA for vitamin B12 of 2.4 micrograms per day, and it is best to get this vitamin from a variety of reliable sources.

The Oxford Vegetarian Study: An Overview, Appleby et al. 1999, American Journal of Clinical Nutrition, 70, 525S: A 16-year study of 6000 vegetarians and 5000 non-vegetarians in the UK found that the vegetarians generally had lower LDL cholesterol levels and lower death rates for each of the mortality endpoints studied.

Vegetarian Diet: Panacea for Modern Lifestyle Diseases?, Segasothy & Phillips 1999, Q J Med, 92, 531: The many health-related effects of vegetarian diets are reviewed, such as the cholesterol-lowering effects, the decreased risk for coronary heart disease, the improvement of the condition of heart patients, and the decreased risk of colon and breast cancers.

Health Implications of Mediterranean Diets in Light of Contemporary Knowledge II , Kushi et al. 1995, American Journal of Clinical Nutrition, 61, 1416S: Evidence strongly suggests that a high intake of plant-based foods, and a low intake of animal products contributes to the excellent health of Mediterranean populations. The high consumption of red meat in Western diets is associated with increased risks of heart disease, some cancers, and urinary calcium losses likely to contribute to osteoporosis.

Cardiovascular Disease Risk Factors in Free-Living Men: Comparison of Two Prudent Diets, Kestin et al. 1989, American Journal of Clinical Nutrition, 50, 280: The results of two, fat-modified diets, a lactoovovegetarian one rich in plant-based foods, and another in which 60% of the plant protein was replaced with protein from lean meat, were compared. While both diets lowered cholesterol and blood pressure relative to a high-fat diet, the vegetarian diet had a significantly greater cholesterol-lowering effect than the prudent non-vegetarian diet.

Animal Product Consumption and Mortality ... in Seventh-Day Adventists, Snowdon 1988, American Journal of Clinical Nutrition, 48, 739: A study of 27,529 Seventh-day Adventist adults over a 20-year period revealed that the consumption of specific animal products (meat, eggs, milk) was associated with mortality, heart disease, cancer, and/or diabetes.

Soy Foods:

Cholesterol Lowering Effect of Soy Protein in Normocholesterolemic and Hypercholesterolemic Men, Wong et al. 1998, American Journal of Clinical Nutrition, 68, 1385S: A two-part study of 13 men with high cholesterol levels and 13 men with normal cholesterol levels found that a 5-week diet high in soy protein significantly decreased the LDL cholesterol levels in both groups. This effect was independent of the body weight or age of each subject.

Decreased Serum Total Cholesterol Is Associated with High Intake of Soy Products in Japanese Men and Women, Nagata et al. 1998, Journal of Nutrition, 128, 209: The relation between increased soy intake and significantly decreased serum total cholesterol level was confirmed in a study of 1242 men and 3596 women in Japan. Control and adjustments for age, physical activity, and other dietary habits did not change the results.

A Long-term Metabolic Study to Assess the Nutritional Value of and Immunological Tolerance to Two Soy Protein Concentrates in Adult Humans, Beer et al. 1989, American Journal of Clinical Nutrition, 50, 997: An 11-week study of seventeen young adult men consuming soy proteins as their sole source of dietary nitrogen concludes that these proteins can be consumed effectively as the sole source of protein for nutritional maintenance, and with excellent tolerance.

Long-term Intake of Soy Protein Improves Blood Lipid Profiles ... in Hypercholesterolemic, Post-menopausal Women, Baum et al. 1998, American Journal of Clinical Nutrition, 68, 545: A six-month study of 66 post-menopausal women with high cholesterol levels involved either putting them on a diet rich in isolated soy protein, or a diet rich in nonfat dairy protein (the control group). Relative to the control group, those on the soy protein diet showed a significant decrease in LDL cholesterol levels and an increase in HDL cholesterol (the "good" cholesterol).
Biological Effects of a Diet of Soy Protein Rich in Isoflavones on the Menstrual Cycle of Premenopausal Women, Cassidy et al. 1994, American Journal of Clinical Nutrition, 60, 333: A study of the hormonal effects on six women of a diet high in isoflavone-rich soy protein indicated similar effects to pharmaceutical treatment designed to lower breast cancer risk. These responses to a diet rich in soy protein may partly explain the lower incidence of breast cancer among Chinese and Japanese women who consume significant amounts of soy.

Depression of Plasma Cholesterol in Men by Consumption of Baked Products Containing Soy Protein, Potter et al., American Journal of Clinical Nutrition, 58, 501: The effects of soy protein intake on the cholesterol levels of 26 men with above normal cholesterol levels were studied. It was found that, in conjunction with a low-fat, low-cholesterol diet, a high intake of isolated soy protein lowered LDL cholesterol levels significantly more than such a diet with nonfat dairy in place of the soy.

A Long-term Metabolic Balance Study in Young Men to Assess the Nutritional Quality of an Isolated Soy Protein and Beef Proteins, Young et al. 1984, American Journal of Clinical Nutrition, 39, 8: An 84-day metabolic balance experiment was conducted in two groups of young men. One group's sole source of protein intake was isolated soy protein, while the other group consumed beef protein. It was found that there was no deterioration in protein nutritional status for those consuming only soy protein. The nutritional quality of isolated soy protein is high, and it may serve as the sole source for adults.

Hypocholesterolemic Effect of Substituting Soybean Protein for Animal Protein in the Diet of Healthy Young Women, Carroll et al. 1978, American Journal of Clinical Nutrition, 31, 1312: A 78-day study of 10 healthy women, half of whom were put on a plant and soy-based diet, and half of whom were on a conventional diet, was undertaken to investigate the effects on plasma cholesterol levels. The resulting plasma cholesterol levels of those on the plant-based diet were significantly lower than those on the conventional diet, even though both diets were similar with respect to carbohydrate, fat, and sterol composition.

Bone Health:

Dietary Factors and the Incidence of Hip Fracture in Middle-aged Norwegians, Meyer et al. 1997, American Journal of Epidemiology, 145, 117: The dietary habits of 19,752 Norwegian women and 20,035 Norwegian men were followed for an average of 11.4 years. An elevated risk of fracture was found in women with a high intake of protein from nondairy animal sources (meat, fish, and eggs) when calcium intake was low.

Protein Consumption and Bone Fractures in Women, Feskanich et al. 1996, American Journal of Epidemiology, 143, 472: A 12-year study of 85,900 women indicated that the consumption of animal protein was associated with an increased risk of fracture. In contrast, no such association was found for the consumption of vegetable protein.

Vegetarian Lifestyle and Bone Mineral Density, Marsh et al. 1988, American Journal of Clinical Nutrition, 48, 837: A study of 1600 lactoovovegetarian and non-vegetarian post-menopausal women confirms the theory that the amount and type of protein consumed affects bone mineral loss after menopause. By 80 years of age, the non-vegetarians had approximately twice the reduction of bone mineral density compared to the vegetarians.

Calcium Utilization: Effect of Varying Level and Source of Dietary Protein, Zemel 1988, American Journal of Clinical Nutrition, 48, 880: It is found that, given a constant calcium intake, a twofold increase in dietary protein high in sulfur amino acids (such as that found in animal products) produces a 50% increase in urinary calcium loss. In contrast, a diet rich in soy protein does not promote calcium loss.

Meat and/or Dairy & Cancer:

Dietary Factors and the Risk of Gastric Cancer in Mexico City, Ward & Lopez-Carrillo 1999, American Journal of Epidemiology, 149, 925: A study of 220 gastric cancer patients in Mexico city along with a control group from the same area indicated an approximately threefold increased risk of gastric cancer for frequent consumption of both fresh and processed meat. An increased risk of cancer was also found to be associated with frequent consumption of dairy products and fish.

Colorectal Cancer: Molecules and Populations, Potter 1999, Journal of the National Cancer Institute, 91, 916: The molecular biology and the epidemiology of colorectal cancer are examined with an eye toward understanding their interrelationship. Epidemiological work shows that meat consumption, among other things, results in an increased risk of colorectal cancer. On the biological level, meat appears to be a source of specific blood-borne carcinogens.

Eating Patterns and Risk of Colon Cancer, Slattery et al. 1998, American Journal of Epidemiology, 148, 4: A study of 1,993 colon cancer patients, along with a control group of 2,410, showed a correlation between the typical "Western" diet and colon cancer. Furthermore, those who substituted low-fat animal products were found to have only a slightly reduced risk of colon cancer.

Dietary Risk Factors for Colon Cancer in a Low-risk Population, Singh & Fraser 1998, American Journal of Epidemiology, 148, 761: A six-year study of 32,051 members of the Adventist Health Study identified both red meat and white meat consumption as important dietary risk factors for colon cancer.

Cancer Risk of Heterocyclic Amines in Cooked Foods, Layton et al. 1995, Carcinogenesis, 16, 39: Carcinogenic chemicals known as heterocyclic amines are produced when meat and fish are cooked under normal conditions. An evaluation indicates that the consumption of meat and fish products contributes to human cancer risk.

A Prospective Study of Dietary Fat and Risk of Prostate Cancer, Giovannucci et al. 1993, Journal of the National Cancer Institute, 85, 1571: The dietary habits of 51529 men, age 40 to 75, were examined to understand the relationship between prostate cancer and dietary fat. There was a clear correlation between an increased risk of advanced prostate cancer and the intake of animal fat, but not vegetable fat.

Diet and Plasma Androgens in Postmenopausal Vegetarian and Omnivorous Women and Postmenopausal Women with Breast Cancer, Adlercreutz et al. 1989, American Journal of Clinical Nutrition, 49, 433: A study of 27 postmenopausal women revealed that the omnivores had elevated levels of androstenedione and testosterone relative to the vegetarians, and that the women with breast cancer had the highest levels of androstenedione and testosterone.

Meat, Eggs, and/or Dairy & Heart Disease:

Dietary Determinants of Ischaemic Heart Disease in Health Conscious Individuals, Mann et al. 1997, Heart, 78, 450: The physical condition and diets of nearly 11,000 health-conscious men and women, both vegetarian and non-vegetarian, were followed for an average of 13.3 years to investigate dietary determinants of ischaemic heart disease. It was found that saturated animal fat and cholesterol are the primary contributors to ischaemic heart disease.

Heart Disease in British Vegetarians, Burr & Butland 1988, American Journal of Clinical Nutrition, 48, 830: A study of 10896 individuals with a special interest in health foods revealed that death due to ischemic heart disease, over the 10 to 12 years followed, was significantly lower in the vegetarians than in the non-vegetarians.

Meat Consumption and Fatal Ischemic Heart Disease, Snowdon et al. 1984, Preventive Medicine, 13(5), 490: The connection between the meat-consumption habits of 25153 Seventh-day Adventists and fatal ischemic heart disease was assessed over a 20-year period. Meat consumption was positively associated with this disease in both the men and the women. Furthermore, meat consumption by the men between the ages of 45 and 64 gave them a threefold greater risk of the disease compared to vegetarian men of comparable age.

Effect of Cholesterol-Lowering Diet on Mortality From Coronary Heart Disease and Other Causes, Turpeinen 1979, Circulation, 59,1: A study conducted in two hospitals over a 12-year period involved replacing dairy fats by vegetable oils to evaluate the effects on mortality from coronary heart disease. A substantial reduction of deaths due to coronary heart disease resulted.

A Perspective View of Dieting to Lower the Blood Cholesterol, Whyte & Havenstein 1976, American Journal of Clinical Nutrition, 29, 784: This study, intended as a guide for physicians and patients concerned with dietary change to lower blood cholesterol, indicates that major dietary contributors to increased blood cholesterol include double servings of meat, one egg per day, and butter. In contrast, cholesterol-lowering fats include polyunsaturated oils and margarines.

Coronary Heart Disease Among Seventh Day Adventists with Differing Dietary Habits, Phillips et al. 1978, American Journal of Clinical Nutrition, 31, S191: A 6-year study of 24044 Seventh-day Adventists revealed that the non-vegetarian males between the ages of 34 and 64 had a threefold greater risk of fatal coronary heart disease than the vegetarian males of comparable age.

Meat & High Blood Pressure (Hypertension):

Study Shows Vegetarian Populations Have Lower Rates of Hypertension, Berkow & Barnard 2005, Nutrition Reviews: A scientific review shows that high blood pressure can be reduced with diet changes, especially a vegetarian diet. The report analyzes the results of published studies and concludes that vegetarian populations have lower rates of hypertension, “the silent killer.”

Blood Pressure and Blood Lipids Among Vegetarian, Semi-vegetarian, and Non-vegetarian African Americans, Melby et al. 1994, American Journal of Clinical Nutrition, 59, 103: Blood pressure and blood lipid levels were measured and compared for 3 groups of Seventh-day Adventist African-American adults, including vegetarians, "semi-vegetarians" (1 to 3 servings of meat per week), and non-vegetarians. The vegetarian group had the least cases of hypertension and the lowest serum cholesterol.
Read more ...

Vitamin D và gãy xương

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2009
Hôm qua tôi bàn về chuyện "người đẹp và thông minh", nhưng có người phàn nàn rằng đề tài đó chẳng có ích gì, mà còn nhảm nhí. Nhảm khí hay không thì tôi không chắc, vì thấy họ bỏ ra cả 10 năm trời để đo IQ hàng vạn người, nên cũng muốn nói vài câu như là một entry trong nhật kí điện tử này. Đề tài đó lúc nào cũng gây chia rẽ, nên hôm nay tôi bàn chuyện thiết thực hơn: đó là chuyện vitamin D.

Mối liên hệ giữa vitamin D và gãy xương càng ngày càng “nóng” trên các diễn đàn y khoa quốc tế. Có hai phái trong sự tranh luận về lợi ích của vitamin D đến loãng xương. Một bên là những chuyên gia tên tuổi tin rằng bổ sung vitamin D sẽ làm giảm nguy cơ gãy xương. Một bên cũng gồm những chuyên gia có uy tín cao lại cho rằng bổ sung vitamin D chẳng đem lại lợi ích gì đáng kể cho xương. Nhưng cả hai phe đều nhất trí vitamin D không có hại, mà có thể đem lại nhiều lợi ích cho việc phòng chống các bệnh mãn tính khác như ung thư, tiểu đường, tim mạch, v.v…

Tuần này, một nghiên cứu mới công bố lại châm ngòi cho sự tranh luận về mối liên hệ giữa vitamin D và gãy xương. Một nhóm nghiên cứu ở Đại học Zurich và Đại học Harvard thực hiện một phân tích tổng hợp (meta-analysis) tất cả những nghiên cứu lâm sàng trong quá khứ về hiệu quả của vitamin D trong việc phòng chống gãy xương. Họ tìm được 12 nghiên cứu randomized controlled clinical trials (RCTs) với 42,279 bệnh nhân. Kết quả phân tích (khá phức tạp) cho thấy:

(a) Vitamin D giảm nguy cơ gãy xương ngoài xương đốt sống khoảng 14% (RR 0.85, 95%CI 0.77 -- 0.96).

(b) Đối với cổ xương đùi, vitamin D giảm nguy cơ gãy xương 9%, nhưng không có ý nghĩa thống kê vì 95%CI dao động từ 0.78 đến 1.05.

(c) Có 9 nghiên cứu sử dụng liều lượng vitamin D cao (400 IU/ngày) và kết quả cho thấy viatmin D giảm nguy cơ gãy xương 20% (RR 0.80; 95% CI 0.72 – 0.89). Đối với cổ xương đùi, có 5 nghiên cứu, và kết quả là RR 0.82 (95%CI 0.69 – 0.97). Danh sách 9 nghiên cứu đó tôi copy lại dưới đây để làm tư liệu (quí).

Họ kết luận “Nonvertebral fracture prevention with vitamin D is dose dependent, and a higher dose should reduce fractures by at least 20% for individuals aged 65 years or older”.

Một kết luận đầy tự tin! Họ dám sử dụng chữ “should”! Lại còn “at least 20%” (tối thiểu 20%) nữa chứ! Hiếm thấy có nhóm nghiên cứu nào can đảm như thế!

Chúng tôi (tôi và Nguyên) thử phân tích lại bằng mô hình Bayesian thì thấy xác suất mà vitamin D giảm nguy cơ gãy xương 20% trở lên chỉ bằng 0.44; đối với gãy cổ xương đùi, xác suất mà vitamin D giảm nguy cơ gãy xương 20% trở lên chỉ 0.36. Nếu lấy tiêu chí giảm 20% để phát biểu có hiệu quả lâm sàng thì kết quả trên đây cho thấy vitamin D tuy giảm nguy cơ gãy xương, nhưng ảnh hưởng rất khiêm tốn.

Chúng tôi sẽ có một vài hàng bình luận về công trình này cho tập san Archives of Internal Medicine.

NVT

Ref: Bischoff-Ferrari H, et al. Prevention of nonvertebral fractures with oral vitamin D and dose dependency. Arch Int Med 2009; 169:551-61.

Bạn nào muốn kiểm tra xem họ phân tích đúng hay sai có thể sử dụng R để kiểm chứng số liệu dưới đây. Bảng 1 là số liệu về nonvertebral fractures; bảng 2 là hip fracture.

Nonvertebral fractures:
Lyons (2007): 202/1725 209/1715
Jackson (2006): 146/11448 186/11412
Flicker (2005): 25/313 35/312
Pfeifer (2008): 9/121 16/121
Trivedi (2003): 43/1345 62/1341
Chapuy (2002): 97/393 55/190
Pfifer (2000): 3/70 6/67
Dawson-Hughes (1997): 11/187 26/202
Chapuy (1994): 255/1176 308/1127


Hip fracture:
Lyons (2007): 112/1725 104/1715
Jackson (2006): 146/11448 186/11412
Trivedi (2003): 21/1345 24/1341
Chapuy (2002): 27/393 21/190
Chapuy (1994): 137/1176 178/1127

Mỗi bảng số liệu được liệt kê qua 4 cột. Cột 1 là tên tác giả đầu; cột 2 là năm thực hiện; cột 3 là số ca gãy xương / số bệnh nhân của nhóm được bổ sung vitamin D; cột 4 là số ca gãy xương / số bệnh nhân của nhóm placebo.

Làm thử:

library(rmeta)
library(meta)
fx.vitd = c(202, 146, 25, 9, 43, 97, 3, 11, 255)
n.vitd = c(1725, 11448, 313, 121, 1345, 393, 70, 187, 1176)
fx.control = c(209, 186, 35, 16, 62, 55, 6, 26, 308)
n.control = c(1715, 11412, 312, 121, 1341, 190, 67, 202, 1127)
nonvertfx = data.frame(fx.vitd, n.vitd, fx.control, n.control)
meta = metabin(fx.vitd, n.vitd, fx.control, n.control, sm="RR", meth="I")
print(meta)
metabias(meta)

# hip fx
fx.vitd = c(112, 146, 21, 27, 137)
n.vitd = c(1725, 11448, 1345, 393, 1176)
fx.control = c(104, 186, 24, 21, 178)
n.control = c(1715, 11412, 1341, 190, 1127)
hipfx = data.frame(fx.vitd, n.vitd, fx.control, n.control)
meta = metabin(fx.vitd, n.vitd, fx.control, n.control, sm="RR", meth="I")
print(meta)
metabias(meta) # test for bias in funnel plot
plot(meta)
Read more ...

Người đẹp và thông minh

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2009
Giới khoa học xã hội đã từ lâu biết rằng con người nói chung cảm nhận rằng người có sắc diện hấp dẫn là những người thông minh và giỏi giang trong công việc. Đã có rất nhiều nghiên cứu trong quá khứ để xem cảm nhận này có đúng hay không, và kết quả thường cho thấy quả thật có mối tương quan thống kê giữa sự đánh giá tính hấp dẫn và đánh giá thông minh. Nhưng tại sao người ta (hay chúng ta) lại có cảm nhận này?



Đặc tính hấp dẫn là một yếu tố quan trọng trong việc chọn bạn, và có bằng chứng cho thấy những quan tâm về việc chọn bạn không phải là lí do để chúng ta nghĩ rằng người đẹp là người thông minh. Chúng ta có vài bằng chứng cho phát biểu đó:

(a) Trước hết, trẻ em trong độ tuổi mầm non cũng cảm nhận về mối tương quan giữa sắc đẹp và khả năng. Khi được hỏi các em chọn giữa hai cô giáo, một người có sắc diện dễ nhìn (hay đẹp) hơn người kia, thì phần lớn các em đều chọn cố giáo có sắc diện đẹp, bởi vì các em nghĩ rằng cô ấy có khả năng hơn và dễ thương hơn.

(b) Thứ hai, và có lẽ quan trọng hơn, là ở người lớn, cảm nhận về mối tương quan giữa sắc đẹp và khả năng chẳng những hiện hữu trong mỗi giới và còn giữa hai giới nam và nữ. Không phải chỉ có đàn ông mới tin rằng phụ nữ đẹp thông minh hơn phụ nữ kém đẹp, hay phụ nữ nghĩ rằng đàn ông dễ nhìn thông minh hơn đàn ông xấu xí, mà ngay cả đàn ông cũng tin rằng đàn ông đẹp trai thông minh hơn đàn ông không đẹp trai, và phụ nữ cũng nghĩ rằng giữa họ với nhau, người đẹp thường thông minh hơn người kém đẹp.

Bởi vì trẻ em 5 tuổi không có khái niệm về chọn bạn tình, và phần lớn chúng ta là người không đồng tính luyến ái, cho nên những bằng chứng trên đây cho biết ngoài lí do chọn bạn ra, cảm nhận về mối tương quan giữa sắc diện và thông minh còn chịu ảnh hưởng của yếu tốc khác.

Các nhà xã hội học và tâm lí học, có lẽ do lí do “phải đạo” nào đó, tin rằng sắc đẹp chỉ là bề ngoài da và tùy thuộc vào cảm nhận cá nhân (Người Anh có câu “beauty is in the eye of the beholder”), nên họ không chấp nhận kiểu đánh giá đẹp hay thông minh, và cho đó là sự “rập khuôn” không có cơ sở khoa học. It is a stereotype that beautiful people are more intelligent. Nhưng trong thực tế thì quả thật cảm nhận của phần đông chúng ta cũng có cơ sở khoa học đấy.

Lấy kết quả của công trình National Longitudinal Study of Adolescent Health làm ví dụ. Đây là nghiên cứu do một nhóm khoa học gia thuộc Đại học North Carolina (Chapel Hill) thực hiện trên 15,197 người với tuổi trung bình là 22. Trong nghiên cứu này, họ đo lường các chỉ số thông minh (IQ), chỉ số về sắc diện và thể diện. Sự hấp dẫn của đối tượng được đánh giá bằng một chỉ số gồm 5 giá trị (1 = rất ít hấp dẫn -- very unattractive, 2 = ít hấp dẫn -- unattractive, 3 = trung bình -- average, 4 = hấp dẫn -- attractive, and 5 = rất hấp dẫn – very attractive). Người đánh giá hoàn toàn không biết gì về chỉ số IQ. Biểu đồ sau đây cho thấy mối liên hệ giữa sắc diện và IQ.


Như có thể thấy, mối tương quan giữa sắc diện và thông minh gần như là một đường thẳng. Người được đánh giá là “rất ít hấp dẫn” có chỉ số IQ trung bình là 94.2; thấp hơn khoảng 6 điểm so với những người được đánh giá là “hấp dẫn” hay “rất hấp dẫn”.

Nhưng cả hai đặc tính hấp dẫn và thông minh có thể liên hệ với giới tính. Tính trung bình, nam có chỉ số IQ cao hơn nữ, và nữ có mức độ hấp dẫn hay lôi cuốn cao hơn nam. Do đó, các nhà nghiên cứu phải phân tích mối tương quan giữa sắc diện và IQ cho từng giới (xem 2 biểu đồ dưới đây).


Nhìn qua 2 biểu đồ này chúng ta thấy mối tương quan giữa sắc diện và IQ vẫn hiện hữu trong cả nam và nữ, nhưng không tuân theo một hàm số tuyến tính nữa. Phụ nữ “rất hấp dẫn” tính trung bình có chỉ số IQ cao hơn nữ “rất ít hấp dẫn” khoảng 6 điểm. Tương tự, đàn ông “rất hấp dẫn” có chỉ số IQ cao hơn đàn ông “rất ít hẫp dẫn” khoảng 8 điểm.

Nói tóm lại, cảm nhận về mối tương quan giữa sắc diện và thông minh cũng có cơ sở thực tế. Cố nhiên, đây chỉ là những mối tương quan quần thể, chứ trong thực tế vẫn có người không hấp dẫn mà rất thông minh (cứ nhìn qua mấy nhà khoa học chúng ta ít thấy ai hấp dẫn), và ngược lại, có những cô gái rất xinh đẹp nhưng chỉ số IQ thì không mấy cao và ăn nói cũng không có duyên. Nhưng tính trung bình thì người có sắc diện dễ nhìn có vẻ có chỉ số IQ cao hơn người có sắc diện kém cân đối.

NVT
Read more ...

Dự án bauxite ở Tây Nguyên

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2009
Chuyện Trung Quốc đi vòng quanh thế giới khai thác khoáng sản và năng lượng đã được thế giới quan tâm từ lâu. Một bản tin mới nhất hôm nay trên báo Úc cho biết bộ trưởng tài chính Úc bác bỏ một dự án lớn của Trung Quốc ở Úc vì lí do an ninh quốc gia.

Chính phủ Úc họ quan tâm đến an ninh quốc gia như thế, còn chính phủ Việt Nam thì sao? Có dấu hiệu cho thấy họ chẳng quan tâm. Một dự án lớn về khai thác bauxite ở Dak Nông (Tây Nguyên) với sự tham gia của các công ti Trung Quốc đang được tiến hành. Mấy tháng qua rất nhiều người lên tiếng quan tâm về tầm ảnh hưởng đến môi trường, xã hội, văn hóa, và nhất là an ninh quốc gia. Dù phần lớn phản biện mang màu sắc cảm tính, nhưng có ít nhất là hai phân tích có cơ sở thực tế và khoa học. Đại tướng Võ Nguyên Giáp dù ở tuổi gần 100 vì quá lo lắng nên đã viết một lá thư can ngăn dự án này.

Ấy thế mà hình như Chính phủ phớt lờ! Chính phủ cũng chẳng tham khảo gì người dân! Thật ra, theo tài liệu thì TBT Nông Đức Mạnh đã kí kết với phía Trung Quốc về dự án từ vài năm trước. Hình như chẳng có người dân nào biết đến sự “đi đêm” này. Và, hệ quả là Chính phủ VN đồng ý với dự án khổng lồ, đồng ý cho hàng vạn người Trung Quốc (theo như bài báo dưới đây) vào Tây Nguyên. Có câu hỏi đặt ra họ là công nhân hay lính trá hình ? Bao nhiêu năm đánh đuổi ngoại xâm, để nay rước kẻ thù về. Giới quân sự VN rất quan tâm đến sự có mặt của hàng vạn người TQ ở đây.

Hình như ít ai tin chính phủ Trung Quốc. Người Việt Nam chúng ta chắc cũng chẳng mặn mà gì với Trung Quốc, cái nước đàn anh lúc nào cũng lăm le tìm mọi cơ hội lấn chiếm mình. Họ đang làm áp lực trên biển, nay Việt Nam mời họ vào để đứng trên cái “xương sống” của mình! Đúng là không thể nào hiểu nổi người ta suy nghĩ gì!

Theo bài báo dưới đây thì Trung Quốc đem người của họ sang, họ chẳng thèm dùng / mua hàng Việt Nam. Đất nước này là của ai? Tại sao họ vào mà ngông ngênh không xem mình ra gì? Một người bạn tôi sau khi đọc tin này, anh viết: “Đầu tư Trung Quốc : Hủy diệt kinh tế VN ! Than ôi lâm nguy rồi các bạn ạ !”

NVT

====

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=308402&ChannelID=11

Thứ Bảy, 28/03/2009, 08:31 (GMT+7)
Nhiều dự án lớn trong ngành xây dựng: Đa số nhà thầu ngoại trúng thầu

* Hàng vạn công nhân Trung Quốc đã vào VN

TT(Hà Nội)- Ngày 27-3, Tổng hội Xây dựng VN tổ chức buổi tọa đàm về kích cầu trong xây dựng. Thực trạng lớn nhất được đưa ra tại buổi tọa đàm là rất nhiều dự án lớn đã triển khai nhưng hàng hóa VN không thể tiêu thụ được vì trúng thầu là các nhà thầu ngoại, chủ yếu là Trung Quốc...

Chủ trương kích cầu xây dựng là đúng, nhưng ông Trần Ngọc Hùng - chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN - khẳng định các nhà thầu VN đang rất lo vì thực tế cho thấy các dự án lớn khi đem ra đấu thầu hầu như đều rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài. Ông Hùng cho biết các nhà thầu Trung Quốc đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, ximăng, hóa chất... “Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được”...

Vừa đi cùng Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đến thăm một công trình xây dựng nhiệt điện ở Quảng Ninh, ông Nguyễn Công Lục - vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Văn phòng Chính phủ - công nhận “một công trình nhưng công nhân Trung Quốc sang tới hơn 2.000 người”. Trong khi đó, ông Trần Văn Huynh - chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng VN - cho biết không chỉ một mà hơn 10 công trình xây dựng nhà máy ximăng, nhiều dự án nhà máy điện lớn ở VN đều đang được các nhà thầu Trung Quốc làm.

Đặc trưng của nhà thầu Trung Quốc, theo ông Huynh, là họ không thuê nhân công VN mà đem người sang, có thể bằng cả đường du lịch rồi ở lại. “Một số loại vật liệu Trung Quốc được đem qua Thái Lan rồi vòng vào VN. Máy móc thiết bị không nhập riêng được thì họ lắp sẵn rồi đem cả sang. Tôi có thăm một nhà máy ximăng do nhà thầu Trung Quốc làm, đến cái bệ xổm toilet họ cũng không dùng hàng VN mà mua hàng Trung Quốc” - ông Huynh nói.

Ông Trần Hồng Mai - viện phó Viện Kinh tế xây dựng - góp thêm một thực trạng khi cho biết có thể các nhà thầu Trung Quốc nhận được nhiều hỗ trợ từ phía nước họ, kể cả chính sách thuế, nên giảm mạnh giá bỏ thầu. Vì vậy, họ thường nắm phần thắng khi đấu thầu. Nên các công trình lớn như Đạm Cà Mau, nhà máy điện ở Hải Phòng, khi xây dựng lúc nào cũng có hàng ngàn công nhân Trung Quốc...

Cùng lo ngại như ông Trần Văn Huynh “nếu các công trình lớn đều vào các nhà thầu ngoại sẽ dần triệt tiêu nội lực”, nhiều chuyên gia đề nghị nên có chính sách cụ thể để giúp các doanh nghiệp xây dựng trong nước. Ông Huynh phân tích: “Giá thầu rẻ nhưng chất lượng không cao chưa chắc đã là rẻ, không nên tư duy cứ giá thấp là trúng thầu”. Ông Trần Hồng Mai viện dẫn Luật đấu thầu đã quy định phải ưu tiên doanh nghiệp VN nhưng nhiều chủ đầu tư VN lại “quên” điều này. Ông Mai cho rằng Nhà nước cần có chính sách để “nhắc” các chủ đầu tư.

CẦM VĂN KÌNH
Read more ...

“Kỹ năng mềm” cho nhà khoa học

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2009
Hồi cuối năm 2008, trong một chuyến đi nói chuyện ở VN, tôi có dịp ra Hà Nội nói chuyện ở Viện lão khoa về đề tài viết bài báo khoa học. Phạm Hiệp là người phụ trách bản tin của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội có nhã ý phỏng vấn tôi những chuyện chung quanh chủ đề này. Hôm đó, chúng tôi (Hiệp, NĐP bên Tia Sáng, và tôi) gặp nhau trong một quán cà phê nhỏ, mà NĐP và PH nói quán này là "quán tủ" của tụi sinh viên, và chắc chính vì thế mà cách thiết trí của quán cũng có tính văn hóa. Quán chỉ cách khách sạn Melia (nơi tôi ở) có vài bước đi bộ. Chúng tôi ngồi đó gần cả buổi sáng chỉ nói chuyện ... thế sự khoa học. Một kỉ niệm khó quên. Thật ra, tôi thấy Hà Nội cũng có cái nét quyến rũ của nó, nhưng còn vụ ăn uống thì chắc tôi cần phải có thời gian mới thích nghi được. Mà thôi, tôi lan man mất rồi. Mời các bạn theo dõi cuộc nói chuyện giữa chúng tôi ...

===

Kỹ năng mềm là khái niệm còn rất mới mẻ đối với giới khoa học Việt Nam. Nhà khoa học sẽ “chuyên nghiệp” và “thành công” hơn khi họ được trang bị kỹ năng này. Để hiểu rõ hơn về khia niệm này, Bản tin ĐHQGHN đã có cuộc trao đổi với GS. Nguyễn Văn Tuấn - Nghiên cứu viên cao cấp Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan (Úc).

Trong tháng 12 vừa qua, ông có tham gia dạy một số khóa học liên quan đến các kĩ năng trình bày, viết báo cáo... cho các bác sỹ, dược sỹ tại Hà Nội. Ông có thể nói rõ hơn về khóa học này ?

Thật ra, đó chỉ là những buổi seminar về cách viết và công bố một bài báo khoa học trên các tập san y học quốc tế, và cách trình bày một nghiên cứu khoa học trong các diễn đàn khoa học quốc tế. Những chủ đề này nằm trong một loạt bài tôi đã viết từ trên chục năm qua, và nay có dịp trình bày trước các đồng nghiệp trong nước.

Trong bài nói chuyện về cách viết bài báo khoa học, tôi nói về qui trình vận hành của một tập san khoa học, đằng sau quyết định đăng hay không một công trình nghiên cứu, cách cấu trúc một bài báo khoa học và trình bày dữ liệu như biểu đồ và số liệu sao cho thuyết phục, logic, và sau cùng là cách viết cũng như dùng chữ cho chính xác và hay.

Trong bài nói chuyện về cách trình bày một nghiên cứu khoa học, tôi nói về những nguyên tắc cơ bản trong việc chuyển giao thông tin khoa học đến người nghe một cách hữu hiệu, những nguyên tắc về việc chọn màu sắc sao cho thích hợp với từng loại diễn đàn, cách chọn chữ và thiết kế biểu đồ cũng như bảng số liệu sao cho gọn nhẹ nhưng nói lên được thông điệp mình muốn chuyển giao đến người nghe.

Nói tóm lại tôi chỉ nói về những kĩ năng cơ bản của một nhà khoa học. Vì có cơ duyên phục vụ trong ban biên tập của nhiều tập san khoa học trên thế giới, nên tôi hiểu được cách vận hành và làm việc của các tập san này, vì thế tôi có thể trình bày những vấn đề mà người nước ngoài họ không thể chia sẻ với các đồng nghiệp trong nước.

Ðằng sau quyết định đăng một bài báo bao gồm những gì?

Khi bản thảo bài báo khoa học được nộp cho một tập san, tổng biên tập (editor-in-chief) đọc qua phần tóm lược (abstract), và dựa vào chuyên ngành của bài báo, sẽ giao cho một phó biên tập (associate editor) phụ trách, và người này chính là người có thẩm quyền quyết định “số phận” của bài báo. Thông thường, phó biên tập đọc qua bài báo, rồi quyết định xem có xứng đáng để gửi đi phản biện (peer review). Nếu bài báo có tiềm năng và xứng đáng, phó biên tập sẽ chọn 2 - 3 chuyên gia phản biện (phần lớn những chuyên gia này nằm trong ban biên tập của tập san). Sau 4 tuần (thời gian trung bình), các chuyên gia này gửi báo cáo phản biện cho phó biên tập. Nếu có một chuyên gia bình duyệt đề nghị từ chối bài báo thì thông thường phó biên tập sẽ gửi thư cho tác giả biết rằng tập san từ chối công bố bài báo.

Nếu tất cả chuyên gia phản biện không từ chối và yêu cầu sửa đổi, thì phó biên tập sẽ chuyển các phản biện này cho tác giả để chỉnh sửa (kể cả làm thêm thí nghiệm, thêm phân tích…). Sau khi chỉnh sửa, tác giả gửi lại bản thảo mới (và kèm theo những trả lời cho các câu hỏi mà chuyên gia phản biện nêu) cho phó biên tập. Nếu phó biên tập thấy tác giả trả lời đầy đủ, thì sẽ quyết định đăng hay không đăng. Nếu phó biên tập thấy tác giả chưa trả lời đầy đủ, thì tất cả hồ sơ sẽ chuyển cho các chuyên gia phản biện một lần nữa, và chu trình bình duyệt lại bắt đầu. Thông thường, một bài báo phải qua 2 - 3 lần phản biện, nhưng cũng có trường hợp mà tác giả phải kinh qua 6 lần phản biện. Một khi bài báo đã được chấp nhận hay không chấp nhận cho công bố, phó biên tập sẽ thông báo quyết định của mình cho tổng biên tập biết. Tính trung bình, thời gian từ lúc nộp bài đến khi quyết định cho công bố tốn khoảng 6 tháng. Nhưng cũng có khi thời gian kéo dài cả 1 hay 2 năm. Cố nhiên, trong các trường hợp bài báo được đánh giá là không xứng đáng ngay thì lúc ban đầu thì thời gian đi đến quyết định chỉ trong vòng 1 tuần.

Như vậy nhà khoa học ngoài khả năng chuyên môn cần phải có những kiến thức và kĩ năng nào khác?

Bạn đang nói đến kĩ năng mềm phải không? Theo tôi thì có 2 kĩ năng mềm mà các nhà khoa học Việt Nam cần phải cải tiến và học hỏi, đó là: Kĩ năng thông tin và ngoại giao. Kĩ năng thông tin ở đây là khả năng truyền đạt thông tin khoa học đến đồng nghiệp trong và ngoài nước qua viết và nói chuyện. Viết trên các tập san khoa học quốc tế đòi hỏi những kĩ năng về tiếng Anh (vì phần lớn tập san khoa học ngày nay sử dụng tiếng Anh) và cách biện luận, mà các đồng nghiệp trong nước đều rất yếu. Ðiều này thì có thể hiểu được vì tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ và theo kinh nghiệm của tôi, ngay cả những người đã từng đi du học ở các nước nói tiếng Anh cũng chưa thể viết hoàn chỉnh một bài báo khoa học vì làm được việc này đòi hỏi một thời gian “cọ sát” khá lâu mới trở thành chuyên nghiệp được. Ngay cả những nghiên cứu sinh mà tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ cũng khó có thể viết một bài báo khoa học một cách chỉn chu.

Nói chuyện trong các hội nghị khoa học đòi hỏi những kĩ năng chẳng những về ngôn ngữ mà còn nghệ thuật. Tôi đã thấy nhiều đồng nghiệp trong nước nói chuyện trong các hội nghị khoa học quốc tế, và họ phạm phải những lỗi lầm hết sức cơ bản như chọn màu sắc không thích hợp, chọn font chữ sai, sử dụng quá nhiều hoạt hình màu mè, diễn giải không thông và logic, cách nói quá đơn điệu, không biết cách trả lời người chất vấn, v.v.… Có người nhầm lẫn giữa trả lời chất vấn và lên lớp, nên biến bài nói chuyện thành một buổi trao đổi thiếu tính chuyên nghiệp (nếu không muốn nói là khôi hài)!

Cộng đồng khoa học, cũng như xã hội, là một tập thể với những quan hệ đa chiều. Nhà khoa học phải phụ thuộc lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Trong mối quan hệ đa chiều như thế, kĩ năng ngoại giao rất quan trọng trong việc quảng bá công trình nghiên cứu của mình.

Có nhiều nhà khoa học trong nước nghĩ rằng họ công bố kết quả nghiên cứu và thế là xong. Nhưng khoa học ngày nay cạnh tranh ác liệt, cạnh tranh để được ghi nhận. Trong bất cứ lĩnh vực nghiên cứu nào cũng có nhiều người cùng làm, và việc tương tác với đồng nghiệp để quảng bá nghiên cứu của mình là một kĩ năng rất cần thiết để thành đạt trong khoa học ngày nay. Tôi thấy đây cũng là một điểm yếu nhất của nhiều đồng nghiệp trong nước vì họ hầu như chẳng có ý niệm gì về lobby trong khoa học.

Lobby trong khoa học là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với giới khoa học Việt Nam. Ông có thể nói rõ hơn?

Nói ra ý này tôi cũng nghĩ làm nhiều đồng nghiệp ngạc nhiên, vì ít ai nghĩ rằng trong hoạt động khoa học mà cũng có lobby và vận động. Chúng ta có câu "hữu xạ tự nhiên hương", với hàm ý nói nếu công trình nghiên cứu của mình tốt thì đồng nghiệp sẽ trích dẫn và ghi nhận. Nhưng rất tiếc là ngày nay lí tưởng đó khó tồn tại trong thực tế khoa học, ít ra là trong ngành y học mà tôi đang làm. Trong khoa học, luôn có nhiều nhóm cùng làm nghiên cứu về một đề tài, nhưng tại sao có những nhà khoa học hay công trình khoa học được ghi nhận và nổi tiếng hơn các đồng nghiệp và công trình khác. Ngoài lí do về chất lượng và ý nghĩa của nghiên cứu, tôi nghiệm ra một phần của câu trả lời là kĩ năng ngoại giao của nhà khoa học. Do đó, khi nói lobby ở đây, tôi muốn nói đến những kĩ năng làm cho công trình nghiên cứu của mình được ghi nhận, được đề cập và trích dẫn, và qua đó gây ảnh hưởng trong chuyên ngành.

Muốn cho công trình của mình được nhiều người biết đến thì nhà khoa học phải biết cách “chào hàng” ý tưởng và công trình của mình trong các diễn đàn khoa học, phải biết tận dụng tất cả cơ hội (kể cả tranh thủ các tập san) để quảng bá nghiên cứu của mình đến cộng đồng khoa học. Những bài báo tổng quan (review), bình luận (commentary), chương sách… là những cơ hội lí tưởng để giới thiệu những công trình nghiên cứu của mình đến đồng nghiệp quốc tế.

Nhưng để được mời viết những tổng quan hay bình luận thì cá nhân nhà khoa học phải có một vị thế uy tín trong môi trường khoa học và để tạo ra một vị thế đó, ngoài thành tích khoa học ra, cần phải có kĩ năng ngoại giao. Nói cách khác, nhà khoa học phải biết và tranh thủ ủng hộ của các nhà khoa học đàn anh, các nhóm nghiên cứu có tiếng trên thế giới để được nằm trong quĩ đạo của những người “elite” (tinh tú, xuất sắc - Bản tin ÐHQGHN).

Ông đánh giá kĩ năng của các nhà khoa học Việt Nam như thế nào?

Theo tôi thì câu trả lời là: Chưa. Các đại học nước ta chưa chuẩn bị tốt cho nghiên cứu sinh về các kĩ năng thông tin. Tôi đã dự rất nhiều hội nghị, hội thảo, khoa học trong nước và có thể nói rằng hầu hết các nghiên cứu sinh, thậm chí cả các giáo sư, thiếu kinh nghiệm trình bày một nghiên cứu khoa học cho mạch lạc, chưa am hiểu những qui ước trong việc soạn thảo powerpoint và nhất là chưa nói tiếng Anh thông thạo. Như tôi nói, tiếng Anh thì có thể thông cảm được vì nó không phải là tiếng mẹ đẻ, nên nếu có vài sai sót thì chắc chẳng ai phàn nàn. Nhưng một nhà khoa học cấp giáo sư mà trình bày một nghiên cứu quá sơ sài, quá cẩu thả, và bất chấp qui ước khoa học thì khó mà chấp nhận được. Trong thực tế, tôi đã thấy (và báo chí cũng có lần phản ảnh) về các nhà khoa học hàng đầu nước ta khi nói chuyện trong hội nghị quốc tế làm cho chủ tọa cứ lắc đầu. Do đó, tôi nghĩ những kĩ năng cơ bản như kĩ năng thông tin cần phải được đưa vào chương trình học bắt buộc (compulsory subject) cho sinh viên đại học. Trong khi chưa có những chương trình giảng dạy như thế, tôi nghĩ chúng ta có thể tổ chức nhiều khóa học theo dạng workshop cho các đồng nghiệp trong nước để chúng ta nhanh chóng làm quen với “luật chơi” khoa học ở ngoài.

Thế còn ở Ðại học New South Wales nơi ông đang làm việc, người ta tổ chức bồi dưỡng những kĩ năng này cho các nhà khoa học như thế nào?

Ở Ðại học New South Wales và Viện Garvan, chúng tôi có những khóa học chỉ chuyên dạy về cách viết một bài báo khoa học hay đơn xin tài trợ, cách viết một đơn xin học bổng, cách trình bày một nghiên cứu khoa học cho nghiên cứu sinh. Tôi cũng từng tham gia giảng dạy và soạn tài liệu về cách viết một bài báo khoa học, nên qua đó cũng có thể chia sẻ với các đồng nghiệp trong nước. Như vậy, muốn tiếp cận trình độ quốc tế, các nhà khoa học và các nhà quản lý đại học cần phải quan tâm đặc biệt đến kĩ năng mềm.

Theo ông, các đại học Việt Nam cần phải làm thế nào để các nhà khoa học có thể học hoặc tự học để nâng cao những kĩ năng này?

Ông bà ta có câu “Không thầy đố mày làm nên”. Nói đến “kĩ năng” là nói đến thực hành, và thực hành thì khó mà tự học được. Những bài giảng, kể cả bài giảng về cách viết bài báo khoa học, tràn ngập trên internet, nhưng không phải có những bài giảng đó là có thể viết một bài báo khoa học được. Bất cứ kĩ năng nào cũng cần phải học và tiếp cận với những người có kinh nghiệm.

Qua làm việc thực tế với các bạn trong nước, tôi thấy cái khó khăn lớn nhất là các đại học Việt Nam chúng ta thiếu những người có kinh nghiệm về các kĩ năng mềm này, đơn giản vì nhiều giáo sư và nhà khoa học nước ta chưa từng công bố các nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế. Tuy ngày nay các đại học nước ta cũng có một số nhà khoa học được đào tạo từ nước ngoài, nhưng khả năng độc lập mà họ có thể công bố một công trình nghiên cứu trên các tập san quốc tế vẫn còn rất hạn chế. Do đó, chỉ có một cách hữu hiệu nhất là mời các chuyên gia nước ngoài về trực tiếp giúp trang bị các kĩ năng mềm này cho các nhà khoa học trong nước.

Một kinh nghiệm mà tôi thấy cần học từ các nước láng giềng như Thái Lan và Nhật là ở một số đại học lớn tại các nước này, người ta có hẳn một hay hai người ngoại quốc nói tiếng Anh chuyên làm nghề biên tập khoa học (scientific editor) cho trường. Khi nhà khoa học soạn xong một bản thảo, họ trực tiếp làm việc với các chuyên gia này để hoàn chỉnh bản thảo trước khi gửi đi nộp cho một tập san khoa học. Tôi thấy đây cũng là một mô hình thực tế có thể giúp nâng cao sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế. Cộng đồng khoa học, cũng như xã hội, là một tập thể với những quan hệ đa chiều. Nhà khoa học phải phụ thuộc lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Trong mối quan hệ đa chiều như thế, kĩ năng ngoại giao rất quan trọng trong việc quảng bá công trình nghiên cứu của mình.

===


Một số nguyên tắc khi đặt tựa đề cho bài báo khoa học

1. Nên cố gắng đặt tựa đề với một thông điệp mới. Làm được như thế rất dễ gây sự chú ý của người đọc. Ví dụ: “A novel relationship between osteocalcin and diabetes mellitus”, ở đây chữ novel có tác dụng gợi ra một cái mới và làm cho người đọc thấy thích thú.

2. Không nên viết tựa đề theo kiểu phát biểu (statement). Khoa học không có gì là bất biến và “sự thật” hôm nay có thể sai trong tương lai. Do đó những tựa đề như “Smoking causes cancer” nó chẳng những cho thấy sự ấu trĩ hay ngây thơ trong khoa học của tác giả mà còn làm cho người đọc cảm thấy rất khó chịu.

3. Không bao giờ sử dụng viết tắt trong tựa đề bài báo. Mỗi công trình nghiên cứu thường tập trung vào một vấn đề chuyên sâu nào đó, và nếu chúng ta sử dụng viết tắt thì chỉ những người trong ngành mới hiểu, còn người ngoài ngành không hiểu và đó là một thiệt thòi cho nghiên cứu của mình.

4. Không nên viết tựa đề theo kiểu nghịch lí. Những tựa đề nghịch lí là “Yếu A ảnh hưởng xấu đến X, nhưng tác động tốt đến Y”. Những tựa đề kiểu này có thể làm cho người đọc khó chịu, và có khi làm lẫn lộn vấn đề của nghiên cứu.

5. Tựa đề không nên quá dài hay nhiều chữ. Tựa đề có nhiều chữ làm khó đọc và làm cho người đọc… dễ quên. Thông thường, tác giả nên cố gắng đặt tựa đề dưới 20 chữ. Có nhiều bài báo mà tựa đề có khi chỉ một chữ!

Một số nguyên tắc khi trình bày Power Point báo cáo khoa học

1. Nên dùng font chữ không có chân và Sans Serif như Arial hay Tahoma để khán giả dễ đọc. Những font chữ có chân như Times New Roman hay Courier làm cho khán giả tốn nhiều thời gian hơn để theo dõi.

2. Nên dùng cỡ chữ từ 18 trở lên, vì chữ nhỏ hơn làm cho người có tuổi khó đọc, còn chữ quá lớn thì tốn nhiều không gian.

3. Tránh viết toàn bộ bằng chữ in hoa vì rất khó đọc, và gây ấn tượng là diễn giả đang la hét!

4. Nên chọn chữ tối trên nền sáng cho giảng dạy hay nói chuyện trong giảng đường nhỏ.
5. Nên chọn chữ sáng trên nền tối cho các báo cáo khoa học và trong các giảng đường rộng. Tránh chữ màu xanh lá cây trên nền màu đỏ vì dễ gây "ngộ độc màu" cho người theo dõi.

6. Không nên cho âm thanh chạy theo chữ. Không nên sử dụng hoạt hình quá nhiều, vì nó gây ấn tượng diễn giải là… trẻ con.

7. Không nên nhồi nhét quá nhiều thông tin và hình ảnh trong một slide, vì nó làm giảm sự chú ý và gây lẫn lộn cho diễn giả.

8. Không nên đọc slide! Ðọc slide gây ấn tượng “trả bài” và làm cho người nghe không có hứng thú theo dõi.

Một số yếu tố làm cho người nghe chán

Kết quả nghiên cứu trên 159 khán giả về những yếu tố làm cho người nghe cảm thấy chán và sao lãng vấn đề.

1. Diễn giả đọc slide (60%)
2. Chữ quá nhỏ (51%)
3. Câu dài và không có gạch đầu dòng (48%)
4. Chọn màu khó đọc (37%)
5. Chữ chạy lòng vòng, hoạt cảnh nhiều (25%)
6. Dùng âm thanh đệm vào chữ (22%)
7. Biểu đồ, hình minh hoạ quá phức tạp (22%)

Phạm Hiệp (thực hiện) [Bản tin ĐHQG Hà Nội - số 216, 2009)
http://www.bulletin.vnu.edu.vn/btdhqghn/Vietnamese/C1483/C1636/2009/03/N24427/?1
Read more ...

Phạm Duy và Ngày trở về

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2009
Bây giờ đôi khi ngồi điểm lại danh sách (vâng, tôi có hẳn một danh sách) những ca khúc mà tôi ưa thích, tôi mới phát hiện rằng gần 80% là những ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy. Tôi mê nhạc của ông từ lúc còn học lớp đệ ngũ hay đệ tứ gì đó. Trong một chuyến đi picnic, tôi cầm đàn hát những bài dân ca trong cuốn nhạc [tôi nhớ] màu xám, kích thước cỡ nửa tờ giấy A4 bây giờ. Hát say sưa. Chắc hồi đó tôi muốn gây ấn tượng cho mấy cô bạn học cùng trường chăng? Hồi đó tôi không để ý nhạc sĩ nào cả. Sau này tôi mới phân biệt nhạc của Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Lê Thương, Thẩm Oánh, v.v… và sau nữa là Từ Công Phụng và Vũ Thành An. Không có một cuốn sách nào về Phạm Duy mà tôi bỏ qua cả. Bốn tập hồi kí của ông tôi “nuốt” hết. Nói tóm lại, tôi là fan của ông nhạc sĩ mà tôi không ngần ngại nói là hạng thiên tài. Càng nghe nhạc của ông tôi càng thán phục tính phong phú và kĩ thuật điêu luyện trong sáng tác.

Sau này ra hải ngoại tôi có dịp gặp người nhạc sĩ tôi ngưỡng mộ tại nhà ông ở Midway City, California. Lúc đó (năm 1998) ông cũng già yếu lắm rồi, nhưng vẫn hăng say nói về ý định làm tập nhạc Kiều. Bẵng đi một thời gian sóng gió, ông quyết định về sống bên Việt Nam. Anh em biết ông đều mừng cho ông, vì ông đã bày tỏ ý định về VN, nếu tôi không lầm, từ những năm trong thập niên 1980s! Nhưng ông đi đến đâu cũng đều gây dư luận. Người chống kẻ bênh. Nhưng những người không ưa ông hình như chỉ dựa vào huyền thoại và lời đồn đại chứ không dựa vào thực tế. Thật ra, tôi cũng chẳng biết bao nhiêu lời đồn đại là thật và bao nhiêu là giả tạo. Nhưng tôi thích nhạc của ông chứ còn cá nhân ông thì ăn nhằm gì. Tôi thông cảm là nghệ sĩ ông cũng có thể “trăng hoa” đôi chút, nhưng đó là chuyện cá nhân của ông.

Rồi mấy hôm nay tôi thỉnh thoảng theo dõi những tin liên quan buổi trình diễn nhạc ngày 27/3 tại Hà Nội đến nhạc sĩ Phạm Duy. Đọc bài sau đây thấy mừng cho ông đã mãn nguyện được trở về làm một show nhạc trang trọng ngay tại nơi ông sinh ra và ra đi. Hi vọng rằng nhạc của ông sẽ thổi một luồng gió mới vào cái không khí nhạc chẳng mấy hay ho hiện nay ở trong nước.

NVT

===

http://vietnamnet.vn/vanhoa/2009/03/838470/

Nhạc sĩ Phạm Duy: Ngày xưa tôi là đứa con hư ...

Có cảm giác rằng sâu thẳm trong ông vẫn rạo rực cái mà người ta gọi là “tình dân tộc”. Và cuối đời, cái “tình” ấy đã lôi kéo ông trở về quê nhà. Ông có muốn chia sẻ với lớp trẻ VN bây giờ về “tình dân tộc”?

- Tuổi thanh niên bây giờ có những ưu tư vì đất nước không giống chúng tôi ngày còn trẻ. Tôi không dám cả gan khuyên họ điều gì cả. Vấn đề là, trong địa hạt của tôi, khi tôi hát tình dân tộc thì lúc đó tình dân tộc đã lên rất lớn. Từ lúc chúng ta trong vòng nô lệ của thực dân Pháp, nhờ có cuộc cách mạng, nhờ sự lãnh đạo của Đảng lúc đó thì tất cả mọi người mới đi theo. Tình dân tộc không phải do tôi đánh thức, mà do hoàn cảnh xã hội, chúng tôi bị lôi cuốn theo. Văn Cao, tôi hay Trịnh Công Sơn đều thấu hiểu điều đó.

Bài tình tự đầu tiên của tôi là "Tình ca", lúc đó mới có bản sắc quốc gia, lúc đó mới thấy người VN khác người Trung Quốc, Ấn Độ, người Tây phương... ở tiếng nói, cảnh vật và con người. Trong khi mọi người hãy còn đi vào tân nhạc với những tình khúc viết về tình yêu đôi lứa, tôi đã thấy đây là cơ hội độc nhất để tôi khóc cười với dân tộc tôi.

Tôi tin người Việt Nam luôn có tự hào dân tộc. Tôi xa quê hương lâu rồi, không theo dõi kỹ hết được âm nhạc Việt Nam sau này. Nhưng tôi vẫn biết có những ca khúc như Quê hương (Nhạc Giáp Văn Thạch, thơ Đỗ Trung Quân). Nghe bài hát đó tôi nghĩ có người đồng cảm với mình. Nếu không có t"ình tự dân tộc" thì không thể sống.

Ông có đồng cảm với đồng nghiệp trẻ tài ba của ông, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, về một “vòng tay lớn” thật sự của lớp trẻ không? Làm gì để có cuộc “nối vòng tay lớn” đó? Nhiều người hay so sánh ông và NS Trịnh Công Sơn. Bản thân ông thấy Trịnh giống và khác ông như thế nào?

- Trịnh Công Sơn không khác gì tôi hay Văn Cao. Chúng tôi thao thức về tình tự dân tộc, thấy vòng tay cần nối lại trong lúc đảo điên. Tôi không thể tưởng tượng tôi còn sống đến bây giờ, để thấy ngày vòng tay lớn kết nối lại với như cuộc "trở về". Tôi nghĩ tôi về đây không phải vì mục đích cá nhân, không phải hoài bão riêng của một người. Nhiều người muốn trở về Việt Nam nhưng vì hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội, nên muốn về lắm mà chưa về đựơc.

Trịnh Công Sơn là nghệ sĩ có tài, có được sự nghiệp rất lớn. Nhiều người đã nói về sự thật đó rồi, tôi không cần nhắc lại làm gì. Nếu so sánh giữa chúng tôi với nhau thì có khác nhau: Trịnh Công Sơn sáng tác tuỳ hứng, còn tôi thì làm việc có chương trình hẳn hoi. Nếu không có chiến tranh thì không có Trịnh Công Sơn như người nghe được biết với những "Ca khúc da vàng". Tôi thì, khi chưa có chiến tranh, mới đi từ Hà Nội vào Nam tôi đã ý thức ngay phải làm nhạc về tình quê hương, tình dân tộc. Theo kháng chiến, tôi đã nói được vinh quang của dân tộc cũng như khổ đau của dân tộc. Tôi làm việc có chương trình, có hoạch định, chứ không phải nổi hứng lên thì làm. Tôi đúng hay sai, tôi hay hoặc dở thì tôi không dám "tự kiêu", nhưng tôi là thế.

Tôi là chứng nhân của thời đại, rất tự nhiên, lúc làm thì trong đầu không nghĩ sẽ bán được nhạc của mình. Tôi theo đúng câu châm ngôn "Âm nhạc không bao giờ nuôi được người làm ra nhạc". Tôi biết khai thác những gì tôi đã làm ra nhưng tôi cũng nghèo thôi. Người ta là triệu phú còn tôi chỉ trăm phú thôi.

Bài hát "Tình ca" đã được rất nhiều người yêu thích hơn nửa thế kỷ qua, ông có thể cho biết hoàn cảnh ra đời của nó và nó có nằm trong kế hoạch sáng tác như ông vừa nói không?

- Về bài hát "Tôi yêu tiếng nước tôi" sáng tác năm 1953, thì không cần ai khen vì chính tôi cũng phải khen tôi rồi. Hồi đó tôi đã có ý thức sáng tác một bài hát về bản sắc dân tộc. Ta đã đánh Tây bao lâu rồi, đã có Chính phủ rồi thì phải có cái gì là bản sắc quốc gia. Khi làm thì không ngờ lại thành công như vậy, dài dòng văn tự mà lại được yêu thích như vậy.

Ông đã từng nhận xét về NS Văn Cao là "Thấp bé hơn tôi nhưng tài hoa thì hơn tôi rất nhiều". Ông có thể kể một kỷ niệm nào đó về thời gian ông và NS Văn Cao sống ở Hải Phòng, cái thời mà ông đã kể lại là ông thì ăn nói văng mạng còn Văn Cao thì lại ăn nói nhỏ nhẹ...

- Tôi học được ở ông ấy rất nhiều. Ông ấy làm thơ hay lắm, còn tôi không làm được thơ. Ông ấy vẽ tranh đẹp lắm, ông ấy vẽ tôi bức chân dung đẹp lắm nhưng tôi làm mất rồi, thật tiếc. Ông ấy làm Thiên Thai, Trương chi tới 99 khuông nhạc, còn tôi chỉ ba mươi mấy khuông là hết rồi. Tôi lúc nào cũng kính trọng ông ấy.

Không những sống chung ở Hải Phòng mà nhữngnăm 1945, 1946, trước ngày Toàn quốc kháng chiến, tối đến chúng tôi kéo nhau đi chơi, tôi thường đùa chúng tôi là những con vạc sống về đêm. Rất nhiều kỷ niệm, như tôi với ông ấy cùng yêu một người con gái chẳng hạn. Thời đó tôi còn hung hăng lắm, ông ấy điềm tĩnh và đứng đắn hơn tôi nhiều.

Tôi có viết rất nhiều về Văn Cao. Tôi là người đầu tiên nói được tất cả những gì ông ấy đã làm trong nhóm của Hoàng Quý, những bài hưóng đạo sinh như Gió núi tôi phải tìm kiếm rất công phu mới được. Ông ấy viết Thăng Long hành khúc, Lịch sử ca... vậy ông ấy đi trước hay ngang Lưu Hữu Phước?

Thưa Nhạc sĩ Phạm Duy, người ta ví ông như con chim bách thanh, nhạc của ông đa dạng, phong phú. Hơn nữa ông có khoảng thời gian sáng tạo rất dài... Sau mọi thử nghiệm, ông ưng ý nhất với đề tài nào, phong cách nào, giai đoạn nào? Ông có dự định nào trong thời gian tới không?

- Tôi có may mắn là ham sống và sống dai, sống qua nhiều thời khác nhau. Có những nhạc sĩ chỉ có một thời, không chuyển sang thời khác được. Tôi có may mắn là rất tham lam, không chịu đứng một chỗ. Chạy chỗ này chỗ nọ, luôn luôn bị bà tiên âm nhạc ám ảnh. Lúc nào tôi cũng nghĩ tôi chưa có vợ, kể cả đến khi có vợ và 8 con cũng vẫn bị bà tiên âm nhạc hành hạ. Tôi chủ truơng ngay khi bắt đầu cầm đàn đi hát thì phải phản ánh lại xã hội tôi sống. Tôi "cover" được nhiều tâm trạng, tình cảm của con người. Tôi có tình ca cho sinh viên thị thành, sinh viên trường làng, tình yêu chiến sĩ, tình vợ chồng, rồi tình hờ...

Tất cả nhạc của tôi, dù dưới hình thức tân ca thì cũng là tình ca, tình người. Tôi không thể phê bình nhạc nào của tôi cả, việc đó xin dành cho người thưởng thức.

Thời gian tới, tôi dự định "làm thinh". Con người ta phải có lúc làm, lúc nghỉ. Tôi làm thinh 10 năm nay vì mải theo đuổi nàng Kiều của Nguyễn Du. Khi tôi dự định trở về, tôi có nhiều cảm hứng, làm 10 bài Hương ca, nói về quê hương năm 2000 thì sẽ khác. Đã phổ biến được 5 bài rồi.

Người ta thường nói: có tài có tật. Vậy ông có TẬT nào không? Yêu nhiều có phải là xấu không vì thật sự đôi lúc lý trí không giữ nổi trái tim...

- Tôi có nhiều tật lắm. Ăn tham, chơi cũng hết sức dữ dội. Nhưng đó là dĩ vãng, giờ tôi ngoan rồi. Ngày xưa tôi là người con hư.

Tôi không giản dị như câu nói "đôi lúc lý trí không giữ nổi trái tim" đâu. Tình yêu của tôi khác, tình yêu là đẹp nhất, không có tình yêu thì không có cuộc đời, chuyện yêu đương là tuyệt vời chứ không phải là xấu. Nếu yêu đương mà không gìn giữ sẽ loạn, nên phải có "Khổng Tử" ngồi trên vai chỉ huy mình, chứ thật sự ngoài tình yêu ra thì với vợ con tôi có trách nhiệm, với tất cả người tình tôi rất kính trọng. Không phải người đàn bà nào tôi cũng chơi bời đâu, không hợp duyên thì chia tay thôi. Tôi đã kết luận "người tình tuyệt vời", yêu một người như yêu vạn người, yêu vạn người như yêu một người.

Căn bản âm dương nên trên đời phải có đàn ông, đàn bà. Đàn ông, đàn bà suốt đời đi kiếm nhau đó là điều hết sức thiêng liêng. Đó là tật xấu hay là nết tốt?

Tôi gặp và yêu người tình không phải chỉ vì "tật dục". Nhưng vì cái gì thì tôi không cắt nghĩa được.Nếu cắt nghĩa được thì tên tôi là "Phạm Giới" rồi, may mà không cắt nghĩa được.

Rất nhiều khán giả yêu bài hát Ngày xưa Hoàng Thị, xin hỏi, người con gái trong bài hát này có phải là mối tình đầu của ông không?

- Cô gái đó là người tình của Phạm Thiên Thư chứ không phải người tình của tôi. Phạm Thiên Thư làm bài thơ nói đến người còn gái đẹp, không có cái tên hoa mỹ mà tên cô là Hoàng Thị Ngọ. Tôi thích lắm. Bài đó trong sáng, gợi cho tôi vài ba kỷ niệm cũ. Ông ấy làm những bài thơ hay đến thế, tôi phải phổ nhạc thôi. Bài này tôi sáng tác năm 1970, tôi và ông ấy gặp nhau trong nhà thương khi cùng đến gặp một người bạn. Nhờ tôi mà ông ấy có ý nghĩ viết 10 bài Đạo ca, như 10 bức tranh về đạo. Trước tôi có nhiều thành kiến, gặp ông ấy tôi cởi mở hết.

Trở về Việt Nam, ông đã đi lại "con đường cái quan" của mình chưa? Có bao giờ ông nảy ý định làm tiếp một "Con đường cái quan" của ngày hôm nay không?

- Tôi đã đi 2 lần rồi. Nếu xét lại thì 30 năm ngoại quốc, sự đi của tôi được Nguyên Sa ghi là "kỷ lục thế giới", đi khắp nơi chỉ còn Bắc cực và Nam cực vì lạnh quá không đi được. Con đường cái quan không chỉ từ Bắc vô Nam, nó là mơ ước phá tan ranh giới để đi và tôi cũng thực hiện được rồi.
Nhưng thôi, giờ 90 tuổi rồi, không đủ sức làm "con đường cái quan" nữa. Ai cũng sợ cái chết, tôi có 5, 7 bài nói về cái chết. Tôi viết ra hết sức thản nhiên: Những gì sẽ mang theo vào cõi chết, Ru người hấp hối, Tạ ơn đời, Chủ nhật buồn...

Xin cảm ơn nhạc sĩ về cuộc trò chuyện thú vị này
Read more ...