Pages

Loãng xương ở đàn ông

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2009
Bài này in bên Canada, nhưng chẳng hiểu sao có nhắc đến tôi. Công trình về ung thư tiền liệt tuyến (PC) và gãy xương thật ra công bố từ năm 2007, nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều người nhắc đến. Có lẽ vì chuyện đàn ông ít ai nói, nên giới báo chí tìm cách khai thác.

Nói đến PC làm tôi nhớ đến hai bài trên New England Journal of Medicine cho thấy truy tìm PC chẳng có hiệu quả cứu sống bệnh nhân. Đây là 2 nghiên cứu khác, một lần nữa, cho thấy truy tầm ung thư ở đàn ông có thể gây tác hại hơn là giúp họ. Thế nhưng, kĩ nghệ truy tầm ung thư vẫn phát triển phây phây. Tôi sẽ quay lại chủ đề này trong một bài khác.

GL Andriole, et al. Mortality Results from a Randomized Prostate-Cancer Screening Trial. NEJM 2009; 360:1310-1319.
url: http://content.nejm.org/cgi/content/full/360/13/1310

FH Schröder, et al. Screening and Prostate-Cancer Mortality in a Randomized European Study. NEJM 2009; 360:1320-8.
url: http://content.nejm.org/cgi/content/full/360/13/1320

NVT


http://www.readersdigest.ca/health/cms/xcms/update-on-osteoporosis_2143_a.html

Update on Osteoporosis

Researchers are making some important discoveries about osteoporosis, including the fact that one in three men over 60 are affected by the disease.

The latest findings about this disease are looking at the connection between diet, over the counter heartburn drugs and how we are still not getting enough calcium in our diets.

Acid vs. Calcium

You might already know that you need plenty of calcium and vitamin D to keep your bones strong. But new research suggests there is another dietary move that is just as important. A diet heavy in carbs and low in fruits and veggies may lead to bone loss, according to a new study from Tufts University in Boston. It’s a matter of chemistry. When you digest carbs, the process turns your innards slightly acidic. And a high-acid environment leaches calcium from bones, says Tufts University researcher Bess Dawson-Hughes. In contrast, fruit and vegetables create a skeleton-friendly alkaline environment.In her study, Dawson-Hughes says an alkaline supplement lowered the amount of calcium that volunteers excreted by 20 percent. That supplement isn’t currently available outside the lab but, you can get the same benefit by tweaking your diet, she says.

Good Substutions

Include at least two vegetable or fruit servings at every meal and eat no more than two daily servings of carbs such as bread, cereal and pasta. To keep your bones even stronger, substitute acid-producing foods with more alkali-boosting foods. Substitute:

* Pasta for potatoes
* Fizzy drinks for fruit juices
* Meat and poultry for tofu
* Beer for wine
* Peanuts for raisins

Drug Update

Good news for osteoporosis sufferers locked into taking weekly or monthly pills: Aclasta is a new bisphosphonate that’s administered by once-a-year injections. It’s just as effective at preventing hip and spine fractures as other bisphosphonates. You should consult with your doctor before taking this drug and be aware of the Health Canada advisory regarding this new drug.

Heartburn Medication Alert

Medications used for heartburn, such as Losec and Nexium, can be a problem if taken long term. In a University of Pennsylvania study, patients who used these for more than a year had a 44 percent higher risk of hip fracture. Dr Yu-Xiao Yang, author of the study, says the drugs may interfere with the absorption of dietary calcium and vitamin B12, both of which are needed to stop bone loss.

“It’s important to carefully weigh the risks and benefits. If a patient is truly benefiting from the drug, they should use the lowest effective dose,” he says. “And ensure they’re getting adequate calcium and vitamins.”

Connection to Prostate Cancer

One in three men over 60 are affected by osteoporosis and, if they suffer a hip fracture, they are more likely than a woman to die because of it.

Now, research from Sydney’s Garvan Institute shows that men who develop prostate cancer face a 50 percent higher risk of fracture, which increases to nearly a doubled risk if they are receiving androgen deprivation therapy (ADT). Interestingly, most of the men who developed prostate cancer started out with a higher-than-average bone mineral density (BMD).

“Obviously the higher BMD did not protect them against fracture,” says Associate Professor Tuan Nguyen, who led the study. “Men with prostate cancer should be checked for osteoporosis, particularly if they are being treated with ADT.

Online Calculators

Getting enough calcium is the key to preventing fractures, but how do we know we’re getting enough? To find out if your diet’s lacking, try the Calcium Calculator from Informed Health Online.

Over 60 and want to find out your risk of suffering a fracture in coming years? Check out the Garvan Institute’s new Fracture Risk Calculator.
Read more ...

Giải thưởng

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2009

Hôm nay là một ngày vui của tôi, hay nói chính xác hơn là cho nhóm của tôi. Thông thường cuối hội nghị quốc tế, người ta trao các giải thưởng. Giải cao quí nhất là công trình xuất sắc nhất trong năm (outstanding research award), đến giải cho nhà nghiên cứu trẻ, giải sự nghiệp dành cho nghiên cứu sinh sau khi xong tiến sĩ có thể đi thực hành một chỗ khác (gọi là Jack and Christine Martin award), v.v…

Một postdoc trong nhóm của tôi vừa chiếm giải công trình xuất sắc nhất trong năm, kèm theo $1,000 tặng thưởng. Một nghiên cứu sinh khác của tôi chiếm giải thưởng sự nghiệp với $15,000 để sau khi tốt nghiệp tiến sĩ cô ấy có quyền đi bất cứ lab nào trên thế giới học hỏi thêm. Cả hai đều là người Việt.

Mấy năm gần đây nhóm của tôi thường chiếm giải thưởng trong các hội nghị tổ chức bên Mĩ và Âu châu, nhưng chưa bao giờ chiếm giải trên “sân nhà”, và điều này làm tôi hơi … mất kiên nhẫn. Đến nay mới chiếm giải trên sân nhà! Chậm còn hơn không.

NVT

Read more ...

vertebroplasty và kyphoplasty

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2009
Mấy hôm nay, bận chuyện “cơm áo gạo tiền”, mà cụ thể là phải đi “phó hội”, nên không có dịp lên mạng ghi nhật kí. Hội nghị về xương do hai hội ANZBMS và IBMS tổ chức diễn ra từ ngày thứ Bảy (21/3/09) đến nay 25/3/09, với khoảng 1000 người trên khắp thế giới tề tụ tại Sydney để bàn thảo các vấn đề liên quan đến xương. Có lẽ nhiều người ngạc nhiên hỏi xương có gì mà nhiều chuyện để bàn như thế. Một đồng nghiệp trong nước có lần nói với tôi là khi anh ta bày tỏ ý định theo đuổi nghiên cứu về xương thì bị một người thẩy nói: xương có gì mà nghiên cứu? Anh bạn tôi ngạc nhiên về nhận xét này, nhưng cũng không muốn cãi với người cao tuổi mà thiếu thông tin. Câu chuyện thật vui!

Tôi hân hạnh tiếp xúc vài bạn từ Hà Nội và Sài Gòn sang đây dự hội nghị, nhưng không có dịp nói chuyện nhiều. Mấy năm gần đây, càng ngày càng có nhiều tên Việt trong danh sách tác giả công trình nghiên cứu. Khoảng 18 năm trước khi tôi mới bắt đầu vào ngành, chỉ có 1 hay 2 “Nguyen”, nhưng nay thì chẳng những có “Nguyen”, mà còn có “Tran”, “Pham”, “Lam”, “Ho”, “Hoang”, v.v… Năm nay có một cô nghiên cứu sinh tên Lam với công trình về OsVDR rất thú vị, nhưng thái độ của cô ta gây cho tôi một ấn tượng tốt. Cô ta tỏ ra là một người lanh lẹ, hoạt bát và khẳng định trong việc bảo vệ luận điểm của mình. Nói cách khác, cô ta tin vào chuyện cô ta làm, và tôi nghĩ đó là một điểm rất tốt của một người làm khoa học.

Trong hội nghị có nhiều bài giảng hay từ các chuyên gia hàng đầu trên thế giới. Chẳng hạn như hôm qua có một diễn giả từ Mayo Clinic (Mĩ) trình bày kết quả độc đáo của một nghiên cứu về điều trị gãy xương đốt sống bằng phẫu thuật. Theo tôi, nghiên cứu này cũng độc đáo. “Câu chuyện” có thể tóm lược như sau: Đối với các bệnh nhân bị gãy xương đốt sống theo dạng vertebral compression fractures (VCF) thì có 2 phẫu thuật không mấy xâm phạm: đó là vertebroplasty và kyphoplasty. Tôi không biết dịch sang tiếng Việt mình là gì nên để y như thế. Với phương pháp vertebroplasty, họ bơm xi măng vào chỗ xương bị gãy. Còn với phương pháp kyphohplasty, họ dùng kim để cho một cái bong bóng vào chỗ xương bị gãy để làm cho hình dạng xương giống như bình thường, rồi sau đó họ bơm xi măng vào và lấy bong bóng ra.

Phương pháp nào tốt hơn? Giới phẫu thuật vẫn còn tranh cãi gay gắt về câu hỏi này. Người nào có kinh nghiệm với phương pháp nào đó thì họ nghĩ phương pháp đó tốt hơn, và nhạo báng người làm với phương pháp khác. Để trả lời câu hỏi phương pháp nào tốt hơn, các chuyên gia tại Mayo Clinic làm một nghiên cứu độc đáo. Họ chia bệnh nhân ra làm 3 nhóm một cách ngẫu nhiên: nhóm 1 được điều trị bằng vertebroplasty, nhóm 2 với kyphoplasty, và nhóm 3 là … placebo. Có lẽ các bạn sẽ ngạc nhiên làm sao họ có thể điều trị phẫu thuật bằng giải phẫu giả (placebo)? Họ giải thích thế này: bệnh nhân được gây mê, họ cũng mổ nhưng chỉ nhấn dao xuống dưới da, rồi làm bộ lấp lại như là mổ thiệt (bệnh nhân có biết gì đâu) rồi cũng cho thuốc uống khi xuất viện.

Nếu vertebroplasty hay kyphoplasty có hiệu quả lâm sàng, chúng ta kì vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy hai nhóm này có tỉ lệ bình phục cao hơn nhóm placebo (nhóm chứng). Nhưng kết quả rất bất ngờ. Sau 3 tháng theo dõi, 3 nhóm đều bình phục như nhau. Hoàn toàn không có khác biệt nào giữa 3 nhóm cả.

Có nhiều cách diễn giải kết quả này. Những người tiến hành nghiên cứu thì diễn giải rằng phương vertebroplasty hay kyphoplasty đều có hiệu quả, vì rõ ràng là giảm đau, bệnh nhân đi lại được. Nhưng nếu so sánh với nhóm placebo thì rõ ràng cả vertebroplasty và kyphoplasty đều chẳng có gì hay ho cả!

Bài học về khoa học mà tôi thấy rất quí báu là bất cứ nghiên cứu nào cũng cần nhóm chứng, bởi vì không có nhóm chứng rất khó mà diễn giải kết quả ra sao. Trước đây, tôi cũng thấy nhiều nghiên cứu ở Việt Nam, nhất là những nghiên cứu liên quan đến phẫu thuật, đều không có nhóm chứng. Thật ra, phần lớn chỉ là những “exercise” (làm bài tập) chứ không phải study = nghiên cứu, bởi vì người ta chỉ lấy số liệu từ bệnh nhân sẵn có, rồi phù phép với các phân tích để cho ra một vài kết quả. Xin nói thêm rằng khi tôi nói như thế, tôi không có ý nói rằng làm exercise là vô dụng; ngược lại, những exercise như thế cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin trong khi chưa làm được nghiên cứu với nhóm chứng đàng hoàng.

Tôi vẫn bận tâm không hiểu tại sao ủy ban y đức Mayo Clinic phê chuẩn nghiên cứu đó. Dựa vào lí giải đạo đức nào hay bằng chứng khoa học gì mà họ cho phép bác sĩ điều trị bệnh nhân bằng cách mổ … dỏm? Ngoại trừ họ nghĩ rằng cả vertebroplasty và kyphoplasty đều vô dụng như không điều trị nên xác suất 50/50 và đó là lí do để phê chuẩn cho công trình nghiên cứu.

Ảnh hưởng giả dược (placebo effect) là một yếu tố quan trọng trong việc điều trị. Một cái nhìn thiện cảm, một cái sờ tay thân mật, một lời nói cảm thông, v.v… đều có hiệu quả lâm sàng đáng kể. Nhiều người đã nhận xét như thế. Tôi diễn giải nghiên cứu này là do ảnh hưởng placebo. Nếu điều này đúng thì tất cả những ca giải phẫu vertebroplasty và kyphoplasty trong quá khứ cũng chẳng khác gì so với các phương pháp của giới mà nhiều bác sĩ mỉa mai gọi họ là lang băm.

NVT
Read more ...

Cuộc chiến không cân sức giữa giới học giả VN và TQ

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2009
Đọc bài này (“’Cuộc chiến’ không cân sức giữa giới học giả VN và TQ”) làm tôi nhớ đến câu chuyện “công bố quốc tế” mà tôi (và vài người khác) đã nêu ra từ lâu trong hoạt động khoa học ở Việt Nam. Sự thật là các nghiên cứu khoa học ở Việt Nam chẳng có ai chú ý, vì đại đa số đều chỉ ta nói cho ta nghe, tức là chỉ công bố trên các tạp chí tiếng Việt. Các tạp chí này đều có đặc điểm chung là chất lượng thấp. Vì chất lượng thấp, nên chẳng ai quan tâm. Vì chẳng ai quan tâm, nên những vấn đề của Việt Nam chẳng ai biết đến. Và, thế là chúng ta thua thiệt dài dài ...

Cái khó khăn là Việt Nam không có những nhà nghiên cứu chịu công bố những lí luận và nghiên cứu của họ một cách nghiêm chỉnh trên các tạp chí quốc tế. Trong mấy mươi năm qua, con số bài báo khoa học về xã hội học từ VN chỉ đếm đầu ngón tay. Mới đây, có vài bài từ một số nhà nghiên cứu trẻ từ Việt Nam, nhưng họ viết theo quan điểm của ... Mĩ. Chúng ta chỉ giỏi Mẹ hát con khen hay, giỏi “nói với nhau”, mà không nói cho người ngoài nghe. Trên báo chí và truyền thông đại chúng, các nhà khoa học ta nói rất nhiều và có khi cũng rất hay, nhưng khi xem xét lại họ có công bố gì trên các tập san quốc tế hay không thì con số gần như là zero. Họ rất nổi tiếng ở nhà, nhưng vô danh ở ngoài. Chẳng biết tình trạng này có phù hợp với câu “khôn nhà dại chợ” không?

Chẳng hạn như chuyện chất độc da cam, ảnh hưởng lớn như thế và nghiêm trọng như thế, mà suốt mấy mươi năm trời chỉ có 4 bài báo khoa học từ Việt Nam, và tất cả 4 bài đều do người Mĩ đứng tác giả đầu! Các nhà khoa học Việt Nam nói oang oang là họ có nghiên cứu, nhưng hỏi công bố ở đâu thì họ chỉ mấy tạp chí ở Việt Nam! Do đó, khi ra tòa, thì tòa chỉ đơn giản tuyên bố “không có bằng chứng”, và thế là vụ kiện thất bại. Hết thất bại này đến thất bại khác. Thất bại không phải vì chúng ta không có chính lí, mà là không có bằng chứng khoa học. Báo chí Việt Nam đăng rất nhiều bài phóng sự đầy cảm tính (đó là nghề của giới báo chí), đưa ra những hình ảnh (chẳng dính dáng gì đến chất độc da cam), thì làm sao thuyết phục được dư luận quốc tế?

Rồi đến chuyện tranh chấp với TQ về vụ Trường Sa và Hoàng Sa, chúng ta cũng chỉ nói cho chúng ta nghe, chứ tài liệu khoa học về chuyện này trên quan điểm Việt Nam trên trường quốc tế thì rất hiếm. Các nhà-gọi-là nghiên cứu xã hội học của Việt Nam thật ra chẳng có tiếng vang gì trên thế giới, vì họ chỉ nói cho người mình nghe. Do đó, nếu một ngày nào đó, chúng ta ra tòa quốc tế với “bọn” TQ, chúng ta ở thế yếu (cũng y chang như vụ chất độc da cam). Hô hào “Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam” có thể làm cho chúng ta cảm thấy có “hào khí”, nhưng không thể thuyết phục được ai. Chúng ta cần lí lẽ chính đáng, cần dữ liệu khoa học, cần dữ liệu lịch sử. Chúng ta có tất cả những dữ liệu đó, nhưng hình như chưa ai “xử lí” dữ liệu một cách có hệ thống và công bố cho dư luận quốc tế biết.

Bài này nói "Việt Nam yếu thế", nhưng tôi nghĩ không hẳn vậy. Cần phân biệt giữa chất lượng và số lượng. TQ có thể có nhiều học giả lên tiếng trên trường quốc tế, nhưng lí lẽ của họ có thể chẳng có chất lượng gì. Do đó, chúng ta cần biện luận với chất lượng cao. Trong khoa học, một bài báo có chất lượng cao trên một tạp chí có uy tín có giá trị gấp trăm lần bài báo xoàng trên các tạp chí dỏm.

Chúng ta cần một thế hệ nghiên cứu xã hội học mới giúp cho Việt Nam hội nhập với cộng đồng quốc tế và có tiếng nói trên trường quốc tế về những tranh chấp giữa nước ta và nước khác.

NVT

http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6361/index.aspx

"Cuộc chiến" không cân sức giữa giới học giả VN và TQ

Trong đàm phán lãnh hải với Trung Quốc, nếu coi việc nghiên cứu và đưa ra các bằng chứng để xác lập chủ quyền là một mặt trận, thì đã và đang có một cuộc chiến không cân sức giữa giới nghiên cứu của hai nước, với phần thua thiệt thuộc về các học giả Việt Nam.

Sự thua thiệt thể hiện rõ trên các mặt: số lượng học giả, số lượng và diện phổ biến của công trình nghiên cứu, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, sự tham gia của tư nhân…

Để cất lên tiếng nói khẳng định chủ quyền

Ngày nay, tất cả các học giả về quan hệ quốc tế đều khẳng định rằng: Thời hiện đại, để chiến thắng trong những cuộc đấu tranh phức tạp như tranh chấp chủ quyền, điều kiện cốt yếu là sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, chứ không đơn thuần là ưu thế về quân sự.
Việc quốc tế hóa vấn đề lãnh thổ, lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa (HS-TS), do đó, là điều Việt Nam không thể không làm. Việc này mở đầu bằng quá trình đưa các quan điểm của phía Việt Nam ra trường quốc tế.

Có ba kênh chính để đưa quan điểm của Việt Nam ra quốc tế.

Thứ nhất là thông qua các tuyên bố ngoại giao, như chúng ta vẫn thường thấy phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao trả lời báo giới: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".

Thứ hai là thông qua các tạp chí khoa học quốc tế, các diễn đàn thế giới. Sự xuất hiện những bài viết khoa học, công trình nghiên cứu của phía Việt Nam trên các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới về lịch sử, địa lý, hàng hải, công pháp quốc tế… sẽ cực kỳ có sức nặng trong việc tranh biện.

Thứ ba là thông qua các nỗ lực ngoại giao và truyền thông như ra sách trắng, tổ chức hội thảo quốc tế, giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài, v.v…

Trung Quốc "chiếm sóng"

Trên kênh thứ hai, có thể thấy phía Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc. Dù không nhiều, nhưng đã có những bài viết khoa học của học giả Trung Quốc về vấn đề lãnh hải đăng trên các tạp chí uy tín của thế giới và khu vực như: Marine Policy, Marine Custom Management, Marine and Coastal Law Journal (các tạp chí về hàng hải và luật biển), American Journal for International Law (tạp chí nghiên cứu luật pháp, của Mỹ), Southeast Asia Studies (tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, của Singapore).

Đây là các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới, nghĩa là uy tín của chúng được thừa nhận trên phạm vi quốc tế. Một bài viết được đăng trên những tạp chí loại này mang lại danh tiếng cho sự nghiệp cá nhân của nhà khoa học.

Quan trọng hơn nữa, nó gây ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. Trong ngắn hạn và trung hạn, nó là tiếng nói có sức nặng với giới khoa học quốc tế. Trong dài hạn, nó là nguồn tài liệu tham khảo có tác động đáng sợ.

Về phía các học giả Việt Nam ở trong nước, cũng đã có những bài viết khoa học liên quan tới vấn đề lãnh hải và HS-TS. Tuy nhiên, các bài này chỉ được đăng tải bằng tiếng Việt trên các tạp chí chuyên ngành của Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Quân sự, Nghiên cứu Phát triển - tạp chí của Thừa Thiên - Huế) . Số lượng bản in hạn chế - 1.000 bản, phát hành trên diện rất hẹp.

Việt Nam… yếu thế

Trung Quốc cũng đã có khoảng 60 cuốn sách về HS-TS, bằng tiếng Trung và tiếng Anh, như Trung Quốc dữ Trung Quốc Nam Hải vấn đề (Trung Quốc và vấn đề biển Nam Trung Quốc, Phó Côn Thành - Thủy Bỉnh Hòa, 2007), Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo (Lưu Nam Uy, 1996), Nam Hải chư đảo địa lý - lịch sử - chủ quyền (Lữ Nhất Nhiên chủ biên, 1992)...

Chưa kể, còn hàng chục công trình của các nhà nghiên cứu gốc Trung Quốc ở Đài Loan, Hong Kong, Singapore, Anh, Mỹ.

Việt Nam có vài đầu sách, như Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo HS-TS (Lưu Văn Lợi, NXB Công an Nhân dân, 1995), Chiến lược Biển Việt Nam (Nguyễn Hồng Thao chủ biên, NXB Sự thật, 11/2008)… Nhưng số lượng chỉ đếm trên đầu ngón tay, các sách đều bằng tiếng Việt, phát hành rất ít.

Với kênh thứ ba - thông qua việc tổ chức hội thảo quốc tế, đưa các học giả đi giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài v.v. - thì sự tham gia của giới khoa học Việt Nam càng yếu ớt hơn.
Cộng đồng các nhà khoa học người Việt tại nước ngoài đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu để đưa ra các bằng chứng giúp Việt Nam tranh biện trong vấn đề lãnh hải. Chẳng hạn, TS Từ Đặng Minh Thu (ĐH Luật Sorbonne), luật gia Đào Văn Thụy từng đọc bài tham luận tại Hội thảo hè "Vấn đề tranh chấp Biển Đông" (New York, 1998), phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc với nhiều lý lẽ khoa học xác đáng.

Vì đâu giới nghiên cứu Việt Nam yếu thế?

TS Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) nhận xét: "So tương quan lực lượng với Trung Quốc trong chuyện nghiên cứu về lãnh hải, thì các công trình của học giả Việt Nam vừa ít ỏi, manh mún về số lượng, lại vừa không được sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội".

Ai cũng biết rằng điều kiện cần để có bài viết khoa học là một quá trình nghiên cứu tập trung cao và kéo dài. Nghiên cứu về vấn đề lãnh hải và HS-TS lại càng khó khăn hơn, nó đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, kinh phí.

Người nghiên cứu phải có khả năng tiếp cận với các tài liệu cổ bằng nhiều thứ tiếng khó (Hán, Nôm, Pháp, Anh, thậm chí tiếng Latin), phải bỏ chi phí mua tài liệu, đi thực địa, trao đổi tìm kiếm thông tin, v.v... Đổi lại, mỗi bài viết trên các tạp chí của Việt Nam được nhận vài trăm nghìn đồng nhuận bút.

Còn việc đưa bài viết ra tạp chí quốc tế thì gần như không tưởng, bởi thật khó để các nhà khoa học dồn sự nghiệp cho cả một công trình nghiên cứu để rồi không biết… đi về đâu, có được đăng tải hay không. Thiếu kinh phí, khó khăn trong việc tiếp cận các tài liệu "nhạy cảm" là những vật cản lớn. Chỉ riêng việc dịch bài viết sang một thứ tiếng quốc tế, như tiếng Anh hay tiếng Trung, cũng đã là vấn đề.

Một nhà nghiên cứu độc lập, ông Phạm Hoàng Quân, cho biết: "Ở Trung Quốc, việc tuyên truyền về HS-TS và lãnh hải được phân chia thành ba cấp. Cấp thấp nhất là cấp phổ thông, cho quần chúng. Cấp hai và cấp ba là cho các độc giả có trình độ cao hơn và các nhà nghiên cứu chuyên sâu. Như ở Việt Nam thì chẳng cấp nào phát triển cả".

Không có văn bản quy định chính thức, nhưng tài liệu liên quan tới lãnh hải, biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc nhiên được coi là "nhạy cảm", "mật", và một cá nhân khó mà có đủ tư cách để "xin" được nghiên cứu về HS-TS hay chủ quyền đất nước.Ông Quân, với tư cách nhà nghiên cứu độc lập, gặp khó khăn tương đối trong việc tiếp cận các tài liệu khoa học phục vụ cho công việc. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ ông được mời tham dự những hội thảo chuyên đề về lĩnh vực mình nghiên cứu - thường chỉ dành cho những nhà khoa học đã có biên chế chính thức ở một cơ quan nhà nước nào đó.Với một cá nhân là như vậy. Với các viện nghiên cứu trực thuộc Nhà nước, tình hình cũng không khả quan hơn. TS Nguyễn Xuân Diện nhận xét: "Về nguyên tắc, phải là cấp trên đặt hàng, cấp dưới đề đạt lên. Nếu Nhà nước không đặt hàng, các cơ quan chuyên môn có khả năng làm cũng e dè không muốn đề xuất. Các cá nhân nghiên cứu độc lập thì không thể có điều kiện thuận lợi về sưu tập tư liệu, điền dã thực địa, công bố kết quả của đề tài".

Không tiếp cận được với các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã đành, người dân còn không được giới truyền thông cung cấp thông tin và kiến thức về chủ quyền đất nước. Trong khi, trên thực tế, "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" - như khẳng định của Bộ Ngoại giao.

Chúng ta có thể làm gì?

Về bản chất, nghiên cứu khoa học là các nỗ lực cá nhân, tuy nhiên, với những vấn đề thuộc diện "công ích" như tranh chấp chủ quyền, thì Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng.

Nhà nước phải đặt hàng giới nghiên cứu, tạo thành một chiến lược lâu dài và bài bản, đồng thời để cho giới truyền thông diễn giải và phổ biến những công trình nghiên cứu chuyên sâu tới quần chúng sao cho tất cả mọi người đều có ý thức về chủ quyền đất nước.

Một số học giả người Việt Nam ở nước ngoài gợi ý rằng, cách tốt nhất là Nhà nước "xã hội hóa" công việc nghiên cứu khoa học, bằng cách tạo điều kiện để xã hội dân sự (tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, quỹ...) tài trợ cho các dự án khoa học, tạo điều kiện, thậm chí "luật hóa", để người nghiên cứu được tiếp xúc với thông tin khi cần.

Một điểm cần lưu ý là hoạt động nghiên cứu phải mang tính liên ngành, toàn diện, trên mọi lĩnh vực: văn bản học, khảo cổ, địa chất lịch sử, thổ nhưỡng, công pháp quốc tế...Theo quy luật số lớn, số lượng nghiên cứu càng nhiều thì khả năng có những công trình chất lượng càng cao.Sau hết, không thể thiếu nỗ lực công bố các công trình nghiên cứu đó ra diễn đàn quốc tế, nỗ lực diễn giải và phổ cập chúng tới người dân trong nước, cũng như, thông qua chính sách "ngoại giao nhân dân", tới được dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam tại nước ngoài.

Đoan Trang
Read more ...

Những tựa đề báo chí buồn cười

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2009
Đọc mấy tựa đề tin tức hôm nay làm tôi thấy buồn cười quá. Chẳng hiểu sao giới phóng viên bây giờ có vẻ cẩu thả quá.

Bài thứ nhất có tựa đề “14 du khách Nga lên máy bay đặc chủng về nước”, tôi tự hỏi “máy bay đặc chủng” là máy bay gì? Tôi nghĩ viết “chuyên cơ y tế” thì chắc có nhiều người hiểu hơn, vì chuyên cơ hàm ý nói đến các trang bị trên máy bay cho mục tiêu y tế.

Còn bài này, cũng trên Vietnamnet, “Việt Nam- một trong số ít nước châu Á tăng trưởng dương”, lại càng buồn cười hơn. Nếu chúng ta so sánh tỉ lệ phát triển kinh tế giữa hai năm thì có ba tình huống xảy ra: giảm, không thay đổi, và tăng. Cụ thể hơn, gọi p1 là chỉ số phát triển của năm 2008, và p2 là chỉ số phát triển của năm 2009. Hiệu số d = p2 – p1 phản ảnh xu hướng thay đổi giữa 2 năm. Nếu giảm thì chắc chắn d phải là số âm; nếu không thay đổi thì d phải là 0; và nếu tăng thì d phải cao hơn 0 (tức dương). Thành ra, nói “tăng trưởng dương” là thừa.



NVT
Read more ...

Ông Động “boléro”

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2009
Một câu chuyện cảm động về một người mù nuôi con đi học đến nơi đến chốn. Về Việt Nam lần nào tôi cũng gặp nhiều cảnh như mô tả trong bài này. Ngay cả ở dưới quê, thỉnh thoảng đi chợ làng, ngồi quán uống cà phê, tôi cũng thấy có người mù đàn ca. Người ca sĩ mù tôi gặp năm ngoái khoảng 50 tuổi, quần áo xốc xếch, tay cầm đàn guitar điện, miệng ngậm kèn, có một giọng ca rất khỏe (chắc chắn hơn những ca sĩ karaoke trong các DVD ca nhạc bên Bolsa). Ông vừa ca vừa bán kẹo kéo (người bán kẹo chắc là bà xã ông). Cũng như ông Động trong bài dưới đây, ông tuyệt đối không xin xỏ ai. Tôi thật sự kính trọng những người này. Nhưng cái khó là chẳng biết ai thật và ai giả.

Hình như sở trường của các ca sĩ mù là nhạc boléro. Không biết có phải vì họ biết được “thị trường” loại nhạc này trong giới bình dân, hay vì thể loại nhạc này chuyên chở được những tâm sự mà họ muốn gửi gắm cho mọi người, nhưng dù sao đi nữa, thì việc đem lời ca tiếng hát làm vui đời hay gửi gấm tâm sự mình cho đời cũng đều đáng quí.

Thú thật, dù thỉnh thoảng vẫn nghe loại nhạc boléro, nhưng tôi chưa bao giờ là fan của loại nhạc này (cũng như tôi chưa bao giờ là fan của Khánh Ly khi chị ta ca nhạc TCS; nghe chị ấy ca một hay hai bài thì được, nhưng nghe một loạt 5 bài thì chịu thua). Ấy thế mà khi nghe người mù ca loại nhạc này, tôi lại thấy thích! Có lần ở một quán cà phê dưới quê, tôi yêu cầu một ca sĩ mù hát bài “Trường cũ tình xưa”, và ông đáp ứng yêu cầu tôi một cách tuyệt vời. Hôm nay tôi trở về thăm trường cũ / Nhiều nét đổ thay tường mái rêu mờ / Bên hiên hằng giờ tìm những bạn xưa / May ra có còn đôi đứa / Vẫn yên vui sống đời học trò ... Bâng khuâng đợi chờ người sao chẳng đến / Hỏi lá hỏi hoa chỉ thấy im lìm / Cây dương đầu trường còn khắc hàng tên / Hoa leo phũ phàng đan kín / Tiếng ve ru nghe gợi buồn thêm … Bạn cũ xa rồi, có người về đất buôn xuôi / Năm ba đứa bạt phương trời / Hai thằng chờ đầu quân năm tới … Ve ơi, hát gì điệu nhạc lâm ly Khóc người biền biệt. Chỉ với cái đàn điện, và nhiều nhạc cụ tự chế (kể cả loa) ông thể hiện ca khúc làm tôi gần khóc, vì cách đó chỉ vài bước là trường tiểu học tôi theo học từ hồi còn nhỏ.

NVT

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=306272&ChannelID=89

Thứ Hai, 16/03/2009, 04:25 (GMT+7)

Ông Động “boléro”

TT - Những khúc nhạc buồn boléro dường như lạc lõng giữa những âm thanh ồn ào của thực khách. Đêm nay, ông Động hát khá nhiều nhưng xấp vé số trên tay ông sao vẫn còn nhiều.
Đêm dần về khuya, ông vẫn say sưa hát như một nghệ sĩ boléro đường phố đích thực. “Kiếp này xin làm người hát rong, để cho đời không chê trách…” - giọng ông trở nên nghẹn lại khi chợt nhớ ngày mai đến thời hạn đóng học phí cho con rồi...

Đã đi gần hết cuộc đời nhưng ông Nguyễn Vũ Động vẫn chưa một lần nhìn thấy mặt vợ và những đứa con thân yêu của mình. Hai mắt mù lòa đã đẩy ông vào cuộc sống của bóng đêm. Gần 30 năm làm nghề hát rong, ông vật lộn với một cuộc đời không ánh sáng để chắt chiu từng đồng tiền bán vé số nuôi đàn con khôn lớn, vào đại học.

“Nốt nhạc” cuộc đời

Cứ đến hạn đóng học phí cho con là người tôi như lên cơn sốt. Nhiều lúc kẹt tiền không biết mượn ai. Mù lòa như tôi chẳng có ai dám cho mượn. Chỉ ráng lo hát, bán vé số mà lo cho con. Nhiều khi tôi thấy mình như một bóng ma của cuộc đời. Nhưng cuộc đời đã sắp đặt và ban tặng cho mình đàn con ngoan thì mình phải ráng sống cho đàng hoàng”, ông nói.

Ngày nào cũng vậy, cứ chạng vạng tối người ta đã thấy ông có mặt ở quán bánh xèo 46A Đinh Công Tráng, quận 1, TP.HCM bắt đầu cho một đêm hát rong, bán vé số mưu sinh của mình. Mỗi đêm ông đi bộ không dưới hàng chục cây số từ các quán ăn, quán nhậu trên con đường này, vòng qua các quán ăn trên đường Pasteur rồi quanh xuống bờ kè Trần Khánh Dư, lại trở về các quán nhậu đường Nguyễn Công Trứ, Hải Triều… Hầu như hằng đêm ông về tới phòng trọ khi trời đã gần hừng sáng.

Mới lên 4 tuổi, căn bệnh đậu mùa đã cướp mất ánh sáng của đời ông. Nhà nghèo, cha mẹ đông con, cậu bé mù được một người quen tốt bụng của gia đình đưa từ vùng quê Bình Thuận lên Sài Gòn học trường dành cho người mù. “Tôi may mắn được cho học tại Trường dạy nam sinh mù, sau đó học chữ nổi ở Trường Lasan. Năm 1972 thì đậu tú tài 2 rồi học môn tâm lý học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn được một năm thì miền Nam giải phóng” - ông kể.

Việc học dở dang, ông không biết phải làm nghề gì kiếm sống nên đành lần mò bỏ phố về lại vùng quê Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận. Chàng trai khiếm thị quay về quê cuốc đất trồng cải. “Cứ cuốc một nhát thì phải đưa chân đá một cái cho đất vỡ ra. Nhiều khi đá hụt vì không thấy đường”, ông nhớ lại. Một cô gái tình cờ đi ngang thấy lạ, hỏi ra mới biết ông bị mù. Không ngờ lại có duyên nợ. Cô gái ấy sau này trở thành vợ ông.

“Căn nhà” hai vợ chồng ông ở là một cái chòi giữa đồng không mông quạnh, cách con đường làng nhỏ khoảng 3km bờ ruộng ngoằn ngoèo. Dưới gầm giường quanh năm cỏ và lúa mọc um tùm, rắn vào tận giường để ở.

Khó khăn trăm bề, ông đi cuốc đất mướn nhưng mù lòa không ai thuê. Thêm đứa con nữa chào đời. Cuộc sống cơ cực quá nên ông không còn lựa chọn nào khác là trở lại Sài Gòn. May mắn có người bạn học cũ ở trường dạy nam sinh khiếm thị ngày trước cho ngủ nhờ qua đêm, còn ban ngày ông đi bán vé số dạo kiếm tiền gửi về cho vợ nuôi con.

Mỗi tháng về thăm nhà một lần là ông lại ứa nước mắt khi nghe hai con nhỏ kể chuyện phải đi bộ một mình vài cây số đến trường mẫu giáo. Giữa đường bị trẻ em cùng lứa ăn hiếp, bị đánh thường xuyên và bị giễu cợt chỉ vì cái tội “cha nó bị mù”.

Ông khóc rồi khuyên con nếu thương cha thì phải cố gắng chịu đựng mà lo học. “Nhất định cực khổ mấy cũng phải chấp nhận để nuôi đàn con khôn lớn, ăn học thành tài”, ông tự hứa với lòng như vậy. Mỗi ngày ông chỉ ăn một lon gạo và 2.000 đồng dưa leo với muối để tiết kiệm tiền gửi về lo cho con.

“Sống trên đời này, người giàu sang cũng như người nghèo khó. Trời đã ban cho, ta cám ơn trời dù sống thương đau…”, giọng ca trầm buồn của ông Động vừa cất lên khiến dãy phòng trọ tồi tàn trở nên im ắng và sang trọng lạ thường. Ông bảo: “Làm nghề này lúc người ta xua đuổi thì buồn lắm. Nhưng con người ta đều có lòng tự trọng. Khách không đồng ý thì mình rút lui liền. Quán nào chủ cho vào thì chúng tôi tri ân nhiều lắm. Mình chỉ hát phục vụ và mời gọi mọi người mua vé số ủng hộ, chứ tuyệt đối không bao giờ nhận tiền bố thí hay xin xỏ. Làm nghề gì cũng phải có lòng tự trọng của mình”.

“Mỗi khi gặp khách thích văn nghệ mời hát thì tôi vui lắm. Tôi hát suốt đêm cũng được. Tôi mê những bản nhạc và điệu nhạc boléro trầm buồn như chính cuộc đời mình” - ông kể. Có lẽ vậy mà bạn bè còn gọi ông là ông Động “boléro”. Thỉnh thoảng gặp khách “sộp” mời hát cả chục bài, rồi biếu ít tiền thù lao bồi dưỡng. Sáng hôm sau nhất định ông sẽ mua cái gì đó gửi về cho con. Khi thì cặp sách, khi thì bộ quần áo. “Hạnh phúc nhất là khi lo xong mọi khoản chi tiêu cho mình và học phí cho con, gom được ít đồng gửi về quê cho các con ăn một bữa tưng bừng”, ông hồ hởi, khoe.

“Con là ánh sáng đời cha”

Niềm vui lớn nhất của đời ông là các con ông đều học rất giỏi. Cô con gái thứ hai Nguyễn Vũ Trúc Vũ vừa tốt nghiệp đại học loại giỏi khoa công nghệ thực phẩm của Trường đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, và cũng vừa mới thử việc tại một công ty cổ phần trên đường Cao Thắng, quận 10.
Trúc Vũ nổi tiếng là học sinh giỏi từ lớp 1-12, từng giành giải ba kỳ thi giỏi tiếng Anh cấp tỉnh, thi tốt nghiệp phổ thông cả năm môn đều trên 9 điểm. Còn lên đại học Vũ đã giành được học bổng Rencontres du Vietnam dành cho sinh viên nghèo vượt khó.

Người con trai đầu lòng của ông là Nguyễn Vũ Lê Vũ cũng mới tốt nghiệp Trường cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng, vừa được ký hợp đồng làm việc tại Công ty Toyota Đông Sài Gòn với mức lương 1,2 triệu đồng/tháng. Cô con gái thứ ba là Nguyễn Vũ Xuân Vũ đang học kế toán tại Trường ĐH Bình Dương. Nguyễn Vũ Ánh Vũ, người con gái thứ 4, đang học lớp 12 Trường THPT Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận.

Còn cô con út Nguyễn Vũ Vi Vũ cũng đang là học sinh lớp 9 của trường này. Ông bảo Vi Vũ là niềm hi vọng lớn nhất của ông khi cháu là học sinh giỏi từ lớp 1-9. “Tôi mong con gái út sẽ đậu vào Đại học Y khoa nên sẽ tiếp tục hát rong, bán vé số cho đến khi nào cháu tốt nghiệp đại học mới thôi”, ông đầy hi vọng nói.

Thương cha mù lòa, đi bán vé số cực khổ, ngoài giờ học các con lớn của ông tranh thủ đi làm thêm gia sư phụ cha lo học phí, trang trải việc học hành. Khi đã ra trường có việc làm, hai con lớn của ông đề nghị cha thôi bán vé số để các con phụng dưỡng. Nhưng ông nhất định không chịu: “Cha còn khỏe thì còn đi hát, bán vé số nuôi tiếp mấy đứa em tụi con học lên ĐH. Tụi con thương cha thì làm việc tốt, phụ cha lo cho em là tốt rồi. Các con là ánh sáng đời cha mà”.

“Ba là niềm tự hào của tụi em. Nếu không có ba thì không biết cuộc đời của tụi em bây giờ sẽ ra sao nữa. Cả đời ba hát rong khổ cực chỉ để tụi em được nên người”, Lê Vũ và Trúc Vũ bật khóc khi nói về cha mình. Nếu có một ước mơ thì các con của ông đều nói chỉ mong cho ba mình được về quê sống với mẹ vì ông cũng đến tuổi thất thập cổ lai hi rồi.

“Bang chủ cái bang”

Ông Động nói: “Tôi còn khỏe thì còn đi hát dạo, bán vé số nuôi con nên người” - Ảnh: Nguyệt Biều
Dãy phòng trọ ở căn nhà 2C/D9 cư xá Cửu Long, phường 22, quận Bình Thạnh nơi ông Động cư ngụ đã trở thành “làng mù boléro” của Sài Gòn khi có đến năm người mù sống bằng nghề hát rong, bán vé số hằng đêm tại các quán ăn. Mỗi căn phòng trọ chỉ rộng chưa tới 9m2, chật chội nhưng ấm áp tình bạn. Ông Nguyễn Vũ Động được bạn bè mù gọi vui là “bang chủ cái bang” vì ông là người đàn anh luôn đứng ra cưu mang, giúp đỡ những người cùng cảnh ngộ.

Mỗi sáng thức dậy ông luôn gọi bạn bè ngồi lại, khi cùng nhau uống ly trà, hỏi han, chia sẻ với từng người để nếu có chuyện hữu sự thì giúp đỡ. Khi thì ông cho bạn bè túng thiếu vay ít tiền mà ông dành dụm đóng học phí cho con để trang trải cuộc sống lúc khó khăn. Lúc lại đứng ra vận động những người cùng cảnh ngộ góp tiền giúp “đồng nghiệp” đau ốm. Ông cũng truyền dạy miễn phí ngón đàn, lời ca cho khá nhiều “đồng nghiệp” cùng cảnh ngộ mới vào nghề.

NGUYỆT BIỀU
Read more ...

84 tuổi vẫn đạp xe đi dạy tiếng Anh

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2009

Một câu chuyện đẹp làm sao! Một ông giáo làng, 84 tuổi, vẫn cọc cạch đạp xe (không phải xe Honda nhé) đi dạy tiếng Anh cho học trò quê. Đọc xong bài này tôi cứ tưởng tượng cảnh thầy giáo Anh đạp xe trên con đường làng, băng ngang qua những hàng bông bụp, hàng dừa mé sông, để lên lớp cho đám học trò mắt to há hốc nghe. Tôi chợt ước gì khi về già mình có một công việc như ông cụ này: dạy tiếng Anh cho bọn con cháu trong làng.

NVT


===

ThầyAnh, 84 tuổi


http://dantri.com.vn/c25/s25-313456/84-tuoi-van-dap-xe-di-day-tieng-anh.htm


84 tuổi vẫn đạp xe đi dạy tiếng Anh


(Dân trí) - Hơn 70 tuổi ông mới cắp sách đi học tiếng Anh. Sau 3 năm miệt mài, ông lấy được bằng B và bằng C tiếng Anh “hết sức ngon lành”. Ở tuổi 84, ông vẫn đạp xe đi dạy ngoại ngữ cho lũ học trò nhỏ ở Mỏ Cày, Bến Tre.

Gặp ông, chúng tôi quá đỗi bất ngờ khi hiển hiện trước mắt là một ông già 84 tuổi, tóc đã bạc trắng nhưng vẫn rất mạnh khỏe, nhanh nhẹn và đặc biệt có trí nhớ tốt cũng như đôi mắt còn rất sáng.

Ông Anh vẫn còn nhớ như in những năm tháng tuổi thơ và quá trình đầy khó khăn đến với cái nghề dạy học của mình. Ông Anh kể, từ nhỏ ông đã đi học một chương trình học do người Pháp dạy và cho đến năm 1943 ông tốt nghiệp bằng thành trung tiếng Pháp. Sau đó đi học bằng tú tài nhưng do tình hình lúc bấy giờ khó khăn nên ông không học được Đại học. Tuy nhiên ông vẫn tiếp cận được một số sách báo, kiến thức từ một số người thân quen khác.

Năm 1945, ông được đi học lớp cán bộ tuyên huấn tỉnh ủy Bến Tre và sau đó tham gia kháng chiến đến năm 1954. Lúc này có việc đưa lực lượng đi Bắc chiến đấu nhưng do ông có vợ và 2 con nhỏ nên ông không đi và năm 1955 ông bắt đầu đi dạy học. Ông Anh cho biết, đây là mốc rất quan trọng cho nghề nghiệp của mình lúc đó và cả sau này. Vì lúc này ông cũng là một cán bộ bí mật nhưng được dạy học công khai. Năm 1968 ông liên lạc lại được với cách mạng vì trước đó đã mất liên lạc với lý do an toàn cho ông. Lúc này ông tham gia vào Hội nhà giáo bí mật của thị xã Bến Tre.

Từ đó đến năm 1969, ông vừa dạy học nhưng cũng vừa tự học và ông thi đậu vào Đại học Văn khoa Sài Gòn rồi học Đại học và sau đó tốt nghiệp thì chuyển sang dạy môn Văn cấp 3. Trong giai đoạn 1969-1973, ông là Hiệu trưởng của trường cấp 3 Thạnh Phú - Bến Tre. Năm 1975-1990, ông tiếp tục dạy học và sau đó thì nhà nước cho nghỉ hưu ở tuổi 65, lãnh lương hưu một lần là 7 chỉ vàng (tương đương khoảng 1 triệu 400 đồng tiền thời đó).

Sau khi về hưu, ông Anh về làm vườn cùng vợ để nuôi con cái ăn học. Ông Anh có tất cả 8 người con đều học hết lớp 12. Nhưng do hoàn cảnh còn rất khó khăn cho nên chỉ có 3 người học lên tiếp Cao đẳng và hiện giờ là những giáo viên cấp 2.

Còn riêng ông Anh thì ông bắt đầu đi dạy kèm cho nhiều học sinh vào năm 1995. Ông mở lớp dạy tiếng Anh vỡ lòng (vì trước đó dù ông học tiếng Pháp là chính nhưng ông cũng được học 2 năm tiếng Anh nên ít nhiều ông cũng biết tiếng Anh) tại nhà và cho vài đứa trẻ trong xóm.

Ông Anh tâm sự: “Mình cũng phải nghiên cứu giáo án dạy sao cho bọn trẻ tiếp nhận nhanh nhất. Mình dạy cũng là để noi gương tự lực, yêu nghề, biết chữ nghĩa thì phải gởi lại cho lớp trẻ sau này chứ già rồi chết mang xuống mồ uổng lắm”.

Ông Anh dạy lớp vỡ lòng tiếng Anh cho đến năm 1999 thì ông lại đi học thêm tiếng Anh. Lúc bấy giờ, ông cũng đã 74 tuổi nhưng “sáng ông làm thầy giáo, tối làm học trò” trong suốt 3 năm trời. Tối nào ông cũng đạp xe gần 10 cây số từ nhà ở xã Tân Phú Tây (Mỏ Cày) đến Trung tâm ngoại ngữ Bến Tre (thị xã Bến Tre) để học tiếng Anh.

Ông cười nói: “Lúc đó, nhiều thầy cô giáo và nhiều người đến học đáng tuổi con cháu của tôi rất bất ngờ khi thấy một ông già hơn 70 tuổi nhưng vẫn còn có thể đi học”. Sau 3 năm “miệt mài kinh sử” ông Anh cũng lấy được bằng B và bằng C tiếng Anh “hết sức ngon lành” ở cái tuổi mà “không biết ngày mai ra sao”.

Hiện giờ, ông Anh đang dạy cho gần 20 em học sinh lớp vở lòng, lớp 6, lớp 8, lớp 9 môn tiếng Anh ở các xã Phước Mỹ Trung, Tân Phú Tây. Ông cho biết, lâu lâu cũng dạy cho các em cấp 3 nhưng số này là rất ít vì thời gian rất hạn chế. Ông cũng cho biết thêm, dạy cho các em nhưng mình cũng thu chút ít tiền học phí để lo cho tuổi già.

Khi chúng tôi hỏi về sức khỏe ở cái tuổi hơn 80, ông Anh bộc bạch là ông thường xuyên tập thể dục để giữ gìn sức khỏe và từ ngày hành nghề dạy học thêm cho đến nay ông chưa một lần bị ốm đau hay tuổi già hành hạ những khi trái gió trở trời. Quả thật, ông Anh còn rất khỏe, mắt còn sáng để đọc rành rọt từng câu chữ một bài báo nào đó, ông vẫn còn rất nhanh nhẹn khi đi xe đạp đây đó. Ông cho biết, thời gian của ông hiện giờ là “rất kín” vì phải dạy nhiều chỗ nên từ 6g30 sáng cho đến 19g tối hàng ngày là không thể gặp ông ở nhà.

Nhiều em học sinh từng học tiếng Anh với ông giờ cũng có rất nhiều người thành công như có em đang học Đại học Sư phạm Đồng Tháp, Đại học Cần Thơ… Những em này ông Anh thường dạy từ lớp vỡ lòng cho đến cả cấp 3 môn tiếng Anh.

Ông tâm sự, còn khỏe thì còn đi dạy, chừng nào đi không nổi thì thôi chứ ông nhất quyết không chịu “gác kiếm” nghề dạy học của mình. Nhiều học trò của ông cho biết, ông rất ít khi bỏ dạy và nếu có nghỉ thì đa số là do các em có việc riêng nên xin ông nghỉ.

Không chỉ dạy học, ông Anh còn là một “nhà thơ”. Sau khi về hưu, ông cũng làm thơ khá nhiều nói về quá trình đến với nghề dạy học, rồi luyến tiếc những ngày tháng đã qua, rồi những việc thế sự ở đời. Thơ của ông cũng được đăng trên các tạp chí văn nghệ huyện, tỉnh Bến Tre. Và đương nhiên sự nghiệp giáo dục được ông đặt lên hàng đầu như trong bài thơ “Giã biệt” của ông có đoạn: “Về dưới mái tranh dừa mát rượi / Nâu sồng, thanh đạm vậy mà vui / Sống nghĩa là cho, cho nhân nghĩa / Cho mầm non thêm nhánh thêm chồi”. Đó cũng là mong muốn của ông Anh, nhưng ở cái tuổi 84 thì không biết ông còn có thể “cho…” đến khi nào? Một tấm lòng giáo dục rất đáng được trân trọng.

Ông cho biết, hiện ông đang làm hồ sơ để xin được cấp trợ cấp như cho một giáo viên về hưu nhưng vẫn chưa được xã xem xét.
Read more ...

Một vụ "Madoff" trong y khoa: Lại một ngôi sao y khoa rơi rụng!

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2009
Lại một ngôi sao y khoa rơi rụng!

Giáo sư Scott S. Reuben, 50 tuổi, là một chuyên gia và giám đốc bộ môn gây mê của Trung tâm Y khoa Baystate (bang Illinois, Mĩ), và trường Y thuộc Đại học Tufts. Ông là một “ngôi sao” trong chuyên ngành gây mê, với những công trình nghiên cứu giảm đau sau phẫu thuật. Ông đã công bố 72 công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san y khoa hàng đầu trong ngành gây mê như Anesthesiology, Anesthesia and Analgesia, Journal of Clinical Anesthesia, v.v… Do đó, không ngạc nhiên khi thấy những công trình nghiên cứu này gây tiếng vang và ảnh hưởng đến chuyên ngành gây mê ở Mĩ.

Một trong những lĩnh vực nghiên cứu ông theo đuổi và có ảnh hưởng lớn là “trường phái điều trị đa phương” bằng cách sử dụng nhiều thuốc chống đau để giảm tối đa những phẫu thuật mang tính xâm phạm. Từ năm 2000, bằng các nghiên cứu của mình, ông thuyết phục các bác sĩ giải phẫu chấn thương chỉnh hình sử dụng các thuốc như Celebrex, Vioxx, và Bextra để giảm dau (thay vì sử dụng NSAIDS như trước đó). Ông còn cho rằng phối hợp các thuốc trên và thuốc can thiệp hệ thần kinh (neuropathic agents) có hiệu quả cao hơn thuốc mô phỏng theo thuốc phiện (opioids). Có người cho rằng nhờ những nghiên cứu của Reuben mà những thuốc giảm đau như Celebrex, Vioxx có thị trường hàng tỉ đô-la mỗi năm.





GS Scott S. Reuben

Giới khoa học xem đây là một trường hợp gian lận khoa học lớn nhất trong lịch sử y khoa Mĩ. Thật vậy, hiếm thấy trong lịch sử y khoa có một nhà khoa học nào ngụy tạo số liệu trong một thời gian dài như thế, và nhờ những ngụy tạo đó mà “leo” đến chức giáo sư y khoa! Chẳng những ngụy tạo dữ liệu, giáo sư Reuben còn ngụy tạo cả … tác giả. Theo giáo sư Evan Ekman (chuyên gia phẫu thuật chấn thương chỉnh hình ở Columbia) cho biết tên của ông xuất hiện trong 2 bài báo của Reuben, nhưng ông Ekman chẳng biết gì cả! Thật là hi hữu!

Còn nhớ trước đây, vào năm 2004, tiến sĩ Hwang woo-suk tuyên bố rằng ông đã thành công tạo ra dòng tế bào gốc từ phôi thai nhân bản, đem lại biết bao hi vọng cho bệnh nhân nan y, nhưng đến cuối năm 2005, qua nhiều tháng điều tra chúng ta biết rằng ông chỉ ngụy tạo dữ liệu! Năm ngoái, cũng ở Hàn Quốc, giáo sư Kim Tae kook cũng bị phát giác là ngụy tạo dữ liệu và phân tích dữ liệu trong hai công trình công bố trên tập san Science vào năm 2005 và Nature Chemical Biology vào năm 2006.
Giả tạo dữ liệu là một vi phạm nghiêm trọng về đạo đức khoa học, bởi vì nó làm sức mẻ niềm tin giữa các nhà khoa học với nhau, và giữa công chúng và nhà khoa học. Trong khi làm nghiên cứu, nhà khoa học thu thập dữ liệu, xử lí dữ liệu theo những phương pháp chuẩn mà cộng đồng khoa học chấp nhận, và công bố những kết quả phân tích đó trong một bài báo khoa học. Khi nộp bài báo khoa học cho một tập san, không ai có quyền chất vấn dữ liệu đó giả tạo hay không (vì làm như thế là một xúc phạm lớn), do sự tín nhiệm giữa các nhà khoa học với nhau. Trong thực tế, cũng có nhà khoa học sai sót trong quá trình thu thập và xử lí dữ liệu, nhưng đó là những sai sót mang tính bất cẩn, vô ý thức. Còn giả tạo số liệu theo giả thuyết của mình đặt ra không phải là sai sót, mà là một tội phạm. Tội phạm mà Gs Reuben phạm phải còn nghiêm trọng hơn, vì uy tín của ông và những ảnh hưởng mà nghiên cứu của ông gây ra trong chuyên ngành. Quan trọng hơn là những ảnh hưởng này liên quan đến bệnh nhân, và do đó, ông phạm thêm một tội khác: vi phạm y đức. Điều này chẳng khác nào cố ý điều trị bệnh nhân bằng một liệu pháp kém hiệu quả chỉ để thỏa mãn ý muốn và giả thuyết cá nhân. Do đó, không ngạc nhiên khi thấy những người phạm tội trong khoa học đều bị xử phạt nặng.

Nhìn người lại nghĩ đến ta. Ở VN chưa có trường hợp gian lận khoa học dưới hình thức giả tạo số liệu được phát hiện, nhưng điều này không có nghĩa là các nhà khoa học nước ta đều "thánh thiện" cả. Chợt nhớ đến vấn đề nghiên cứu về chất độc da cam, một nhà nghiên cứu Mĩ nhận xét về các nghiên cứu ở VN đại khái như sau: không hiểu họ làm nghiên cứu như thế nào, mà kết quả lúc nào cũng "positive". Trong khoa học, đặc biệt là y học, không bao giờ có những kết quả hoàn hảo. Chúng ta vẫn hay nghe nghiên cứu A nói uống trà xanh tốt cho xương, nhưng nghiên cứu B cho thấy ngược lại. Hiếm có vấn đề nào mà kết quả nhất quán 100%. Do đó, cách nói của người đồng nghiệp Mĩ là một cách nói lịch sự: "tôi không tin vào nghiên cứu của anh".

Gian lận khoa học xảy ra bất cứ ở đâu và lúc nào. Cái khác là có nước có cơ chế xử lí và qui chế quản lí vấn đề. Còn ở nước ta, theo tôi biết chẳng có cơ chế nào hay qui chế nào để quản lí vấn đề gian lận và vi phạm đạo đức khoa học cả. Đã đến lúc cơ quan chức năng có một cơ chế để giải quyết vấn đề khi chuyện không hay xảy ra.

NVT

Danh sách 21 bài báo của Gs Reuben mà dữ liệu là hoàn toàn giả tạo.




http://www.sciam.com/article.cfm?id=a-medical-madoff-anesthestesiologist-faked-data

A Medical Madoff: Anesthesiologist Faked Data in 21 Studies

A pioneering anesthesiologist has been implicated in a massive research fraud that has altered the way millions of patients are treated for pain during and after orthopedic surgeries

By Brendan Borrell

Over the past 12 years, anesthesiologist Scott Reuben revolutionized the way physicians provide pain relief to patients undergoing orthopedic surgery for everything from torn ligaments to worn-out hips. Now, the profession is in shambles after an investigation revealed that at least 21 of Reuben's papers were pure fiction, and that the pain drugs he touted in them may have slowed postoperative healing.

"We are talking about millions of patients worldwide, where postoperative pain management has been affected by the research findings of Dr. Reuben," says Steven Shafer, editor in chief of the journal Anesthesia & Analgesia, which published 10 of Reuben's fraudulent papers.

Paul White, another editor at the journal, estimates that Reuben's studies led to the sale of billions of dollars worth of the potentially dangerous drugs known as COX2 inhibitors, Pfizer's Celebrex (celecoxib) and Merck's Vioxx (rofecoxib), for applications whose therapeutic benefits are now in question. Reuben was a member of Pfizer's speaker's bureau and received five independent research grants from the company. The editors do not believe patients were significantly harmed by the short-term use of these COX2 inhibitors for pain management but they say it's possible the therapy may have prolonged recovery periods.

Baystate Medical Center in Springfield, Mass., began investigating Reuben's findings last May after its chief academic officer, Hal Jenson, discovered during a routine audit that Reuben had not received approval from the hospital's review board to conduct two of his studies. Reuben "violated the trust of Baystate, the community and science," Jenson says. The story of the investigation was first reported by Anesthesiology News late last month.

Reuben, 50, has been stripped of his research and educational duties and has been on medical leave since May. He received his medical degree from the State University of New York at Buffalo School of Medicine & Biomedical Sciences in 1985 and did his residency at the Mount Sinai Medical Center in New York City. In 1991, he joined Baystate, which serves as the western campus for Tufts University School of Medicine, and has worked as a staff anesthesiologist and the director of acute pain management.

His lawyer, Ingrid Martin of Dwyer & Collora, LLP, in Boston, told ScientificAmerican.com that Reuben has cooperated with the investigation and that he "deeply regrets that all of this happened." She added that "with the [investigating] committee's guidance, he is taking steps to ensure this never happens again." She declined to answer any further questions, and Reuben did not respond to an e-mail request for comment.

Beginning in 2000, Reuben, in his now-discredited research, attempted to convince orthopedic surgeons to shift from the first generation of nonsteroidal anti-inflammatory drugs (NSAIDs) to the newer, proprietary COX2 inhibitors, such as Vioxx, Celebrex, and Pfizer's Bextra (valdecoxib). He claimed that using such drugs in combination with the Pfizer anticonvulsant Neurontin (gabapentin), and later Lyrica (pregabalin), prior to and during surgery could be effective in decreasing postoperative pain and reduce the use of addictive painkillers, such as morphine, during recovery. A 2007 editorial in Anesthesia & Analgesia stated that Reuben had been at the "forefront of redesigning pain management protocols" through his "carefully planned" and "meticulously documented" studies.

Many orthopedic surgeons, however, were slow to adopt COX2 inhibitors due to animal studies that showed short-term use might hinder bone healing. Then, in 2004, Vioxx and Bextra were pulled from the market because of their link to an increased risk of heart attacks and strokes, leaving Pfizer's Celebrex as the only COX2 inhibitor available. Celebrex sales plunged 40 percent after a study that same year suggesting that it, too, posed a heart attack risk. Despite this, Reuben continued to present "findings" in research funded by Pfizer that trumpeted Celebrex's alleged benefits and downplayed its potential negative side effects.

He apparently hoped to erase doubts by persuading orthopedic surgeons to co-author papers with him based on his bogus data. In 2005 he and Evan Ekman, an orthopedic surgeon at Southern Orthopaedic Sports Medicine in Columbia, S.C., published a study on the use of Celebrex to control pain in back surgery patients. "The short-term administration of celecoxib," they wrote in the paper published in The Journal of Bone and Joint Surgery, "results in no significant deleterious effect on bone or ligament healing or cardiovascular outcomes."

Three years later, Reuben's career would begin to unravel as Ekman began to suspect foul play. In addition to collaborating with Reuben on the now-retracted Celebrex study, Ekman agreed to review a Reuben manuscript on surgery on the anterior cruciate ligament (ACL) in the knee. But when he asked the anesthesiologist for the name of the orthopedic surgeon on the study, Reuben ceased communication with him.

Then, last year, Ekman was invited by Pfizer to give a talk. While there, he was handed a version of the very manuscript Reuben had asked him to review, which had subsequently been published in Anesthesia & Analgesia. To his surprise, and horror, he was listed as a co-author: Reuben had forged his signature on the submission form, Ekman says.

By then, Editor in Chief Shafer had already put several Reuben manuscripts on hold after learning that Baystate had initiated a probe into the validity of his research. The investigation later identified 21 articles based on patient data that had been partially or completely doctored. Although Pfizer funded Reuben's research between 2002 and 2007, Baystate has no records of those payments and says that the research funds could have been paid directly to Reuben. Such an arrangement would be "highly unusual," Shafer notes. "It's just a little frustrating," Baystate spokesperson Jane Albert says. "I don't know how many dollars went to Dr. Reuben or his group."

Pfizer spokesperson Sally Beatty insists the grants were properly disbursed to Baystate in accordance with Pfizer policy. "Pfizer is not familiar with the records retention policies of Baystate Medical Center," she says, "However, independent investigator-initiated research grant agreements were executed between Pfizer and Baystate Medical Center." Beatty was unable to provide information on the dollar amount of the grants, but editor White says they typically range between $10,000 to $100,000.

The question is: Why did it take 12 years before a "routine audit" revealed Reuben's widespread data fabrication? "Baystate publishes about 200 [studies] every year, and of those [articles], the audit rate might only be 5 percent," Baystate's Jenson says, acknowledging that ultimately "Baystate is responsible" for making sure that research done there is properly conducted and reported. He says that the hospital has been trying to strengthen its oversight program over "the past few years" and that it is in the process of applying for accreditation from the Association for the Accreditation of Human Research Protection Programs (AAHRPP) in Washington, D.C., which provides an independent evaluation of an organization's ethical standards and oversight. The lack of accreditation is not unusual because the nonprofit program was not established until 2001 and only recently has grown to include 159 hospitals, academic institutions and other organizations.

In hindsight, Anesthesia & Analgesia editors Shafer and White admit that it should have been a "red flag" that Reuben's studies were consistently favorable to the drugs he studied. White, who has also received drug company educational grants, says that such funding comes with "subtle pressure" to give the companies the results they want. For now, at least, neither the drug companies nor Reuben's co-authors are officially sharing in the blame, but that's expected to change. "There's a lot of responsibility to pass around," White says, "It's all being focused on Scott Reuben, but the reality is there are many other responsible parties."

Read more ...

Chiến lược giáo dục - 3 sôi 2 lạnh

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2009
Bản dự thảo chiến lược giáo dục này đã đến phiên bản thứ 14. Thoạt đầu mới nghe qua thì chúng ta tưởng là đã bàn thảo nhiều lần rồi, nhưng trong thực tế thì bản được trình làng là bản thứ 12.

Cách làm ở Việt Nam ta thật khác với cách làm ở các nước tiên tiến trên thế giới. Ở Việt Nam, các dự thảo chiến lược hay những đề cương tương tự đều do các “chuyên gia” của các bộ làm, họ thảo luận kín, rồi đùng một cái trình làng để bà con phản biện. Thật ra, phản biện chỉ có hình thức thôi, chứ mọi chuyện họ đã quyết định hết rồi và chẳng có phản biện nào làm thay đổi quyết định của họ. Do đó, thoạt đầu mới nghe qua thì dân chủ đấy, nhưng thật ra là dân chủ cho có hình thức thôi. Điển hình là qui chế về đào tạo tiến sĩ mà Bộ GDĐT mới soạn thảo gần đây, họ hoàn toàn lờ đi những nhận xét và góp ý của công chúng trong thời gian qua. Có thể các chuyên gia này chẳng bao giờ đọc báo nên chẳng biết công chúng nghĩ gì. Có thể họ đọc báo, nhưng họ không hiểu; hay hiểu mà bất cần, vì họ nghĩ họ là chuyên gia, chẳng cần nghe ý kiến ai cả. Cũng có thể họ lười suy nghĩ, chỉ lấy bản cũ soạn lại cho chắc ăn. Và, cũng có thể họ biết hết, nhưng chỉ soạn theo ý kiến chỉ đạo của lãnh tụ nào đó. Nhưng nói gì thì nói, tôi nghĩ cách làm của họ thiếu tính dân chủ.

Còn ở các nước tiên tiến thì họ làm ngược lại. Để thay đổi chính sách hay đề ra chiến lược mới, bộ giáo dục sẽ giao cho một chuyên gia từ một trường đại học hay viện nghiên cứu chủ trì. Chuyên gia này có nhiệm vụ tập hợp các đồng nghiệp trong ngành thành lập ủy ban. Ủy ban lên kế hoạch làm việc, và khi có kết quả, ủy ban có nhiệm vụ báo cáo cho bộ trưởng biết. Cách làm việc của ủy ban rất đơn giản: họ ra thông cáo kêu gọi tất cả (nhấn mạnh: tất cả) những ai quan tâm đến giáo dục đệ trình quan điểm của mình, góp ý về đường lối, chủ trương, và các ý kiến này phải được trình bày trong một văn bản nghiêm chỉnh, và gửi cho ủy ban. Trong kì chấn chỉnh giáo dục vừa qua ở Úc, ủy ban cải cách nhận được góp ý của nhiều đại học, công ti, doanh nghiệp nhỏ, cơ quan chính phủ, cá nhân, v.v… mà tổng số trang giấy lên đến 51.000 trang! Công việc khó của ủy ban là tổng kết ý kiến, kèm theo những kiến nghị cụ thể để trình bày cho bộ trưởng. Thời gian trung bình làm việc là 1-2 năm. Cách thức làm việc này rõ ràng là dân chủ hơn cách làm ở nước ta.

Quay trở lại bản dự thảo chiến lược giáo dục. Tôi có đọc qua phiên bản thứ 12, nhưng vì thấy quá chung chung nên chẳng có gì để nói. Việt Nam đổi mới nhiều chỗ khác thì tôi có thấy, nhưng chỗ này (Bộ GDĐT) thì chẳng có gì đổi mới cả. Ngay cả văn phong trong bản dự thảo cũng y chang như thời bao cấp: hô hào khẩu hiệu, chung chung (ghét nhất là cái này vì nó như đánh đố và làm mất thì giờ người khác), đánh giá quá khứ toàn màu hồng, và mục tiêu thì toàn màu xanh quá đẹp. Nói chung là thiếu tính thực tế.

Thiếu thực tế rõ rệt nhất là mục tiêu có trường đại học đẳng cấp quốc tế trong vòng 10 năm. Có lẽ quí vị trong ban soạn thảo chiến lược này nằm mơ ban ngày, hay là họ cố tình bán niềm tin cho công chúng, chứ với tình trạng hiện nay (năng suất khoa học không bằng 1/10 Singapore và 1/5 Thái Lan) thì làm sao có một đại học đẳng cấp quốc tế trong vòng 10 năm! Những chuyện nhỏ nhất như giáo sư không có phòng làm việc, thậm chí có trường máy fax còn cà rịch cà tang, website chết, thư viện còn thua thư viện một trường trung học, v.v… mà nói chuyện "đẳng cấp quốc tế" thì quả là khôi hài. Quá khôi hài. Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng. Do đó, nếu có góp ý gì, có lẽ tôi sẽ nói: hãy bắt đầu bằng những việc nhỏ nhất và cụ thể nhất trong việc tổ chức lại đại học sao cho các trường này thoát khỏi cái chức năng dạy nghề như hiện nay.

Xin trích ý kiến của Gs Chu Hảo: “Xin Bộ GD và ĐT đừng làm đến bản dự thảo chiến lược lần thứ 15. Vì chúng tôi không biết còn đủ thời gian, tâm huyết, và có còn…gan để góp ý nữa hay không. Mà nếu có làm đến như thế, cũng là một sự hạ thấp uy tín của bộ. Xin đừng tiếp tục làm những đề án chắp vá như thế này. Chúng ta phải bình tĩnh ngồi lại với nhau, từ việc đánh giá lại thực trạng GD nghiêm túc, chứ không phải là kiểu “3 sôi 2 lạnh” như hiện nay".

Đồng ý 100% với giáo sư Hảo! Cần thêm một ý: bỏ cách làm phi dân chủ hiện nay, nên học cách làm dân chủ hơn của nước ngoài. Không nên để cho Bộ GDĐT vừa đá bóng vừa thổi còi!

NVT

===


http://tuanvietnam.net/vn/sukiennonghomnay/6318/index.aspx

Chiến lược giáo dục: Người hoan nghênh, người muốn bỏ

Mới đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội thảo các trường đại học, cao đẳng góp ý Chiến lược phát triển GD 2009 – 2020 (dự thảo). Trước đó, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật VN cũng tổ chức hội thảo về chủ đề này. Song, ý kiến góp ý của hai hội thảo dường như có khoảng cách khác nhau rất lớn.

Dự thảo đạt tầm hay chệch hướng?

Nhận định chung về bản dự thảo (lần thứ 14) Chiến lược GD 2009- 2020, hầu hết hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường ĐH đều “nhất trí với bản dự thảo”. Nhiều người tỏ lời khen tổ công tác (Viện Khoa học Giáo dục VN) đã làm việc nghiêm túc, hiệu quả, bản dự thảo được soạn thảo công phu, giải pháp ngắn gọn và phù hợp với mục tiêu đề ra…

GS Nguyễn Văn Lê (Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương) khẳng định: “...Chưa có ý kiến nào phủ nhận, hoặc đưa ra cái gì mới mang tầm vượt bản dự thảo chiến lược này... Đây là cố gắng rất lớn của Bộ GD và ĐT. Tôi thấy rằng chúng ta đã xây dựng chiến lược có ý nghĩa định hướng cho giáo dục VN trong những năm tới.”

Trong khi đó, GS Hoàng Tụy - người có ý kiến phát biểu đầu tiên tại buổi hội thảo của Liên hiệp các hội KHKTVN lại cho rằng GD mà ta đang xây dựng và thể hiện trong bản dự thảo lần thứ 14 "không phải là GD cần thiết cho xã hội này, thậm chí có nguy cơ là phản giáo dục(!). Giáo sư chỉ rõ: sự lãnh đạo của bộ phận quản lý giáo dục vĩ mô thiếu tính chuyên nghiệp. Một số mục tiêu của ta trong chiến lược này, nghe rất kêu nhưng rỗng tuếch, không khả thi".

GS Trần Hữu Nghị (Trường ĐH dân lập Hải Phòng) thì cho rằng dự thảo đã thể hiện công phu, tập trung trí tuệ của đội ngũ làm việc. Đánh giá đúng đắn chất lượng GD hiện tại… Quan điểm GD đáp ứng nhu cầu xã hội là quan điểm đúng.

Còn GS Đỗ Sanh tại hội thảo của Liên hiệp các hội KHKTVN lại nói: "Nêu mục tiêu "dạy những gì xã hội cần", nhưng lại có một sự thực nữa là chúng ta không thể dạy những gì xã hội cần. Vì xã hội biến đổi liên tục, nếu chỉ chạy theo các mục tiêu trước mắt mà xã hội cần, thì trường ĐH không khác gì một trường dạy nghề".

Đồng cảm với ý kiến này, GS Lê Du Phong (nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế Quốc dân) nhận xét: Bản dự thảo chiến lược đánh giá thực trạng quá “ngon lành”. Nếu thực trạng đúng như thế thì xã hội đã không đến nỗi quá bức xúc như hiện nay. Đề nghị Bộ GD và ĐT nên dũng cảm hơn trong việc nhìn nhận đánh giá thực trạng nền GD.

Theo GS, hạn chế thấy ngay trong dự thảo là cấu trúc cơ thể GD là không chuẩn xác. Nội dung và phương pháp GD đưa ra ở tất cả các cấp học không chuẩn. "Ta không dạy làm người, mà dạy “lý tưởng…”. Những điều dạy trong trường rất hay, rất đẹp, nhưng khi trẻ con bước ra khỏi cổng trường là thấy hoàn toàn ngược lại".

Nguyên nhân sâu sa hơn ở chỗ, nên xem lại chính sách GD của chúng ta. Chính sách GD như hiện nay sẽ không bao giờ khắc phục được những bất cập của hệ thống. Ngành ra sức đào tạo giáo viên nhiều hơn nữa, nhưng hệ thống điều hành GD không thay đổi thì mọi nỗ lực khác bằng không.
Nhưng PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn (Trường ĐH Cần Thơ) lại cho rằng: "Bảy phần của dự thảo chiến lược đã chỉ ra một cách hợp lý yếu kém và nguyên nhân yếu kém, thể hiện tính quyết tâm của nhóm làm chiến lược. Tính chất đổi mới và cải cách được thể hiện rõ…Tính dân chủ, công khai, minh bạch và tính trách nhiệm được coi trọng. Quan điểm mục tiêu giải pháp được chọn là hợp lý”.
“Trong bộ” phản biện ít, “ngoài bộ” chê nhiều

"Ngành GD vẫn tuyên bố không tham nhũng, lãng phí. Tôi thì thấy ngược lại. Lãng phí trong GD phải có con mắt chuyên nghiệp mới thấy được", GS. Hoàng Tụy bức xúc về tình trạng chi tiêu ngân sách cho GD. Hiện nay ta có những chi tiêu giật mình. Theo tính toán của một số nhà nghiên cứu GD, với mức chi ngân sách cho GD như hiện nay, ta hoàn toàn đủ khả năng để cấp lương cho thầy, cô giáo đàng hoàng mà không phải dạy thêm, “bịa” thêm".

Để chi tiêu tài chính hiệu quả, TS Bùi Trân Phượng (Trường ĐH Hoa Sen) đề nghị: "Nên giao cho các trường tự quyết định mức lương của giáo viên, dựa trên năng lực làm việc cụ thể. Áp dụng đại trà ở trường công cách thực hiện đã thành công ở các trường ĐH tư thục".

Nhưng "Bộ còn chưa tự chủ được thì làm sao mà giao quyền tự chủ cho trường”. Ý kiến của TS Đỗ Văn Xê (Trường ĐH Cần Thơ), được chính Thứ trưởng thường trực Bành Tiến Long nhắc lại trong bài phát biểu tổng kết.

Trong số các đại biểu dự hội thảo do Bộ GD và ĐT tổ chức, PGS. TS Thái Bá Cần (Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP. HCM) có lẽ là một trong những người có ý kiến mang màu sắc “phản biện” rõ nhất. Ông cho rằng cách trình bày tình hình GD kiểu "thành tựu - yếu kém" là cách truyền thống, dễ gây tranh cãi. Đặc biệt bức tranh GD VN không thật rõ nét. Hiện trạng nên được trình bày theo tiêu chí đã được công nhận của UNESCO - vừa khách quan, vừa dễ so sánh với các nền GD khác.
PGS Thái Bá Cần cũng chỉ rõ: Bản dự thảo chưa hoàn chỉnh về việc xây dựng các mục tiêu chiến lược – phần quan trọng nhất. Ngành đưa ra ba mục tiêu, nhưng hai mục tiêu đầu chỉ là hai nhóm chỉ số về số lượng và chất lượng, mục tiêu thứ ba cũng chỉ là phương tiện.

Tương tự, nhiều giải pháp đưa ra cũng là sự lặp lại chỉ tiêu, không phải là giải pháp, kiểu như: 100% giảng viên ĐH là thạc sĩ trở lên, trong đó có 30% là tiến sĩ; các hoạt động trong giải pháp chưa được kiểm chứng.

Ý kiến của GS Phạm Tất Dong (Hội Khuyến học VN) được sự đồng tình của nhiều đồng nghiệp trong Liên hiệp các hội KHKTVN: Vai trò của ngành GD và ĐT trong văn bản dự thảo chiến lược rất mờ, không nói rõ việc thực hiện sẽ diễn ra như thế nào.

Có vẻ như chúng ta đang thú vị lắm với GD mất tiền, nên cứ lâu lâu lại nói đến tăng học phí, và cứ nói say sưa mãi. Nhưng sự thực điều này không phải là xu hướng chính của thế giới. Nói xây dựng “xã hội học tập” nghĩa là mỗi người dân phải có cơ hội học tập, như khoảng 50 triệu người lao động hiện nay sẽ được tiếp cận với GD ra sao? Thực tế cho thấy GD cho người lớn rất hiếm hoi, không trở thành một ngành học về thực chất.

Mặt khác, chúng ta không nên chạy theo việc mở trường ĐH khi không thể đào tạo đủ đội ngũ giảng viên. Thay vào đó cần đẩy mạnh dạy nghề ngắn hạn, phục vụ đời sống trước mắt cho rất nhiều người đến tuổi lao động, đặc biệt vùng nông thôn.

GS Bùi Văn Ga (Trường ĐH Bách khoa Đà Nẵng) cho rằng tiêu chí xây dựng 30 trường ĐH về nghiên cứu khoa học cơ bản không khả thi, ngành nên nhấn mạnh nghiên cứu ứng dụng, vì nó rất cần thiết trong điều kiện hiện nay.

Dự thảo đến lần thứ 15 hoặc hơn thế nữa?

Gần đây, nhóm nghiên cứu của GS Hoàng Tụy và Viện Nghiên cứu phát triển IDS có đưa ra một bản kiến nghị chấn hưng GD. Một số nhóm nghiên cứu khác của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nhóm của các nhà nghiên cứu GD Việt kiều... đều có đề xuất cải cách GD ở tầm chiến lược: quan điểm - triết lý - mục tiêu GD. Hầu hết các tài liệu này đã được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng nhiều hình thức.

Sau rất nhiều ý kiến bày tỏ thái độ không đồng tình với nội dung dự thảo chiến lược, GS Chu Hảo thẳng thắn: "Đọc xong bản dự thảo, và đọc các ý kiến trên báo chí, có thể nhận ra ngay rằng đang có sự khác biệt rất lớn giữa Bộ GD và ĐT với công luận về việc nhận định nền GD hiện tại. Cả xã hội đang bức xúc, còn Bộ GD và ĐT thì thấy khá tốt đẹp, chỉ cần cải tiến chút nữa. Vậy làm thế nào ta có thể để đối thoại được với nhau?

Vừa rồi, ngành GD và ĐT đưa ra chuẩn phát triển cho trẻ 5 tuổi, trong đó có tiêu chí cho các em là: Nhận biết được cảm xúc của người khác là bực mình hay sung sướng. Vậy tại sao ngành lại không biết xã hội đang bực mình thế này?"(!)

GS Chu Hảo đề nghị: “Xin Bộ GD và ĐT đừng làm đến bản dự thảo chiến lược lần thứ 15. Vì chúng tôi không biết còn đủ thời gian, tâm huyết, và có còn…gan để góp ý nữa hay không. Mà nếu có làm đến như thế, cũng là một sự hạ thấp uy tín của bộ. Xin đừng tiếp tục làm những đề án chắp vá như thế này. Chúng ta phải bình tĩnh ngồi lại với nhau, từ việc đánh giá lại thực trạng GD nghiêm túc, chứ không phải là kiểu “3 sôi 2 lạnh” như hiện nay".

Nhưng ngay sau đó, PGS. TS Phan Văn Kha – Viện Khoa học GDVN– cơ quan soạn thảo dự thảo chiến lược vẫn kiên nhẫn nhắc lại ý kiến: "Chắc dự thảo này không thể dừng lại ở bản thứ 14".
Read more ...