Pages

DVD mới của Ái Vân

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2009
Ca sĩ Ái Vân mới ra DVD mới có tên là "Ái Vân, Hoa Hồng Ký Ức", và nhờ bạn bè quảng cáo hộ. Vậy xin chuyển đến các bạn nào là fan của Ái Vân mua ủng hộ. Sau đây là thư của Ái Vân.

NVT

===

Các anh chị và các bạn thân mến,

Sau nhiều năm được khán giả yêu thương và dõi theo từng bước đường nghệ thuật, Ái Vân muốn có một món quà tinh thần như một lời cám ơn gởi đến người hâm mộ. Cuốn DVD đầu tay "Ái Vân, Hoa Hồng Ký Ức" chính là lời cảm ơn chân thành nhất, được đúc kết bởi nhiều tháng lao động miệt mài.

Đó là những ngày thức dậy từ ba giờ sáng để ghi hình, cùng đoàn phim làm việc liên tục 18-20 tiếng một ngày. Là những ca khúc mà để tạm hài lòng Vân đã không ngại vất vả để quay lại đến ba lần với ba đạo diễn cùng ba bối cảnh địa điểm khác nhau như bài Triệu Bông Hồng, được quay ở Hà Nội và Bình Dương. Hoặc như "đêm Ả Đào" và "Nhớ mùa thu Hà Nội" cũng đã phải quay lại đến hai lần. Là sự huy động đến cả trăm người (Dạ Cổ Hoài Lang, Ai Ra Xứ Huế, Hãy đến với anh, Bà Rằng bà Rí), là những buổi phơi mình suốt ngày gay gắt đen cháy da (Tình Cầm) hay ngâm mình trong làn nước lạnh dù đã nửa đêm (Dạ Cổ Hoài Lang), hay trong giá rét của tinh mơ Hà Nội để kịp đón bình minh (Nhớ mùa thu Hà Nội), là run rẩy trong đêm đông và những tưởng đến bay người do luồng gió của chiếc quạt máy cực mạnh thổi vào (Đêm Ả Đào) ...

Kể từ lúc phôi thai ý tưởng thực hiện cho đến bây giờ khi được cầm trên tay đứa con tinh thần này, thấm thoát đã trải qua 19 tháng. Vẫn biết là mặc dù vẫn còn rất nhiều điều phải nói.. "Tiếc quá! giá như mà..", nhưng do điều kiện xa xôi cách trở, phải bay đi đi về về Việt Nam khá nhiều lần, do thời gian phải kéo dài quá lâu, do sức khỏe khó cho phép tiếp tục và cả do điều kiện tài chính, nhưng thành thực mà nói: Quả tình Vân đã làm hết sức mình rồi.

Đến nay, "Hoa Hồng và Ký ức" đã ra đời.

Ái Vân xin gởi đến các anh chị bản video giới thiệu trên youtube.http://www.youtube.com/watch?v=xM1I-4F2o9s

Ái Vân cũng xin anh chị phổ biến tiếp email này trong bạn hữu. "Đứa con tinh thần" của Vân có thể đến với khán giả hay không là nhờ vào sự tiếp sức của các anh chị. Vân xin cảm ơn và gởi tới các bạn, các anh chị những lời chúc tốt đẹp nhất.

Thân ái,
Ái Vân

===
Ở Việt Nam Video này được cty Thăng Long phát hành.
Công ty Thăng Long
58 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội. ĐT 04-6266-2649.
Cửa hàng :71 Giang Văn Minh, Hà Nội. ĐT 04 3722 5166.

Ở nước ngoài:
Giá một DVD bao gồm cước phí: Trong Hoa Kỳ: 25 USD.
Âu Châu : 25 EUCác nước khác 30 USD.

Xin gởi money order về: Ai Van Nguyen - 10105 STERN AVE, CUPERTINO, CA 95014 , USA.

Xin anh chị gởi email về cho Vân ở địa chỉ : vananhvu2003@yahoo.com

Một vài bài trên báo: mạng:
http://vietnamnet.vn/vanhoa/2009/03/833706/
http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=154450&ChannelID=7
http://www.vnexpress.net/GL/Van-hoa/2009/03/3BA0C8A8/
http://www.nld.com.vn/20090307125020560P0C1020/ai-van-chot-ngoai-ve-ky-uc.htm
Read more ...

Lí do ghét Việt Nam

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2009
Ấy, đây là tựa đề của một bài viết “Reasons to hate Vietnam”, chứ không phải của tôi nhé. Tôi thì chắc chắn là không ghét quê tôi rồi. Cho dù quê tôi có nghèo nàn hay lạc hậu hay gì gì đi nữa, thì tôi vẫn yêu cái quê ấy.

Đây là bản dịch từ một
bài viết tiếng Anh của một du khách Mĩ. Người du khách này tỏ ra rất ghét Việt Nam (ghét thật, chứ không phải rhetoric). Dù biết rằng với một con người hẹp hòi và hằn học như thế thì cũng chẳng đáng quan tâm, nhưng những ý kiến của anh ta cũng có cơ sở và người Việt Nam cũng cần bình tĩnh nhìn lại mình.

Bài này được lấy từ trang tintuc.com.vn, và trang này thì lấy từ blog của
Phương Linh EL.

NVT

===

Những lý do để ... ghét Việt Nam

1. Tôi ghét sự gian dối ở Việt Nam

Tôi thật mệt mỏi bởi bị lừa lọc. Nó giống như trở thành một thói quen lừa lọc của người dân xứ này.

Tôi bị lừa khi tôi hướng dẫn cho người lái xe bus đưa chúng tôi từ sân bay tới một khách sạn cụ thể (nơi mà người ta phải giật mình bởi tòa nhà tôi muốn tới tại địa chỉ đó, lại được khẳng định là đã hết chỗ, nhưng họ sẽ đưa chúng tôi đến một nơi khác ở một cái góc loanh quanh nào đó). Tôi bị lừa khi nhận lại một chiếc ba lô thừa bị bỏ quên ở khách sạn Hà Nội, cùng với việc một nhân viên cứ cố moi ở tôi 30$ cho việc giữ đồ trong vài ngày đó. Chúng tôi bỏ đi và không chi trả gì hết.

Tôi thường bị lừa như một kẻ ngốc, thật đơn giản bởi những ngón nghề vớ vẩn tầm thường. Như là lúc tôi mua mấy tấm thiệp hay hay ở một cửa tiệm nhỏ ngoài khu dành cho du lịch. Tatiana có hỏi cách làm những tấm thiệp đó, và người phụ nữ bán hàng đã ra hiệu rằng do chị ta tự làm bằng một con dao. Hoàn toàn bịa đặt, bởi tôi thấy được hầu như cả những vạch in còn lại từ máy laser khi thiệp được sản xuất với số lượng tương đối. Có vẻ cô ta cũng làm những mã vạch đằng sau tấm thiệp khá đấy chứ?

Lừa đảo. Thật quá nhiều người lừa đảo.

2. Tôi ghét kiểu nói thách giá ở Việt Nam

Mặc dù ở nhiều nước khác cũng phổ biến, nhưng giá cả dành cho người nước ngoài thay đổi xoành xoạch thể hiện rõ nhất ở Việt Nam. Cùng một chuyến đi, khách du lịch phải trả 100 ngàn đồng, hãy hỏi một người Việt Nam ngồi cạnh thì họ trả có 80 ngàn đồng. Tôi có mặc cả khi mua hoa quả, nhưng cái giá cuối cùng tôi trả vẫn cứ cao gấp đôi so với gánh hàng bán bên cạnh, bởi người bán đã thổi phồng giá gốc lên 400%.

Hầu hết người nước ngoài được coi là mục tiêu cho họ cơ hội. Theo lời ông Nguyễn Hữu Việt, trưởng phòng bộ phận du lịch Hà Nội, bán thách giá cho du khách nước ngoài không hẳn là một kiểu lừa lọc, nhưng nó là một phần "văn hóa".

Đây là một trích dẫn về bài báo "Giá cả không hề ổn định"

"Khách du lịch người Mỹ và người Nga rất hào phóng, nhưng hào phóng nhất vẫn là khách hành từ Nhật Bản, họ hầu như không mặc cả gì hết" Thu Hương người làm việc trong một sạp lưu niệm nhỏ ở phố cổ nói. "Thậm chí với cái giá tăng gấp 10 lần, khách hàng người Nhật vẫn coi vậy là rẻ. Nhưng người Ý hay Đức họ chỉ xem và cười."

Vô tư hơn nữa với khách du lịch được coi là "gà béo", đây là một từ lóng dành cho những người mua phải cái giá 100$ cho một chiếc đồng hồ nhái Rolex của Trung Quốc trị giá chỉ 10$ hoặc 40$ cho một chuỗi hạt ngọc trai nhân tạo chỉ với giá 15$.

"Thành thật mà nói tôi không quan tâm lắm tới những tiệm lưu niệm hay là hoa quả khi họ cố lấy thêm chút tiền từ khách nước ngoài, việc mặc cả hàng hóa giống như một phần của trò chơi vậy" - Daniel Lewenstein luật sư người Mỹ thường qua lại và sống ở Việt Nam suốt 10 năm qua đã nói vậy. "Nhưng thực sự là rất phiền khi giá cả đã được ấn định, và người ta cứ cố tìm cách thay đổi nó, như lần trước tối tới sân bay Nội Bài, người lái taxi cứ cố đòi ở tôi 280 ngàn VND cho chuyến đi vào thành phố trong khi giá đề rõ trên biển là 150 ngàn đồng".

3. Tôi ghét sự ồn ào ở Việt Nam.

Có vẻ như đất nước này phát huy hay gia tăng hết sức mọi kiểu cách để hủy hoại môi trường bằng tiếng ồn. Cấp độ âm thanh đạt đến đỉnh điểm trên đường phố, nơi tôi phải bịt lỗ tai lại chỉ vì tai tôi ong ong những tiếng "eeeeeeeeeeeeing" trong suốt quãng thời gian tôi trở về khách sạn.

Hàng trăm hàng ngàn thứ âm thanh xe cộ ầm ầm như tiếng súng trên mọi con đường. Còi xe máy thì kêu liên tục, trung bình cứ 5 đến 7 giây như vậy. Họ bấm còi khi vượt qua người khác, bấm còi khi quay xe, bấm còi khi say, bấm còi khi vui vẻ, bấm còi khi người ta không kịp đi nhanh, họ bấm còi ngay cả lúc họ đi ngược chiều, họ bấm còi chỉ để khoe cái còi của họ, và họ bấm còi chỉ vì người ta cũng bấm còi. Tôi nhìn và lắng nghe khi họ giảm tiếng còi là khi họ rẽ vào đại lộ. Ở Hà Nội, lúc nào trong ngày bạn cũng nghe thấy tiếng còi xe, không cần biết là ở đâu hay ngay trong phòng khách sạn.

Ở Hà Nội loa phường được đặt khắp mọi nơi, cứ nhồi vào tai người du lịch và dân cư cho tới khi cái tai phải chảy máu. Những bản phát thanh cả giờ đồng hồ về tin tức, thời tiết và thông tin quảng cáo thật sự quá lớn, nó át cả tiếng còi xe. Thật là ồn lắm.

Điều cuối cùng bạn thực lòng muốn có ở đất nước này chính là một căn phòng khách sạn ở mặt đường, đặc biệt là khi bạn có một chiếc microphone chĩa thẳng vào tòa nhà, làm bạn tỉnh giấc vì chói tai vào 7 giờ sáng với một thứ âm thanh ồn ào bởi một thứ ngôn ngữ khó chịu (Lời người dịch: Dịch đến đây thì tớ bắt đầu tức rồi đó. Thói quen, nếp sống nhà người ta mắc mớ gì mà phải ghét, 7 giờ sáng dậy được rồi. Đến đất nước người ta mà còn ghét ngôn ngữ của người ta. Thiệt tình... chả lẽ hông biết đến câu ở bầu thì tròn, ở ống thì dài... hừ hừ!)

Giữa sự ồn ào của xe cộ, công trình xây dựng liên miên, ngôn ngữ và những quán Karaoker, tôi cảm thấy thật ghen tỵ với những người khiếm thính.

4. Tôi ghét tiếng Việt

Đoạn này em xin phép bỏ qua. Ngôn ngữ của một dân tộc không thích thì thôi, cũng không thể vì bản thân không thích mà bôi nhọ nó. Đoạn này em cảm thấy người viết bài này rất ngu ngốc và hổng biết điều. Bản thân em cảm thấy như bị xúc phạm. Có nhiều thứ tiếng cá nhân em thấy nó cũng ngộ ngộ, nhưng mà chưa bao giờ em nghĩ có một ngôn ngữ mà cần phải dùng những lời tệ hại như thế để diễn tả về nó. Bài này em dịch với mục đích tích cực, là cái gì ta thấy sai ta sửa, ta khắc phục. Chứ còn nói một câu "Tôi ghét tiếng Việt" kiểu vô lý như thế thì... kệ nó, nó hông cần phải học tiếng Việt làm gì, nó thiệt!

5. Tôi ghét giao thông ở Việt Nam và sự khốn khổ khi đi bộ

Hơn một triệu rưỡi xe mô tô ở Hà Nội và hơn bốn trăm ngàn xe ở các vùng phụ cận – là chỉ số tăng trưởng 14% hàng năm. Số lượng xe cộ đông đúc như thế như một minh chứng cho tình trạng nguy hiểm của người đi bộ.

Những lối đi cho người đi bộ bị nêm cứng bởi những người bán lẻ và các hộ gia đình ở đây khi họ cố cơi nới diện tích sử dụng ở tầng trệt với mục đích kinh doanh. Điều đó đồng nghĩa với việc người đi bộ phải đi trong lòng đường. Lúc nào họ cũng có thể cảm nhận được gió tạt ngang khi bị những chiếc xe gắn máy hoặc ô tô vượt qua.

Ở đây thực sự có rất ít lối băng qua đường dành cho người đi bộ. Kể cả khi có, nó cũng chẳng giúp giảm thiểu nguy cơ tai nạn cho người đi bộ gây ra bởi phương tiện giao thông, và ngay cả khi tín hiệu qua đường cho người đi bộ bật xanh, họ vẫn phải lưu ý những phương tiện giao thông rẽ vào hoặc từ hướng trái, hoặc từ hướng phải.

Việc băng sang đường, dù có hoặc không có kiểm tra giao thông, cũng có thể ví von như cảm giác phó thác hoàn toàn vào Đức tin của anh chàng Indiana John khi nhảy xuống vực từ miệng hang Đầu Sư Tử . Nếu ví luồng phương tiện giao thông như một dòng sông chảy xiết, thì khi đó bạn chỉ như một hòn đá chuyển động chậm chạp, luồng phương tiện giao thông sẽ tẽ ra khi bạn di chuyển.

Việc này đã gây ra mối bất an cho Tatiana, khi em lo sợ cho sự an toàn của đứa trẻ đang nằm trong bụng mỗi khi em phải liều lĩnh ra khỏi khách sạn. Đối với Tatiana, việc đi lại ở đây là một thử thách lớn. Em cảm thấy hoang mang khi phải nghĩ đến việc bị đâm bởi một xe máy chạy ẩu và những hậu quả xảy đến sau đó cho đứa con trai chưa sinh của mình.

Tôi lúc nào cũng phải giữ chặt tay em, đứng giữa em và luồng xe đang chạy đến, giống như kỹ thuật che chắn bằng hình nộm người. Tôi không thể trách cứ em, khi em lúc nào cũng có thói quen như muốn chặn phương tiện đó lại vì Tatiana có cảm giác như nó sắp đâm em, làm kiểu gì cũng sai. Chúng luôn làm ta cảm thấy hoàn toàn choáng váng. Không được dừng lại. Không được chạy. Điều đó đã thành luật. Bạn phải thoát khỏi nỗi sợ hãi như thể bạn sắp phải nhảy ra khỏi máy bay và tin rằng mọi thứ vẫn tốt đẹp.

Tôi ghét cái giá đắt đỏ để được đặt chân đến đây và về phương diện kinh tế, nó như những cái nhọt ở mông vậy.

7. Tôi ghét những tòa nhà lêu nghêu ở Việt Nam

Phải trèo không biết bao nhiêu tầng cầu thang vì người Việt Nam thích xây khách sạn mà bề ngang chỉ vừa cho một phòng đơn làm tôi đẫm mồ hôi. Tôi phải bỏ một căn phòng tiện nghi bởi nó ở tận tầng thứ 8 và người vợ mang thai gần 7 tháng Tatiana của tôi không thể nào leo qua đến tầng thứ 3 mà không tránh khỏi hụt hơi.

8. Tôi ghét kiểu người Việt Nam gây trở ngại mặt phố

Thói quen cố hữu bởi việc đậu xe máy đúng là một kiểu bị kín từng centimet vuông vào khoảng trống trước một nhà hàng tôi muốn vào. Việc thiếu hiểu biết và lịch sự đối với người khác được thể hiện một cách hiển nhiên trên đường phố theo phương thức mà họ đậu xe. Xô đẩy và luồn lách theo cách riêng của bạn vào bất kì chỗ trống nào và vậy là đủ.

Tôi nhận ra, không còn chỗ cho bất kỳ ai hay bất kỳ cái gì tại cái nơi kinh khủng với đủ sự khốn khổ về giao thông như vậy, trừ phi là những Ninja nặng 43 ký dáng như que củi mới có thể lách qua những thứ như vậy - chỉ cần nhìn cái bụng thai nghén nặng nề của Tatiana mà hiểu rằng làm sao tôi phải cản không để em đi lại nhiều ở đây.

9. Tôi ghét những con tôm hùm bị biến đổi gen ở Việt Nam

Tôi chẳng ngốc đến nỗi đi tin là mình thực sự được thưởng thức một thứ gì giống như cái loại tôm hùm chỉ có 3$ kia, nhưng chúng tôi đã từng ở vinh Tokin, và đồ biển ở đó quá phổ biến trên thực đơn. "Chính ra mình có thể tung ra con át chủ lắm", tôi nghĩ bụng.

Thực ra đây không phải tôm hùm mà là tôm tích và ăn với giá 3USD là bị... chém.

Những thứ được quẳng lên trên đĩa là một trong những loại động vật gây ác cảm nhất mà tôi từng thấy tận mắt. Vị ngọt và chua phủ đầy lên mấy thứ đồ biển kỳ dị trông cứ như lũ tôm quỷ quái ấy. Tôi chẳng dám nhìn khi Tatiana moi có chút xíu thịt dính bên trong thứ giáp xác ấy.

(Lời người dịch: Tên này đúng là kẻ quê mùa, hông thích thì đừng ăn. Đòi ăn cho được rồi lại ghét. Có ai nhét vào miệng nó ép nó ăn đâu. Nhìn tôm nhà người ta khác khác chút hắn kiu là đồ biến đổi gen. Vớ vẩn. Nhưng mà tớ cũng xin ghi chú một điều, nước ngoài họ giờ sợ chết lắm, sợ ung thư, cấy ghép phát triển cho lắm vào rùi giờ sợ đồ bị biến đổi gen. Ngoài ra có một số người đặc biệt sợ ăn tôm, vì họ thấy nó giống như con sâu biển. Phải nói vậy để các bác hiểu cái sự ghét ngớ ngẩn thế này của kẻ nhà quê ấy.)

Nguồn: http://blog.360.yahoo.com/blog-wfqEdvA8er7Y1FLmNW0-?cq=1&p=1846
Read more ...

70%-75% thực phẩm an toàn

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2009
Đọc bài này tôi nghĩ người tiêu dùng sẽ an tâm với con số thống kê “70%-75% thực phẩm an toàn”. Nhưng nếu là người khó tính, thì câu hỏi đầu tiên hiện ngay trong đầu là con số này xuất phát từ đâu. Có lẽ nó chẳng có nguồn gốc khoa học nào cả, mà chỉ là một phỏng đoán mang cá nhân của PGS TS Nguyễn Đăng Vang. Làm sao có thể thống kê hết tất cả thực phẩm trên thị trường, chưa nói gì đến chuyện xét nghiệm để định lượng an toàn hay không an toàn. Mà, nếu có phương tiện xét nghiệm đàng hoàng, tôi nghĩ 100% thực phẩm đều không an toàn, vì đều hàm chứa ít nhất là một hóa chất độc hại. Chẳng phải ở Việt Nam, ở ngoài này cũng thế.

Trong thực tế, dù chúng ta không biết bao nhiêu phần trăm thực phẩm là an toàn, nhưng thực phẩm không an toàn ở Việt Nam thì hầu như xuất hiện mọi nơi. Thử đi trên đường từ TPHCM về miền Tây thì sẽ thấy bánh mì thịt bày bán trong khói bụi xe, hay thử ngồi xuống một hàng quán vỉa hè thì sẽ thấy ngay cách người ta “recycle” nước rửa chén ra sao. Hay sâu xa hơn một chút là nguồn cá và rau bắt từ đồng ruộng mà nước bị nhiễm thuốc trừ sâu trầm trọng. Với một nguồn nước như thế mà cho rằng 70-75% thực phẩm an toàn thì tôi nghĩ ông giáo sư này quả là can đảm. Nhưng tôi nghĩ ở cương vị một quan chức an toàn thực phẩm thì ông chẳng còn cách nói nào khác hơn là cách nói ông vừa tuyên bố: 70-75% thực phẩm an toàn. Chẳng lẽ nói 75% thực phẩm không an toàn thì còn ai dám ăn cái gì nữa.

Đến đoạn cuối, người ta làm một so sánh buồn cười: “Tổng kinh phí đầu tư cho ATVSTP cho giai đoạn năm năm vừa qua là 329 tỷ đồng, đạt 780 đồng/người/năm, chỉ bằng tiền mua một điếu thuốc lá.” Nói theo tiếng Anh, so sánh này là “nonsense” (vô duyên). Nó thể hiện một sự thiếu suy nghĩ trong việc so sánh giữa hai hiện tượng vốn có bản chất rất khác nhau.

NVT
Read more ...

Qui chế đào tạo tiến sĩ (phần 1)

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2009
Hôm nay đọc trên trang web của Bộ Giáo dục và Đào tạo mới biết Bộ vừa ban hành một bản dự thảo dài về “Qui chế đào tạo trình độ tiến sĩ”. Đọc qua bản dự thảo này, tôi thấy có nhiều điều cần phải bàn cho kĩ trước khi đưa vào áp dụng rộng rãi. Thật ra, ngay cả cái tên của qui chế là thấy không ổn về mặt ngôn ngữ rồi ! Tại sao không là “Đào tạo tiền sĩ” mà phải là “Đào tạo trình độ tiến sĩ”? Trình độ mà đào tạo ư?

Bỏ qua chuyện nhỏ đó, cảm tưởng mà tôi có khi đọc xong bản dự thảo này là hình như các quan chức trong Bộ GDĐT tham gia soạn thảo qui chế không tham khảo các bài góp ý của rất nhiều người trong cuộc từ cả chục năm qua, mà họ chỉ làm theo ý của họ. Đáng lẽ trước khi ban hành dự thảo, Bộ GDĐT nên tổ chức một cuộc tham vấn chính thức từ các giáo sư và trường đại học, để họ có cơ hội đóng góp. Đằng này, Bộ GDĐT làm ngược lại: họ thảo ra qui chế rồi kêu gọi đóng góp!

Tôi sẽ lần lược thảo luận và góp ý cho dự thảo này. Bây giờ chúng ta thử xem qua một qui định quan trọng: ai có quyền đào tạo tiến sĩ? Điều 4 của dự thảo viết:

"Đại học, học viện, trường đại học (sau đây gọi chung là trường), viện nghiên cứu khoa học (sau đây gọi chung là viện) được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ khi đảm bảo các điều kiện sau:
a) Có ít nhất 10 cán bộ khoa học cơ hữu của cơ sở có trình độ tiến sĩ trở lên, trong đó có một giáo sư hoặc hai phó giáo sư hoặc hai tiến sĩ khoa học.
b) Có tạp chí khoa học ngành hoặc chuyên ngành có phản biện độc lập đối với các bài báo trước khi được đăng;
c) Có đủ điều kiện để đăng ký ít nhất một chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sĩ theo quy định tại khoản 2 Điều này."


Tôi nghĩ ở Việt Nam có một sự nhập nhằng về vai trò của viện nghiên cứu và trường đại học. Không giống như ở các nước tiên tiến, ở Việt Nam, viện nghiên cứu vẫn có quyền cấp bằng tiến sĩ! Ở nước ngoài, chương trình đào tạo tiến sĩ có thể do viện nghiên cứu đảm nhận (và nghiên cứu sinh phải tiêu ra toàn thời gian nghiên cứu tại viện), nhưng viện phải là một cơ sở có liên kết với một trường đại học, và chỉ có đại học mới có quyền cấp bằng tiến sĩ. Chẳng hạn như ở Úc, Viện nghiên cứu y khoa Garvan của chúng tôi nhận nghiên cứu sinh và đào tạo từ A đến Z, nhưng đến khi cấp bằng tiến sĩ thì do trường UNSW cấp, vì Viện là đơn vị đào tạo của UNSW. Chẳng riêng gì ở Úc, đại đa số ở các nước phương Tây cũng làm theo hình thức này.

Ở Việt Nam, có ý kiến cho rằng một số viện nhận nghiên cứu sinh, nhưng chất lượng và tiêu chuẩn đào tạo chưa cao. Một số nghiên cứu sinh không được nhận vào làm nghiên cứu sinh ở đại học tìm cách ghi danh ở viện, và do đó vô hình chung, có hai “giai cấp” tiến sĩ. Tôi đề nghị Việt Nam nên làm theo mô hình nước ngoài. Theo đó, một viện nghiên cứu phải gắn liền với một đại học, và chỉ có quyền đào tạo nghiên cứu sinh, chứ không có quyền cấp bằng tiến sĩ.

Những qui định như phải có tạp chí khoa học chuyên ngành thì thừa và quả là khôi hài. Đã là viện nghiên cứu thì phải có tạp chí khoa học chuyên ngành chứ. Cũng có thể qui định này viết không rõ, và có ý cho rằng viện phải có tạp chí khoa học riêng và có phản biện. Nếu thế thì thiếu thực tế, vì một viện nghiên cứu như ở Việt Nam làm sao có thể cho ra đời một tạp chí khoa học nghiêm chỉnh được!? Mayo Clinic ở bên Mĩ với hơn 18 ngàn chuyên gia, với hệ thống bệnh viện hiện đại, trường y, mà cũng chỉ có 1 tạp chí y khoa dù tạp chí đó chẳng có ai đánh giá cao. Theo tôi thấy ở Việt Nam, chưa có viện nào có khả năng lập một tạp chí khoa học có phản biện độc lập được. Nên bỏ điều này!

Qui định về “Có ít nhất 10 cán bộ khoa học cơ hữu của cơ sở có trình độ tiến sĩ trở lên, trong đó có một giáo sư hoặc hai phó giáo sư hoặc hai tiến sĩ khoa học” thì tôi thấy khó hiểu, vì phía dưới qui định lại viết:

"b) Có đội ngũ giảng viên, cán bộ khoa học cơ hữu của cơ sở đào tạo đáp ứng yêu cầu đào tạo, cụ thể:
- Có ít nhất một phó giáo sư và 4 tiến sĩ cùng ngành, trong đó ít nhất có ba người cùng chuyên ngành đăng ký;"

Thế là thế nào ? Trên kia thì bảo phải có 1 giáo sư hoặc 2 phó giáo sư, còn phía dưới thì lại đòi hỏi "có ít nhất một phó giáo sư". Hay là tôi hiểu lầm đâu đây ? Thật ra, đào tạo tiến sĩ là do một giáo sư hay tiến sĩ hướng dẫn trong một trung tâm có đầy đủ cơ sở vật chất và điều kiện cho nghiên cứu. Con số giáo sư hay cán bộ cơ hữu không quan trọng.

Bản dự thảo đề ra qui định:

"- Trong 5 năm trở lại đây, mỗi năm có ít nhất 5 công trình nghiên cứu của các giảng viên, cán bộ khoa học cơ hữu của bộ môn hoặc khoa, phòng chuyên môn đào tạo nghiên cứu sinh (sau đây gọi chung là đơn vị chuyên môn) công bố trên các tạp chí khoa học có phản biện độc lập, có uy tín ở trong nước hoặc nước ngoài;
- Có khả năng xây dựng chương trình và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, hướng dẫn nghiên cứu sinh thực hiện luận án tiến sĩ và tổ chức hội đồng đánh giá luận án."

Ở đây tôi thấy hơi mù mờ. Một trung tâm / viện nghiên cứu với 1 giáo sư, 2 phó giáo sư, 10 tiến sĩ mà trong vòng 5 năm chỉ công bố được 5 công trình khoa học thì nên đóng cửa, chứ nói gì đến đào tạo. Mù mờ ở đây là nếu viện có 2 phó giáo sư, một người công bố được 10 bài báo trong vòng 5 năm, còn người kia không có bài nào; vậy theo qui định này thì người không có bài nào vẫn có quyền hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ! Cần phải viết lại cho rõ ràng qui định này, chứ không thì chắc chắn sẽ có người "lách" qui định một cách dễ dàng.

Còn qui định

"c) Có cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị, thư viện, phòng thí nghiệm bảo đảm đáp ứng yêu cầu đào tạo; có chỗ làm việc dành riêng cho nghiên cứu sinh;"

thì ok. Bắt buộc phải có cơ sở vật chất, chứ nếu không thì nghiên cứu sinh vào đó học chay hay sao?

Nhưng qui định

"d) Có kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học; đã thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp nhà nước, cấp Bộ, ngành, cấp tỉnh, thành phố; có kinh nghiệm trong đào tạo, bồi dưỡng những người làm công tác nghiên cứu khoa học; thường xuyên tổ chức hội thảo, hội nghị khoa học chuyên ngành trong mỗi năm học; thường xuyên có những trao đổi hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, đào tạo;"

thì thiếu tính cụ thể. Thế nào là "có kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học"? Thực hiện mấy đề tài cấp bộ hay cấp nhà nước gì đó không thể xem là có kinh nghiệm được (có thể có kinh nghiệm làm nghiên cứu sai). Chúng ta biết rằng có rất nhiều đề tài cấp bộ, cấp nhà nước chỉ được "nghiệm thu" và đâu và đấy chứ có thấy công bố gì đâu. Tôi đoán những người soạn thảo qui chế này muốn cho các "cây đa cây đề" một cơ hội để họ vẫn tiếp tục dành quyền làm hướng dẫn nghiên cứu sinh. Qui định này có lẽ cho họ một lối thoát, vì nếu dựa vào chuẩn mực quốc tế thì họ chắc chắn không có quyền hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ.

Đã đến lúc bỏ qui định này. Bỏ hẳn. Nghiên cứu không nên phân biệt cấp bộ hay cấp nhà nước hay cấp địa phương. Tuyệt đối không nên. Đã làm nghiên cứu khoa học thì người làm ở nhà bếp mà có ý tưởng hay vẫn có ảnh hưởng khắp thế giới.

(Còn tiếp …)

NVT
Read more ...

Vụ kiện chất độc da cam

Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2009
Một số bạn gửi thư hỏi tôi sao không bình luận về quyết định của Tòa án tối cao Mĩ bác bỏ đơn kiện các công ti hóa chất của Hội nạn nhân chất độc da cam (Agent Orange hay AO). Thật ra, tôi vẫn theo dõi vụ kiện, và cũng biết quyết định vừa qua của Tòa án Mĩ, nhưng vì bận quá nên chưa có bình luận, chứ không phải không còn quan tâm đến vấn đề. Tôi đã bỏ ra khá nhiều năm để theo dõi và thậm chí viết thành sách “câu chuyện” chất độc da cam thì làm sao bỏ cuộc được. Khi nào tôi đọc hết bản phán quyết của Tòa án tôi sẽ phát biểu.

Theo tôi, quyết định vừa rồi của Tòa án Mĩ tuy có phần thất vọng, nhưng không ngạc nhiên. Tại sao không ngạc nhiên thì tôi đã phân tích trong nhiều bài trước đây trên Tuổi Trẻ và Người lao động.

Theo thông tin từ báo chí thì lí do tòa án bác đơn của phía Việt Nam là tòa án không thể thụ lí hồ sơ vì AO được sử dụng để bảo vệ lính Mĩ chống lại những phục kích của kẻ thù (tức lính Việt Nam), chứ không phải là vũ khí để chống lại dân. (The appeals court said that lawsuit brought by the Vietnamese plaintiffs could not go forward because Agent Orange was used to protect U.S. troops against ambush and not as a weapon of war against human populations).

Không chỉ riêng vụ kiện này mà tòa án bác bỏ, ngay cả vụ kiện do Hội cựu chiến binh Mĩ kiện các công ti hóa chất vào năm 2006 cũng bị tòa án bác bỏ. Nhưng lí do bác bỏ cho vụ kiện đó là cựu chiến binh hay thân nhân của họ không thể kiện các công ti hóa chất vì các công ti này là những công ti hợp đồng của chính phủ Mĩ, và họ được được sự bảo hộ của luật pháp nếu sản phẩm của họ có “vấn đề”.

Trước đây (2006), khi chánh án J. Weinstein bác đơn kiện của phía Việt Nam, ông viện dẫn một lí do rằng ý định của chiến dịch sử dụng hóa chất ở Việt Nam và kết luận rằng hóa chất không dùng để gây tổn thương, đau đớn cho con người, mà chỉ nhằm mục tiêu diệt cây cỏ. Ông cho rằng những tổn hại trên dân chúng là hệ quả phụ, là những tác hại phụ. Do đó, các khía cạnh luật pháp quốc tế (như tra tấn, giết người phi pháp, diệt chủng) không thể áp dụng trong trường hợp này, bởi vì việc sử dụng hóa chất không cốt ý hại người! (Ở đây, hình như ông Weinstein lẫn lộn giữa bị đơn (các công ti hóa chất) với người sử dụng hóa chất (lính Mĩ). Người lính có thể không biết sự độc hại của hóa chất và không cố ý đồ giết người hay gây tổn thương cho dân chúng bằng hóa chất. Nhưng các công ti biết rõ sản phẩm của họ có nồng độ dioxin cao và biết rõ rằng sản phẩm của họ sẽ dùng để hủy diệt môi trường. Đây là điểm cần phải xem xét để kháng kiện. Các công ti sản xuất thuốc lá và asbestos cũng có thể nói sản phẩm của họ đâu có ý giết người (và trước kia họ cũng không biết tác hại của thuốc lá), nhưng trong thực tế chúng giết người, và các công ti sản xuất đã bị phạt phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân)

Nói tóm lại, tòa án Mĩ không muốn thụ lí những vụ kiện liên quan đến AO và các công ti làm hợp đồng cho guồng máy quân sự của Mĩ. Họ viện dẫn hết lí do này đến lí do khác để bác đơn.

Tôi nghĩ bây giờ là lúc chúng ta nên nghĩ về tương lai. Nên làm gì? Tôi nghĩ Quốc hội Mĩ có thể tài trợ cho các tổ chức (như Vietnam Agent Orange Remediation) để nghiên cứu về AO ở Việt Nam và tìm hiểu về qui mô nhiễm ở những vụng từng chịu ảnh hưởng. Chúng ta không nên nói đến chuyện “bồi thường” hay “nạn nhân”, bởi vì thời gian phơi nhiễm quá lâu và qua hai thế hệ thì rất khó nói đến “nạn nhân”. Tôi nghĩ có thể làm những việc thực tế như:

Thứ nhất, bồi thường cho những nạn nhân bị nhiễm độc chất và bị những bệnh được công nhận là do độc chất da cam hay dioxin gây ra. Nên nhớ rằng năm 1984, các công ti hóa học [có liên quan đến việc sản xuất và cung cấp độc chất da cam cho quân đội Mĩ] đồng ý bồi thường cho các cựu quân nhân Mĩ một số tiền khoảng 180 triệu Mĩ kim). Hình thức bồi thường có thể bao gồm việc điều trị những bệnh được công nhận là do phơi nhiễm độc chất gây ra (như ung thư, dị tật bẩm sinh, tiểu đường, bệnh da, v.v.), tạo công ăn việc làm cho những cư dân trong các vùng bị nhiễm (như lập ra những trường hay trung tâm dạy nghề theo mô hình của trung tâm do ông Trần Duyên Hải điều hành ở Hà Nội), lập bệnh xá và trường học để nâng cao đời sống vật chất và trình độ văn hóa cho nạn nhân và cư dân tại những nơi bị nhiễm độc chất.

Thứ hai, quĩ nên bỏ ra một số ngân khoản để làm sạch môi trường tại những nơi bị nhiễm nặng như Biên Hòa, A Lưới, A Sao, v.v. Hiện nay, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy tại các địa điểm này, nồng độ dioxin rất cao, có khi cao hơn 130 lần nồng độ an toàn cho phép, vì chất độc đã lắng đọng xuống lòng đất, nhất là các nơi bùn lầy. Do đó, nhu cầu làm sạch môi trường tại những nơi này phải được xem là một ưu tiên hàng đầu.

Thứ ba, quĩ tài trợ nên hỗ trợ và giúp đỡ thành lập một viện nghiên cứu quốc tế về chất độc da cam và dioxin. Viện sẽ qui tụ nhiều chuyên gia trên thế giới về hóa học, y học, môi trường học và dịch tễ học để tiến hành những nghiên cứu cơ bản cũng như nghiên cứu lâm sàng xác định cơ chế tác hại của dioxin và chất độc da cam trên con người và môi trường. Viện cũng có thể phục vụ như là một trung tâm đào tạo các nhà khoa học tương lai chuyên về môi trường học và y tế - môi trường học. Đây là một việc làm mang ý nghĩa quốc tế vì nó sẽ cung cấp thông tin khoa học quí báu vào kho tàng tri thức của con người về tác hại của dioxin.

Tôi nghĩ những việc làm thực tế như thế có thể đem lại lợi ích cho nhiều người hơn là theo đuổi những vụ kiện mà kết quả có lẽ khó đoán trước (hay đoán được với cái nhìn không khả quan).

NVT

PS. Có người hỏi sao tôi không trả lời mấy người gì đó gửi thư ngỏ về vụ này, tôi chỉ nói đơn giản là tôi không hề bận tâm hay quan tâm đến những gì họ viết (dù chỉ 1 chữ), vì tôi biết họ chẳng có lí lẽ gì để nói ngoài những lải nhải ngụy khoa học.

==

http://news.yahoo.com/s/ap/20090302/ap_on_go_su_co/scotus_agent_orange

Court turns down Agent Orange cases

WASHINGTON – The Supreme Court has turned down American and Vietnamese victims of Agent Orange who wanted to pursue lawsuits against companies that made the toxic chemical defoliant used in the Vietnam War.

The justices offer no comment on their action Monday, rejecting appeals in three separate cases, in favor of Dow Chemical, Monsanto and other companies that made Agent Orange and other herbicides used by the military in Vietnam.

Agent Orange has been linked to cancer, diabetes and birth defects among Vietnamese soldiers and civilians and American veterans.

The American plaintiffs blame their cancer on exposure to Agent Orange during the military service in Vietnam. The Vietnamese said the U.S.' sustained program to prevent the enemy from using vegetation for cover and sustenance caused miscarriages, birth defects, breast cancer, ovarian tumors, lung cancer, Hodgkin's disease and prostate tumors.

All three cases had been dismissed by the 2nd U.S. Circuit Court of Appeals in New York.
The appeals court said that lawsuit brought by the Vietnamese plaintiffs could not go forward because Agent Orange was used to protect U.S. troops against ambush and not as a weapon of war against human populations.

The other two suits were filed by U.S. veterans who got sick too late to claim a piece of the $180 million settlement with makers of the chemical in 1984. In 2006, the Supreme Court deadlocked 4-4 on whether those lawsuits could proceed.

The appeals court ultimately said no to both. In one case, the court said companies are shielded from lawsuits brought by U.S. military veterans or their relatives because the law protects government contractors in certain circumstances who provide defective products.

In the third suit, the appeals court ruled that the companies could transfer claims from state to federal courts.

The cases are Isaacson v. Dow Chemical Co., 08-460, Stephenson v. Dow Chemical Co., 08-461, and Vietnam Association for Victims of Agent Orange v. Dow Chemical Co., 08-470.
Read more ...

Bệnh Viết Tắt (BVT)

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2009
Sáng nay nhận được email với đầy những viết tắt. Nào là BV, là TPHCM, là PNT, v.v… Thật bực mình. Hôm nay đọc trên mạng thấy có entry này của Joe viết về “Bệnh viết tắt”. Đồng ý 100% với Joe. Phóng viên thường mang bệnh này. Các nhà khoa học, nhất là trong ngành y khoa, lại mắc bệnh viết tắt nặng hơn. Nói người lại nghĩ đến ta: chính tôi cũng thỉnh thoảng mắc bệnh này. Nhưng tôi tự chữa cũng nhiều lần và bệnh xem bộ khá hơn. Có nhiều tập san y học bắt buộc tác giả phải viết nguyên chữ chứ không cho viết tắt. Viết tắt đối với người viết là dễ hiểu và nhanh, nhưng với người đọc (thường ngoài ngành) là một cực hình. Trong bài, Joe có nhận xét này thật là chính xác, và tôi copy lại làm câu kết: “Các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã nghiên cứu vấn đề này rất rõ -- đầu óc của một người bình thường sẽ mất nhiều thời gian hơn để hình dung một ý cụ thể nghĩa từ hai chữ "NB" so với “nhà báo” viết hẳn ra, mặc dù người ấy biết “NB” là viết tắt của “nhà báo”.”

Trong entry này, Joe viết Sydney Herald, nhưng thật ra là Sydney Morning Herald. Cám ơn Joe!

NVT
===
Dù ít viết blog nhưng có cảm hứng vẫn sẽ viết. Và hôm nay mình đã có cảm hứng thật.

"Thời gian gần đây, các nhà báo (NB) xuất hiện ở vị trí giám khảo các cuộc thi văn hóa - nghệ thuật ngày càng nhiều."

Câu này lấy nguyên từ một bài báo online đã làm cho mình bức xúc. Không phải vì chuyện nhà báo xuất hiện ở vị trí giám khảo, chuyện đó nghe có vẻ cũng hợp lý. Bức xúc vì tác giả viết tắt "nhà báo" thành NB.

Mình thấy các tờ báo Việt Nam, online, offline, inline, outline, bị “bệnh viết tắt" nặng quá, đặc biệt là những từ thực sự không cần thiết phải viết tắt.

“Doanh nghiệp” lúc nào cũng thành "DN", “ban tổ chức” thành "BTC", kể cả mình đã từng đọc một bài mà “giáo viên” thành "GV", “mầm non” thành "MN" và “cơ sở giáo dục” thành "cơ sở GD" -- mà đó là bài về sự phức tạp không cần thiết trong ngành giáo dục. (Nếu có thời gian mình sẽ đi tìm nhiều ví dụ buồn cười hơn nữa). Công nhận việc viết tắt đôi khi có lý, có ích nhưng nếu câu nào cũng nhét một "HLV ĐTVN" vào nhìn ngứa hết cả mắt.

Ở đây có hai chuyện. Một là quan điểm thẩm mỹ. Nếu viết tắt quá nhiều thì "hình dáng câu viết" sẽ bị ảnh hưởng, nhìn sẽ lộn xộn, bát nháo, thậm chí hơi lòe loẹt. Ví dụ:

Có năm doanh nghiệp sẽ kiện ban tổ chức của cuộc thi, theo các nhà báo nói.

Có 5 DN sẽ kiện BTC của cuộc thi (CT), theo các NB nói.

Cầu đầu tiên mặc dù dài hơn chút nhưng nhìn "biển lặng" hơn nhiều, bằng phẳng và hợp lý. Còn câu thứ hai mặc dù đã tiết kiệm vài mi-li-mét nhưng nhìn ngứa mắt lắm, như các ngõ ngách người ta xây nhà tầng hai lồi ra một cách quá đáng, che hết cả mặt trời.

Chuyện thứ hai là khoa học. Các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã nghiên cứu vấn đề này rất rõ -- đầu óc của một người bình thường sẽ mất nhiều thời gian hơn để hình dung một ý cụ thể nghĩa từ hai chữ "NB" so với “nhà báo” viết hẳn ra, mặc dù người ấy biết “NB” là viết tắt của “nhà báo”. Có nghĩa là “nhà báo”, mặc dù dài hơn nhưng vào đầu óc nhanh hơn. NXB, BTC, HLV cũng thế thôi -- viết tắt không tiết kiệm thời gian cho người đọc đâu mà lại mất nhiều thời gian của họ hơn ! (Đúng là viết tắt sẽ tiết kiệm chút không gian trên mặt báo nhưng lo chuyện đó rẻ tiền lắm, với lại báo online có dùng mực đâu mà lo). Nếu muốn kiềm tra vụ này chỉ cần chuẩn bị một tờ giấy A4 viết chữ "NXB", một tờ khác viết hẳn "Nhà xuất bản", một đồng hồ chất lượng và một người bạn nhiệt tình; ai mà hiểu khoa học sẽ biết làm gì theo.

Ngoài lý do tiết kiệm thời gian cho người đọc (sai) có năm lý do thú vị vì sao bệnh viết tắt này lan truyền:

Lười – Gõ 3 key “SHIFT”, “D” và “N” chỉ mất 3 sự bấm. Còn gõ cả “doanh nghiệp” sẽ mất 14 sự bấm (gồm cả dấu tiếng Việt) có lẽ vất vả hơn chút. Vấn đề là người viết phải phục vụ cho người đọc. Một nhiệm vụ của người viết là bỏ thời gian của mình để người đọc không cần phải bỏ thời gian của họ. Tóm lại đừng lười.

Tinh vi - Muốn xem mức độ tinh vi của một công ty đến đâu ư? Chỉ cần xem một báo cáo tiêu biểu của công ty đó viết tắt bao nhiêu từ. Nhà báo cũng thế, có nhiều người viết tắt lên viết tắt xuống chỉ để… thể hiện. Ý là: "Chỉ có thằng mới vào nghề không biết các chữ ấy viết tắt của cái gì, còn tao, tao đã quá biết rồi (TĐQBR).

Sợ ngu - Có người chọn cách viết tắt để tỏ ra ám hiểu, còn cũng có nhiều người hơn chọn cách viết tắt để không tỏ ra ngu ngốc. Cũng có nhiều người nhiệt tình tìm cách kết hợp cả hai.

Theo lối mòn - Đây có khi là lý do phổ biến nhất. “Người khác làm như vậy tôi cũng sẽ làm như thế thôi, la la la…” Hơi thiếu chủ động nhưng tâm lý đám đông ở đâu cũng mạnh.

Sếp yêu cầu - Thế thì phải chịu thôi (TTPCT)

Bây giờ các tờ báo tiếng Anh chất lượng nhất như New York Times, Sydney Herald, Toronto Star…(mặc dù sắp phá sản :) đang hạn chế việc viết tắt nhiều nhất có thể, và mình nghĩ các tờ báo Việt Nam cũng nên làm thế. Chuyện này không liên quan gì đến tiếng Anh, tiếng Việt cả; hai ngôn ngữ đều có “nguy cơ lạm dụng viết tắt” như nhau. Chuyện này là sự tôn trọng độc giả – độc giả Việt Nam quá thông minh và tỉnh táo, lại còn dễ thương nữa, họ đã làm gì đâu mà bị các chữ hoa ấy suốt ngày ném vào mặt.

Nguồn: http://blog.360.yahoo.com/blog-ZMOTQG87dKNqpNerKypCkL2a
Read more ...

Ngày "căn số bậc 2"!

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2009
Đọc bản tin này trên Scientific American làm tôi ngạc nhiên là trong giới số học, người ta có ngày "Square root day" (ngày căn số bậc 2)! Tại sao 3/3/09 là ngày này? Đơn giản vì 3 bình phương bằng 3 x 3 = 9.

Phải chờ đến năm 2016 (4 tháng 4) mới có một ngày căn số bậc hai nữa. Trong quá khứ thì 9/9/81, 1/1/01 là ngày căn số bậc hai. Nghe qua có vẻ chuyện "tào lao" nhưng cũng đem lại cho đời một thông tin!

NVT
===

Square root day, 3/3/09, is upon us

Math lovers and numerologists take note: Today, March 3, 2009, is square root day.


The unofficial holiday comes around but nine times a century, when the numbers of the calendar align so that the month and day are each equal to the square root of the year as expressed in two-digit form. (In today's case, 3/3/09, 3 is the square root of 9—in other words, 32 = 3 x 3 = 9.)

Square root days arise in every year whose last two digits are a perfect square, or a number whose square root is a whole number: The last square root day was on February 2, 2004 (2/2/04), and the next occurrence will be on April 4, 2016 (4/4/16). A square root day group on Facebook, boasting more than 2,400 members, suggests celebrating the minor mathematical oddity by eating radishes or other roots—cut into spot-on squares, of course.

Because of the nature of perfect squares, the wait time between square root days increases by two years each time as the century unfolds—five years separated the previous square root day from today's, seven years will pass before the next square root day in 2016, and nine years will elapse before the following one in 2025. But after the final square root of this century, September 9, 2081 (9/9/81), there will be a slightly prolonged layover before the 22nd century starts its own run of square root days on January 1, 2101 (1/1/01).

Nguồn:
http://www.sciam.com/blog/60-second-science/post.cfm?id=square-root-day-3309-is-upon-us-2009-03-03
Read more ...

Ăn chay như là một trị liệu

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2009
Ăn chay đang trở thành một trào lưu trên thế giới, nhất là trong giới trí thức và chuyên gia. Ở các nước phương Tây, theo một thống kê chưa đầy đủ, có khoảng 5% dân số Anh và Mĩ cho biết họ ăn chay trường hay ăn chay thường xuyên. Ở nước ta, tuy chưa có số liệu chính thức, nhưng sự có mặt của các nhà hàng và quán ăn chay cùng lượng thực khách đông đảo cho thấy số người ăn chay đang tăng dần trong thời gian gần đây.

Danh từ “ăn chay” đối với người Việt chúng ta là chế độ ăn uống không có đạm động vật, nhưng với người phương Tây, có đến 3 nhóm ăn chay. Nhóm thứ nhất là ovo-lacto gồm rau, đậu, hạt, trứng và bơ sũa. Nhóm thứ hai là lacto cũng có chế độ ăn uống như nhóm ovo-lacto, nhưng không ăn trứng. Nhóm thứ ba là vegan, hoàn toàn không ăn đạm động vật, có lẽ là nhóm gần như “ăn chay” theo cách của người Việt hay các tu sĩ Phật giáo đại thừa.

Thời gian gần đây, qua báo chí phương Tây, một số người bày tỏ quan tâm đến sức khỏe của người ăn chay, vì họ cho rằng ăn chay có thể bất lợi cho sức khỏe của xương. Tuy nhiên, bằng chứng khoa học cho thấy ăn chay không có ảnh hưởng tiêu cực đến xương; ngược lại, ăn nhiều chất đạm động vật có thể là yếu tố nguy cơ của loãng xương và gãy xương.

Sức khỏe của xương có lẽ phản ảnh chính xác nhất qua mật độ chất khoáng trong xương (viết tắt là MĐX) và tần số gãy xương trong một quần thể. Nhiều nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học trên thế giới cho thấy MĐX ở người ăn chay tương đương với MĐX ở người ăn mặn. Một nghiên cứu do các bác sĩ thuộc trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh năm ngoái cũng cho thấy không có sự khác biệt nào về MĐX giữa người ăn chay và ăn mặn.

Gãy cổ xương đùi là một hệ quả nguy hiểm nhất của loãng xương, vì bệnh nhân gặp nhiều biến chứng, thậm chí sau khi bị gãy xương. Khoảng 15-20% bệnh nhân, nhất là bệnh nhân nam, tử vong sau 12 tháng gãy cổ xương đùi. Nguy cơ gãy cổ xương đùi ở người ăn chay hoặc thấp hơn so với người ăn mặn. Thật vậy, một phân tích trên 34 nước trên thế giới cho thấy những nước có lượng tiêu thụ đạm động vật nhiều cũng là những nước có tỉ lệ gãy cổ xương đùi (hệ quả nguy hiểm nhất của loãng xương) so với những nước có lượng tiêu thụ đạm thấp.

Đứng trên phương diện sinh học, ảnh hưởng tiêu cực của đạm động vật đến xương là điều có thể hiểu được. Sức khỏe của xương tùy thuộc vào sự cân bằng giữa acid và base. Tất cả các thức ăn phải được chuyển hóa qua thận dưới dạng acid hoặc base. Khi ăn nhiều chất đạm động vật, cơ thể hấp thu nhiều acid hơn base. Tăng hàm lượng acid cũng có nghĩa là máu và các mô trong cơ thể trở nên “chua” hơn, và để dung hòa tình trạng này, hệ thống nội tiết phải huy động calcium để đóng vai trò chất base. Vì phần lớn calcium xuất phát từ xương, cho nên khi cơ thể huy động calcium cũng có nghĩa là giảm chất khoáng trong xương, dẫn đến hệ quả giảm sức mạnh của xương, và làm cho xương dễ bị gãy.

Rất nhiều nghiên cứu khoa học trong 20 năm qua đều cho thấy ăn chay có lợi cho sức khỏe, vì giảm nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến “hiện đại hóa” như tim mạch, tai biến mạch máu não, đái tháo đường, và ung thư. Chế độ ăn chay, do sử dụng nhiều rau quả, thường hàm chứa ít chất béo và cholesterol hơn chế độ ăn mặn. Chất béo và cholesterol là hai yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, đái tháo đường và ung thư. Do đó, có nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy người ăn chay ít mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường và ung thư hơn những người ăn mặn. Trong một nghiên cứu trên 47.000 người Mĩ, nhóm ăn chay có nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp hơn nhóm ăn mặn khoảng 20%. Ăn chay và ăn nhiều rau quả còn giảm nguy cơ tai biến mạch máu não đến 22%. Ngoài ra, ăn chay còn giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú, ruột, và phổi so với chế độ ăn mặn.

Một nghiên cứu khác trên 26.000 người Mĩ cho thấy người ăn chay có tỉ lệ mắc bệnh đái tháo đường thấp hơn người ăn mặn khoảng 25%. Vì chế độ ăn chay có chỉ số glycemic thấp, nên ăn chay còn được xem là một liệu pháp điều trị bệnh đái tháo đường. Trong một nghiên cứu lâm sàng trên 652 bệnh nhân đái tháo đường, các bác sĩ cho bệnh nhân ăn uống có rất thấp hàm lượng chất béo (dưới 10% năng lượng, tức như ăn chay), và họ ghi nhận rằng ở những bệnh nhân được điều trị bằng insulin, 40% không cần đến insulin nữa; trong số bệnh nhân điều trị do chỉ số glycemic thấp, 71% không cần tiếp tục điều trị. Trong cùng thời gian, nồng độ đường trong máu giảm 24%, cholesterol giảm 30%. Ảnh hưởng của chế độ ăn chay đến các chỉ số lâm sàng liên quan đến bệnh đái tháo đường tương đương với ảnh hưởng của các thuốc thông dụng trên thị trường. Vì ăn chay chẳng tốn kém gì nhiều, nên hiệu quả kinh tế của ăn chay có phần cao hơn so với một số thuốc điều trị bệnh đái tháo đường.

Trong một nghiên cứu quan trọng về ảnh hưởng của ăn chay đến bệnh viêm thấp khớp, các nhà nghiên cứu Na Uy chia bệnh nhân thành 2 nhóm: nhóm ăn chay và nhóm ăn mặn. Sau 12 tháng theo dõi, bệnh trạng nhóm ăn chay giảm rõ rệt, trong khi nhóm ăn mặn không có thay đổi đáng kể. Dù cơ chế ảnh hưởng của ăn chay đến bệnh viêm thấp khớp chưa được hiểu rõ, nhưng có thể lí giải rằng vì chế độ ăn chay hạn chế năng lượng, đạm và một số chất khoáng có chức năng ức chế hệ thống miễn dịch, và ức chế hệ thống miễn dịch là một phương án điều trị các bệnh tự miễn, nên ăn chay có thể đem lại lợi ích cho bệnh nhân viêm thấp khớp.

Nói tóm lại, bằng chứng khoa học cho thấy ăn chay có lợi cho sức khỏe. Thật ra, người ăn chay tính trung bình có tuổi thọ cao hơn người ăn mặn. Các nghiên cứu mới nhất gợi ý rằng ăn chay còn có thể là một phương án thực tế để điều trị bệnh đái tháo đường và viêm khớp xương.

Trong vài năm gần đây, tỉ lệ béo phì trong dân số nước ta càng ngày càng tăng. Theo nghiên cứu dịch tễ học, tại Thành phố Hồ Chí Minh, cứ 3 người tuổi trên 40 thì có 1 người béo phì. Tỉ lệ này tương đương với tỉ lệ ở Mĩ và các nước Âu châu! Béo phì là một yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường và tim mạch. Một xu hướng và cũng là một nghịch lí đáng quan tâm là ở các nước Âu Mĩ, bệnh đái tháo đường thấy ở những người lao động có thu nhập thấp, thì ở nước ta bệnh này tập trung ở những người giàu có hay với thu nhập cao. Xu hướng “Tây hóa” (như ăn uống với nhiều chất đạm động vật) có thể là một yếu tố đóng góp vào tình trạng đáng ngại này. Đã đến lúc chúng ta quay về với chế độ ăn uống truyền thống (với gạo, rau quả) hơn là nhiều chất đạm động vật.


NVT
Read more ...

Mười tiêu chí để truyền đạt thông tin y tế tốt hơn

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2009
Năm 2003, bệnh SARS gây tác hại cho khoảng 10 người ở Mĩ, nhưng giới truyền thông Mĩ “sản xuất” hơn 100.000 bản tin tức về SARS. Vẫn ở Mĩ, mỗi năm có hơn 100.000 người chết vì thuốc lá, nhưng giới truyền thông Mĩ chỉ “sản sinh” được khoảng 4.000 bản tin liên quan đến tác hại của thuốc lá. Ở Việt Nam, tuy chưa có những nghiên cứu tương tự, nhưng qua theo dõi những tin tức liên quan đến SARS và H5N1 trong vài năm qua trên các tờ báo và đài truyền hình có website, tôi ghi nhận hơn 5.000 bản tin tức, trong khi đó hai bệnh này gây tử vong chưa đầy 50 người. Ở nước ta, mỗi năm có hàng vạn người chết vì các bệnh hô hấp, bệnh nhiễm, và hút thuốc lá, nhưng số lượng bản tin liên quan đến các bệnh này rất khiêm tốn (không đầy 500). Như vậy, cho dù dựa vào những con số chưa đầy đủ trên đây, xu hướng cung cấp tin tức của giới truyền thông nước ta đang chạy theo xu hướng của Mĩ nhưng với qui mô nhỏ hơn.

Một xu hướng đáng chú ý khác là giới truyền thông thường cung cấp những thông tin không đầy đủ và không đặt vào bối cảnh để người nhận thông tin có thể so sánh. Chẳng hạn như trong một bài báo gần đây trên một tạp chí của Bộ Y tế, một tác giả cho biết mỗi năm có 500.000 ngàn phụ nữ trên thế giới mắc bệnh ung thư cổ tử cung (nhưng người viết không cung cấp nguồn thông tin). Hay như một tổ chức ung thư ở Mĩ tuyên bố rằng mỗi năm có 27.000 đàn ông Mĩ chết vì bệnh ung thư tiền liệt tuyến. Cả hai thông tin mà tôi vừa đề cập sử dụng một thủ thuật quen thuộc: đó là dùng những con số lớn để thu hút sự chú ý của công chúng. Nhưng cả hai cách đưa tin không cho chúng ta biết nguy cơ hay xác suất tử vong trong một khoản thời gian, không cho chúng ta biết nguy cơ bệnh so với các nguy cơ khác trong cuộc sống hàng ngày. Viết ra điều này không có nghĩa là tôi xem nhẹ hai bệnh ung thư vừa đề cập, nhưng để nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin cho đầy đủ và khách quan. Trong bài này tôi đề nghị 10 tiêu chí để đánh giá tính tin cậy của một bản tin y tế và đặt vào bối cảnh của bản tin.

1. Mắc bệnh và nguy cơ mắc bệnh

Không phải ai hút thuốc lá cũng đều mắc bệnh ung thư phổi. Không phải ai không hút thuốc lá đều không mắc bệnh ung thư phổi. Thực tế là trong những người hút thuốc lá thì nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi cao hơn những người không hút thuốc lá. Nói cách khác, nguy cơ (risk) mắc bệnh là xác suất mắc bệnh trong một thời gian nhất định. Vì nguy cơ là xác suất nên giá trị của nó dao động từ 0 (không ai mắc bệnh) đến 1 (tất cả đều mắc bệnh). Nguy cơ mắc bệnh thường áp dụng cho một quần thể, chứ không cho một cá nhân. Đối với một cá nhân, hoặc là có bệnh, hoặc là không có bệnh.

Liên quan đến nguy cơ mắc bệnh là khái niệm yếu tố nguy cơ (risk factor). là một yếu tố -- qua các cơ chế gián tiếp hay trực tiếp -- làm tăng nguy cơ mắc bệnh của một cá nhân. Chẳng hạn như uống nước bị ô nhiễm không đun sôi là một yếu tố nguy cơ mắc bệnh dịch tả.

2. Nguyên nhân và hệ quả ?

Khi đọc một bản tin y tế về một yếu tố nguy cơ, nguyên nhân và bệnh tật (chẳng hạn như bưởi và ung thư), câu hỏi đầu tiên mà người đọc cẩn phải đặt ra là: đó có phải là một mối liên hệ nhân quả, hay chỉ đơn thuần là một mối tương quan thống kê. Mối liên hệ nhân quả thường có cơ sở sinh học, như vi khuẩn V. cholerae là nguyên nhân gây bệnh tả, còn yếu tố nguy cơ (risk factors) là những yếu tố -- qua các cơ chế gián tiếp hay trực tiếp -- làm tăng nguy cơ mắc bệnh của một cá nhân. Chẳng hạn như nguồn nước bị ô nhiễm có thể là một yếu tố nguy cơ của bệnh tả vì nước có thể hàm chứa vi khuẩn tả; nhưng nước không phải là nguyên nhân gây bệnh tả bởi vì không phải ai uống nước ô nhiễm cũng đều mắc bệnh, họ chỉ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người không uống nước ô nhiễm.

Một mối tương quan thống kê không hẳn là một mối liên hệ sinh học, và chỉ là một điều kiện cần nhưng chưa đủ để phát biểu về nguyên nhân và hệ quả. Chẳng hạn như mối tương quan giữa kích thích tố nữ (estrogen) và xu hướng ngoại tình không có nghĩa là người có nhiều estrogen là nguyên nhân của ngoại tình!

Một yếu tố nguy cơ có thể là một nguyên nhân, nhưng cũng có thể không phải là nguyên nhân, gây bệnh. Nếu thịt chó là nguyên nhân bệnh tả thì phải hội đủ 5 điều kiện sau đây:

· sinh học -- mối liên hệ giữa thịt chó và bệnh tả có cơ sở sinh học (như đột biến gien, biến thể DNA, vi khuẩn, v.v…);

· thời gian -- việc ăn thịt chó phải xảy ra trước khi mắc bệnh tả;

· liên hệ theo tính liều lượng -- nguy cơ mắc bệnh tả ở những người ăn thịt chó phải cao hơn nguy cơ ở những người không ăn thịt chó, VÀ phải chứng minh rằng người ăn càng nhiều thịt chó có nguy cơ mắc bệnh càng cao, ăn ít có nguy cơ mắc bệnh càng thấp;

· nhất quán -- mối liên hệ đó phải được “chứng minh” trong nhiều quần thể và nhiều nghiên cứu độc lập, chứ không phải chỉ một quần thể hay một nghiên cứu; và

· can thiệp -- nếu ngưng ăn thịt chó thì sẽ giảm nguy cơ hay không mắc bệnh tả.

3. Nghiên cứu đã được lặp lại lần nào chưa?

Dấu ấn của khoa học (và cũng là điểm để phân biệt giữa khoa học và ngụy khoa học) là kết quả mang tính tái xác nhận. Nói cách khác, chỉ khi nào kết quả của một nghiên cứu ban đầu được lặp lại ở nhiều nghiên cứu khác trên những quần thể độc lập thì mới được xem là đáng tin cậy.

Khoa học ngày nay bao gồm những hoạt động đóng khuôn trong một mô thức (paradigm), những hoạt động mang tính giải đáp các vấn đề nhỏ và cụ thể mà cộng đồng khoa học đang tìm một giải đáp. Khoa học bình thường, do đó, có tính tích lũy và tiến hóa, chứ không mang tính cách mạng. Các kết quả nghiên cứu mới bổ sung cho những kết quả hiện hành, nhưng những kết quả này không dẫn đến một cuộc cách mạng. Trong quá trình cập nhật hóa kiến thức, chúng ta thấy những kết quả nghiên cứu trái ngược nhau. Có một số nghiên cứu cho thấy cà phê hôm nay có lợi cho sức khỏe, nhưng hôm sau lại có kết quả nghiên cứu cho thấy ngược lại! Những kết quả nghiên cứu như thế phải đặt trong bối cảnh tiến hóa của khoa học trong một mô thức, chứ không thể xem là một kết luận sau cùng, hay một sự thật khoa học vĩnh viễn.

4. Khoa học thường mong manh và bất định

Nghiên cứu khoa học thường bắt đầu với một giả thuyết, và sau khi thu thập dữ liệu thì kết quả có thể nhất quán hay không nhất quán với giả thuyết đó. Nhưng dữ liệu thường được thu thập từ một nhóm đối tượng trong một quần thể. Nhóm đối tượng đó có thể không đại diện cho quần thể, và do đó kết quả rút ra từ dữ liệu cũng có thể sai, dù giả thuyết đúng. Nhưng cũng có trường hợp dữ liệu được thu thập theo đúng phương pháp, nhưng giả thuyết lại sai. Nhìn khoa học dưới góc độ [đơn giản] như thế, chúng ta thấy các kết quả nghiên cứu khoa học rất mong manh và nhiều bất định. Đúng hay sai, một giả thuyết mới cũng giống như một cục nam châm, thu hút các khoa học gia khác dấn thân vào lĩnh vực nghiên cứu.

Chúng ta thường hay thấy câu “khoa học đã chứng minh rằng …” trong nhiều bài báo khoa học phổ thông hay trên hệ thống truyền thông đại chúng. Hai chữ “khoa học” phía trước hai chữ “chứng minh” như có tác dụng tăng trọng lượng cho một phát biểu mà người viết muốn chuyển tải đến người đọc. Nhưng trong y học, khái niệm chứng minh không hiện hữu. Tiêu chí số một và tiêu chuẩn để đánh giá một lí thuyết hay giả thuyết là bằng chứng, chứ không phải chứng minh. Bằng chứng có thể phù hợp hay không phù hợp với giả thuyết.

5. Liều lượng bao nhiêu?

Bất cứ hóa chất nào, dù từ thiên nhiên hay do chế tạo bằng qui trình công nghệ, đều có khả năng gây tác hại nếu sử dụng ờ liều lượng cao. Nhưng chính các hóa chất này cũng có thể là những liệu pháp trị liệu có hiệu quả nếu được sử dụng đúng liều lượng. Thật vậy, cái khác biệt giữa một hóa chất độc hại và một liệu pháp trị liệu chính là liều lượng (sự thật này còn được gọi là nghịch lí độc tố).

Không phải hóa chất nào cũng hấp thu 100% vào cơ thể, và ngay cả khi hấp thu chỉ có một hàm lượng rất thấp có thể gây tổn hại sinh học, và ngay cả khi gây tổn hại, chưa chắc sẽ gây bệnh. Giả sử như người ta phát hiện trong thực phẩm nào đó hàm chứa một hóa chất có khả năng gây ung thư, chúng ta phải hiểu thông tin nào bằng cách xem xét qui trình tiếp thu và hấp thu của hóa chất như sau. Nếu thực phẩm mà chúng ta ăn uống chứa 1 mg, và chỉ 1% (hay 0,01 mg) được hấp thu. Trong số 1% hấp thu đó, chỉ có 1% (hay 0,0001 mg) được chuyển hóa trở thành độc hại. Trong số chuyển hóa thành độc hại, chỉ có 1% (hay 0,000001 mg) tiến đến mục tiêu như DNA. Và trong số DNA bị tổn hại, chỉ 99% tự sửa chữa, chỉ có 1% (hay 0,00000001 mg) bị đột biến. Nói cách khác, chỉ có 1 phần triệu liều lượng ban đầu dẫn đến tổn hại DNA, và tổn hại DNA chưa hẳn sẽ gây bệnh ung thư. Nhìn vấn đề như thế, chúng ta thấy mối liên hệ giữa hóa chất và bệnh tật rất bất định chứ không bao giờ mang tính xác định.

6. Có liên cang gì đến tôi không ?

Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của hóa chất đến sức khỏe thường được tiến hành trên chuột. Đây là những nghiên cứu mang tính sơ khởi để thử nghiệm một giả thiết khoa học. Bởi vì chỉ là nghiên cứu sơ khởi và không tiến hành trên con người, cho nên các nghiên cứu loại này có giá trị khoa học thấp nhất. Chẳng hạn như câu chuyện về nước tương và ung thư dấy lên vào tháng 4-5 năm 2007, các nhà nghiên cứu cho chuột uống nước tương chứa 3-MCPD [tương đương với việc cho con người uống một lít mỗi ngày trong suốt 50 năm trời], và họ phát hiện tỉ lệ mắc bệnh ung thư trong nhóm chuột ăn nhiều chất 3-MCPD cao hơn nhóm chuột không ăn chất 3-MCPD cao hơn chỉ 40%, và ngay cả con số này cũng còn nhiều bất định vì số lượng chuột sử dụng cho thí nghiệm chỉ trên dưới 10 con.

Nhưng chuột không phải là con người, và nghiên cứu trên chuột không thể khái quát hóa cho con người. Ngoài ra, nghiên cứu ở người Âu Mĩ chưa hẳn áp dụng cho người Á châu, do khác biệt về lối sống và di truyền. Do đó, một câu hỏi quan trọng khác mà người đọc bản tin y tế cần phải hỏi là: kết quả nghiên cứu đó hay thông tin đó có áp dụng vào trường hợp cá nhân của người đọc hay không? Ngay cả áp dụng cho cá nhân thì vẫn còn nhiều yếu tố khác khó có thể nói về mối phơi nhiễm của cá nhân và nguy cơ mắc bệnh.

7. Nguy cơ tuyệt đối hay tương đối ?

Mối liên hệ giữa một yếu tố nguy cơ và bệnh tật thường được diễn tả bằng con số phần trăm, và rất dễ gây hiểu lầm. Người đọc phải xem xét đến nguy cơ tuyệt đối để có một bức tranh toàn diện hơn. Có thể lấy một ví dụ để minh họa cho ý này: trong một cộng đồng một nhóm sống ở vùng bị phơi nhiễm một hóa chất độc hại, và một nhóm không bị phơi nhiễm. Trong nhóm bị phơi nhiễm, tỉ lệ mắc bệnh ung thư là 3 trên 10.000 người, và trong nhóm không phơi nhiễm, tỉ lệ mắc bệnh là 1 trên 10.000 người. Tính theo nguy cơ tương đối, phơi nhiễm hóa chất tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư 200%. Nhưng tính theo nguy cơ tuyệt đối, mức độ khác biệt giữa hai nhóm chỉ 2 trên 10.000 người.

Chẳng hạn như trước đây báo chí Tây phương đưa một tin “giật gân” rằng phụ nữ Âu Mĩ ăn bưởi có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú tăng 30%. Con số 30% làm nhiều người hoang mang. Nhưng trong thực tế, nghiên cứu này theo dõi 46.080 phụ nữ suốt 9 năm trời, và họ phát hiện trong nhóm ăn bưởi có 3,8% người mắc bệnh ung thư vú, trong nhóm không ăn bưởi tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú là 3,4%. Như vậy, nhóm ăn bưởi có tỉ lệ ung thư vú cao hơn nhóm không ăn bưởi là 0,4%. Trong y học, một khác biệt chỉ có 0,4% không thể xem là có ý nghĩa lâm sàng và cũng chẳng đáng quan tâm. Thật ra, công trình nghiên cứu này cũng không có giá trị khoa học cao do vấp phải quá nhiều khiếm khuyết trong quá trình thu thập và phân tích dữ liệu.

8. Giai thoại không phải là bằng chứng

Y học thế kỉ 20 và 21 là y học dựa vào bằng chứng. Bằng chứng thường được thu thập từ các nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học thường được tiến hành theo nhiều mô hình, và mỗi mô hình có một giá trị khoa học khác nhau (tính từ cao nhất đến thấp nhất): phân tích tổng hợp (meta-analysis), nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized clinical trial), nghiên cứu theo dõi bệnh nhân theo thời gian (prospective longitudinal) study), nghiên cứu tiêu biểu một thời điểm hay nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional study), nghiên cứu bệnh chứng (case-control study), và nghiên cứu cơ bản (basic research).

Những quan sát cá nhân, những kinh nghiệm lâm sàng, những ý kiến của các chuyên gia như giáo sư hay tiến sĩ (có khi còn có tên là chuyện vặt hay giai thoại) có giá trị khoa học thấp nhất.

9. Qui ước Ingelfinger

Năm 1969, Giáo sư Franz J. Ingelfinger được bổ nhiệm làm tổng biên tập tập san New England Journal of Medicine (NEJM), một tập san có lịch sử trên 100 năm và cho đến nay vẫn là tập san số 1 trong ngành y. Khi mới nhậm chức, ông phát hiện một số công trình nghiên cứu khoa học đang được xem xét cho in hay sắp in trên tập san NEJM đã được hệ thống truyền thông đại chúng công bố trước! Qui ước này được biết đến là Qui ước Ingelfinger.

Sau khi một công trình nghiên cứu được hoàn tất, nhà nghiên cứu thường trình bày kết quả trong một (hay vài) hội nghị chuyên ngành cấp quốc tế hay quốc gia dưới hình thức một bài báo ngắn. Mục đích chính của việc trình bày kết quả trong hội nghị là xin ý kiến phản biện của các đồng nghiệp. Sau khi đã có những ý kiến phản biện, nhà khoa học soạn một báo cáo đầy đủ hơn và đệ trình cho một tập san chuyên ngành để được bình duyệt (hay phản biện) nghiêm chỉnh hơn. Qua bình duyệt, bài báo có thể được chấp nhận hay từ chối cho công bố. Theo Qui ước Ingelfinger, chỉ khi nào bài báo được công bố trên một website hay báo giấy của tập san thì nhà nghiên cứu mới có quyền được tiếp xúc với giới truyền thông đại chúng để nói về thành quả nghiên cứu của mình. Trong thời gian bài báo còn được bình duyệt, hay ngay cả sau khi đã được chấp nhận cho công bố nhưng chưa đưa lên website, nhà nghiên cứu vẫn không có quyền tiếp xúc với truyền thông.

Nhiều thông tin y tế trên hệ thống truyền thông thường nói đến những “phát hiện” chưa được công bố hay chỉ được công bố trong hội nghị khoa học. Tất cả những phát hiện, khám phá của khoa học loại này không được xem có giá trị cao và không cần chú ý đến. Tất cả các kết quả nghiên cứu khoa đều được công bố chủ yếu trong các tập san chuyên khoa, những tập san này được giới chuyên môn quản lí và điều hành. Các báo cáo được chấp nhận công bố trong các tập san này đều được qua ít nhất là ba đồng nghiệp kiểm tra về sự chính xác và phương pháp, bằng những tiêu chuẩn khoa học, do đó phẩm chất của chúng khá cao và đáng tin cậy.

Có khi thông tin y học trên báo đại chúng chưa bao giờ được công bố trên tập san khoa học! Chẳng hạn như tháng 4 năm 2008, phát biểu qua một hãng thông tấn ngoại quốc, một quan chức của Tổ chức Y tế Thế giới cho tuyên bố rằng ăn thịt chó hay các thức ăn khác ở hàng quán có bán thịt chó tăng nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy cấp tính trầm trọng do nhiễm vi khuẩn tả gấp 20 lần. Nhưng khi chúng tôi hỏi nguồn thông tin thì mới biết rằng kết quả này chưa bao giờ được công bố trên một tập san khoa học nào, và đó là một vi phạm Qui ước Ingelfinger.

10. Nguồn gốc thông tin

Phần lớn các công trình nghiên cứu có chất lượng cao đều xuất phát từ những trung tâm nghiên cứu có tên tuổi và uy tín. Chẳng hạn như một nghiên cứu từ một trường đại học thường khách quan hơn các công trình nghiên cứu do các nhóm lợi ích (interest groups, như các công ti thương mại) thực hiện.

Câu chuyện về vắcxin viêm gan trong năm 2007 là một bài học quí báu cho việc kiểm tra nguồn gốc thông tin. Khởi đầu là 4 trường hợp trẻ em mới sinh bị tử vong sau khi tiêm vắcxin ngừa viêm gan B làm cho nhiều người chất vấn chính sách này. Một số báo chí bắt đầu đặt câu hỏi về hiệu quả và an toàn của vắcxin. Một bài báo trên Tuổi Trẻ với tựa đề khá giật gân “Hàng trăm ca tử vong sau khi tiêm văcxin viêm gan B ở Mỹ”, mà trong đó tác giả lthông tin trên website của ông Joseph Mercola ở bang Illinois (Mĩ), một bác sĩ vật lí trị liệu (osteopathic doctor) có nhiều ý kiến “phi chính thống” và nổi tiếng chống đối các chương trình tiêm chủng ngừa. Ông Mercola đã bị các cơ quan y tế Mĩ cảnh cáo vài lần về việc đưa tin … sai lạc. Người viết bài này có nêu vấn đề thông tin, và bài báo trên đã được rút xuống.

Vài lời kết

Thông tin về y tế và môi sinh đã trở thành những món ăn tinh thần hàng ngày cho công chúng. Hầu như mọi ngày trên các phương tiện truyền thông, từ báo chí, radio, đến đài truyền hình và internet đều có những bản tin liên quan về ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, thực phẩm và hóa chất đến bệnh tật. Những thông tin như thế gieo vào công chúng mối sợ hãi và cảm xúc mạnh mẽ. Và cứ mỗi bản tin, người ta tìm thêm thông tin và cố vấn của giới chuyên môn, với những câu hỏi rất đơn giản. Ăn thịt chó có an toàn không? Ăn thịt lợn có làm tăng lượng cholesterol trong cơ thể không? Ăn nước tương có gây ung thư? Trong khi công chúng đòi hỏi câu trả lời đơn giản (có hay không có), nhưng khoa học thì không thể nào cho ra một câu trả lời đơn giản như thế.

Cũng vì lí do này, phần lớn trong giới khoa học thường bị cóng lưỡi trước những câu hỏi đơn giản trên. Thay vào đó, giới truyền thông nhân danh công chúng săn lùng các tập san khoa học, sản sinh ra những câu chuyện hấp dẫn, những câu chuyện được viết bằng ngôn ngữ khoa học nhưng được “chuyển ngữ” thành những câu văn xuôi mà ai trong công chúng cũng đều hiểu được. Đối với một số người trong giới truyền thông, câu chuyện đáng đưa lên mặt báo phải có tính độc đáo, khủng khiếp, nguy hiểm, hay làm cho người đọc cảm thấy bất an. Để làm chuyện này, giới truyền thông phải tìm cách làm cho công chúng cảm thấy quyến rũ trước các bản tin khoa học. Nhưng cái bị hi sinh trong quá trình chuyển hóa từ ngôn ngữ khoa học sang ngôn ngữ quyến rũ của báo chí là tính khách quan của khoa học.

Nhưng không thể đổ lỗi cho giới truyền thông, vì chính giới khoa học cũng góp phần vào việc chuyển tải những thông tin thiếu khách quan. Nhà khoa học cũng chỉ là những con người “nhân vô thập toàn”, thiếu kiên nhẫn để trở nên nổi tiếng, và chịu áp lực trước thị trường. Khi một nghiên cứu dù sơ khỏi cho ra một kết quả quan trọng, họ cũng không ngần ngại tuyên bố vung vít để mong được tài trợ thêm hay được nổi tiếng. Nhưng trong khoa học, nhầm lẫn không hẳn là những sai sót. Sự thật hôm nay chỉ đơn thuần là một hiểu biết cho hôm nay; ngày mai có thể khác. Và bất luận một hiểu biết dù có tính logic cỡ nào đi nữa, sự hiểu biết đó chỉ tồn tại cho đến khi một nghiên cứu mới chứng minh nó sai.

Hi vọng rằng những tiêu chí tôi trình bày trên đây sẽ góp phần nâng cao sự chuyển tải thông tin về y tế và môi sinh tốt hơn cho công chúng.
Read more ...