Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn tị nạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tị nạn. Hiển thị tất cả bài đăng

"Định cư" và "tị nạn": trường hợp Kim Phúc

Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2015
Sắp đến ngày 30/4 báo chí VN đang đi tìm những nhân vật lừng danh một thời. Báo Người đô thị có phóng sự ảnh về Phan Thị Kim Phúc, nhưng có một thông tin tôi thấy không đúng và có thể làm người đọc hiểu sai vấn đề. Trong ảnh, phóng viên chú thích rằng "Kim Phúc cùng con trai và chồng (phía sau). Năm 1992, trong chuyến nghỉ trăng mật ở Moscow, Nga sau khi kết hôn, vợ chồng Kim Phúc xin định cư tại Ajax, Ontario, Canada." (1) Sự thật thì không phải như thế; sự thật là Kim Phúc và chồng xin tị nạn chính trị tại Canada.


Có lẽ tôi phải nói qua về cái "tị nạn" để các bạn hiểu chút. Thời thập niên 1980 trong các trại tị nạn ở Thái Lan, các nhân viên thiện nguyện và người đi trước lúc nào cũng dặn dò người đến sau là phải chứng minh tư cách tị nạn chính trị. Tiếng Anh là "political refugee". Trong thực tế thì khi các viên chức phỏng vấn người xin đi tị nạn cũng xoáy vào những thông tin để đương sự khai cho hợp với tư cách đó. Đại đa số người Việt không có vấn đề gì, nhưng những người như người Việt gốc Tàu có khi có vấn đề. Vấn đề là khi họ đến trại tị nạn, họ vênh mặt lên và khai rằng họ là "Chinese" (người Hoa) chứ không phải người Việt. Có lẽ họ nghĩ người Hoa cao hơn người Việt? Mà, đối với các viên chức phương Tây thì nếu họ là người mang quốc tịch Tàu, họ không có tư cách tị nạn chính trị, và giao họ về cho … China! Nhiều người chết dở sống dở vì lời khai người Hoa đó, nhưng lời khai đó cũng nói lên phần nào bản chất của một số người Hoa là họ không trung thành gì với VN cả cho dù họ sinh ra và lớn lên và mang quốc tịch Việt Nam. Câu chuyện đó nói rằng rất quan trọng phải phân biệt "định cư" và "tị nạn". Cho đến nay ở Úc sự phân biệt đó vẫn quan trọng, và theo đó nếu đương sự chứng minh được là tị nạn chính trị thì được phép cho vào Úc tị nạn, còn không thì bị gửi qua Kampuchea.

Quay lại câu chuyện của Kim Phúc, một thời nổi tiếng là "em bé Napalm" trong bức ảnh do phóng viên Nick Út chụp vào năm "mùa hè đỏ lửa" (1972). Bức ảnh nói lên sự dã man của chiến tranh và bom đạn, làm xúc động cả thế giới, và Mĩ bị phản đối dữ dội. Bức ảnh cũng đem đến cho Nick Út giải thưởng danh giá. Sau 1975, Kim Phúc được giới tuyên truyền VN sử dụng như là một vật thể cho tuyên truyền chống Mĩ. Chính Kim Phúc từng viết "The Communists had other plans, and used me as a propaganda tool" (người cộng sản có kế hoạch khác, và họ dùng tôi như là một công cụ tuyên truyền) (2).

Cô được Nhà nước ưu ái cho đi học ở Cuba vào năm 1986. Theo Kim Phúc kể lại (1), cô gặp người chồng tương lai ở Cuba, và sau khi thành hôn, họ được phép đi Moscow. Sau khi thành hôn họ được phép đi hưởng tuần trăng mật ở Moscow. Trên đường từ Moscow về lại Cuba, máy bay tạm đáp ở Newfoundland (Canada) để tiếp nhiên liệu, và nhân dịp này Kim Phúc và chồng xin tị nạn chính trị ở Canada. Trước đó, Kim Phúc đã có ý định xin tị nạn chính trị, nhưng cô chưa nói cho chồng biết. Hai vợ chồng được chấp nhận cho tị nạn và họ sống ở Ontario từ đó cho đến nay. Kim Phúc còn cho biết cô trở thành một tín đồ đạo Tin Lành từ đó.

Tôi nghĩ phóng viên báo Người đô thị thừa biết Kim Phúc xin tị nạn chính trị, chứ không đơn thuần "xin định cư", nhưng phóng viên phải viết như thế để được đăng báo. Tôi có cảm giác cho đến nay, sau 40 năm ngày thống nhất đất nước, Nhà nước VN vẫn chưa chấp nhận hai chữ "tị nạn", và do đó, họ không muốn nhắc đến hai chữ đó trên báo chí (?)

Nhưng "định cư" và "tị nạn" chính trị khác nhau xa. Sự kiện "thuyền nhân" tị nạn là một vết nhơ trong lịch sử VN (chưa bao giờ người Việt bỏ nước ra đi nhiều như thế), nó nói lên bản chất của chế độ thời đó, và do đó, nhiều người trong chính quyền cũng như nhiều người ngoài Bắc vẫn chưa thoải mái khi nói về người tị nạn. Cho đến ngày nay, không ít người miền Bắc vẫn cho làn sóng người Nam vượt biển đi tị nạn là những kẻ chạy theo bơ thừa sữa cặn của đế quốc. Dĩ nhiên, người biết chuyện chỉ thấy tội nghiệp cho những kẻ có suy nghĩ như thế. Đối với họ thì không thể nào nói gì thêm được do tế bào trí tuệ đã bị đột biến hư hỏng rồi. Và, chính những kẻ có suy nghĩ như thế này là lực cản để người trong và ngoài nước hoà giải, hoà hợp -- tôi nghĩ thế. 

Lí do Kim Phúc xin tị nạn thì có thể đọc trong bài qua chính chữ của cô ấy (2), nhưng thiết nghĩ các bạn không đọc cũng thừa thông minh hiểu tại sao Kim Phúc quyết định như thế. Thời đó ở miền Nam có câu "cái cột điện mà biết đi, chúng cũng đi". Tuy nhiên, sự việc nhỏ này có ý nghĩa lớn, bởi vì thế hệ sau vẫn cứ nghĩ là Kim Phúc xin định cư ở Canada, và đó là một sự nói dối làm cho sự thật lịch sử bị lệch lạc. Nhiều người đòi hỏi khi viết sử phải dựa vào thông tin chính thống và điều đó cũng chẳng có gì sai (có lẽ họ mới đọc một cuốn sách giáo khoa nào đó bên phương Tây dạy về sử học nên đòi hỏi như thế), nhưng ở VN cái gọi là "thông tin chính thống" thường bị xuyên tạc, làm cho lệch lạc, và đổi trắng thay đen. Câu chuyện của Kim Phúc trên báo chí VN chỉ là một nhắc nhở người đọc nên cảnh giác trước những thông tin gọi là "chính thống".

====



Read more ...

Gough Whitlam và người tị nạn Việt

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Cựu thủ tướng Gough Whitlam mới qua đời ngày hôm qua (21/10), thọ 98 tuổi. Hôm nay, tôi mới thấy bài "Vị thủ tướng chống chiến tranh Việt Nam" trên Tuần Việt Nam (1), mà trong đó tác giả ca ngợi ông Gough Whitlam quá cỡ. Ông Whitlam là một chính khách lớn của Úc, ông nổi tiếng vì bị Tổng toàn quyền Úc truất phế khỏi ghế thủ tướng gần 40 năm trước. Bài này không đề cập đến sự kiện đó một cách công minh, mà chỉ nói đến việc ông Whitlam thiết lập bang giao với chính quyền miền Bắc. Giọng điệu ca ngợi trong bài này rất hợp gu Nhà nước. Nhưng là người Việt, tôi thấy hơi ngượng cho tác giả.


Trước hết hãy nói về chính sách đối với người tị nạn của Úc. Mấy năm gần đây, làn sóng người Bangladesh, Afghanistan, Pakistan, Iraq, v.v. đi thuyền từ Nam Dương sang Úc để xin tị nạn. Hàng trăm (hình như >500) người Việt Nam cũng vượt biên thẳng đến Úc xin tị nạn.

Chính phủ Úc cảm thấy trong tình trạng báo động vì số người càng ngày càng nhiều, và vì áp lực của cử tri càng ngày càng cao là phải giải quyết vấn đề. Thoạt đầu, Chính phủ Úc chuyển mấy người này sang một đảo thuộc Úc và tiến hành các thủ tục phỏng vấn và xác minh tư cách tị nạn.  Phần lớn là bị trả về nước.  Nhưng giải pháp đảo này không có hiệu quả ngăn ngừa làn sóng người tị nạn, nên Úc quay sang giải pháp thứ hai là chuyển người xin tị nạn đến quốc đảo Nauru (còn gọi là giải pháp Pacific). Dĩ nhiên, Chính phủ Úc phải chi tiền để Nauru nuôi người xin tị nạn trong thời gian chờ xét duyệt. Theo thống kê, Nauru đã đón nhận khoảng 1600 người, trong số này 700 là được cho định cư ở Úc, 400 ở Tân Tây Lan, một số nhỏ thì định cư ở Âu Châu, và gần 500 người tự nguyện hồi hương. 

Chưa thấy hiệu quả ra sao, thì nay đùng một cái, Chính phủ Úc tuyên bố chuyển người xin tị nạn sang … Kampuchea, sát nách Việt Nam! Đây là kết quả của những chuyến đàm phán "đi đêm" giữa Chính phủ Úc và KPC, và mới chỉ  được công bố vào cuối tháng 9 vừa qua. Theo báo chí thì Úc đồng ý chi cho KPC 40 triệu AUD để chăm lo người xin tị nạn trong khi chờ xử lí. Campuchea thì nói rằng họ muốn đóng góp một phần vào việc giải quyết vấn đề người tị nạn trên thế giới (Xem ra KPC còn hay hơn VN về cái khoản này). Thế là trong tương lai người Việt Nam vượt biên để hi vọng đến Úc sống thì sẽ được chuyển về Kampuchea.

Tình cảnh người tị nạn ngày nay làm tôi nhớ đến chuyện ông Whitlam mà tôi đề cập trong phần đầu bài này. Ông Whitlam là người chống người tị nạn Việt Nam. Khi làn sóng người tị nạn bắt đầu nổi lên sau 1975, ông Whitlam từng tuyên bố "I'm not having hundreds of fucking Vietnamese Balts coming into this country with their political and religious hatreds against us." (Tạm dịch: Tôi không muốn có cả trăm người trong cái đám người Việt chết tiệt đó vào Úc với những thù hận mang tính chính trị và tôn giáo chống lại chúng ta). Ông dùng chữ chửi thề "fucking"!  May phước sau đó ông bị truất phế khỏi ghế thủ tướng, và Chính phủ của Malcolm Fraser lên cầm quyền. Nếu ông Whitlam lúc đó còn tại chức những người như tôi sẽ không có đường đến Úc.

Thái độ chống dân tị nạn của Whitlam rất nhất quán với thái độ không ưa người Việt ở miền Nam. Khi miền Nam bị sụp đổ, chính phủ Whitlam bỏ rơi 130 nhân viên người Việt làm cho tòa đại sứ và lãnh sự Úc tại Sài Gòn. Một cách cư xử xấu ra mặt.

Nếu tác giả bài viết trên Tuần Việt Nam là người đi từ miền Bắc sau này thì tôi không ngạc nhiên về giọng điệu trong bài viết. Nhưng nếu tác giả đó là người sang Úc như là người tị nạn thì tôi nghĩ bài viết đó thật … khó đọc. Thà đừng viết, chứ viết để ca ngợi một người chống lại mình hoặc chống lại đồng hương mình thì quả là thiếu tự trọng.

Nhưng thôi thì chuyện cũ đã qua, nay ông Whitlam đã về cõi vĩnh hằng, nên mọi "ân oán" phải bỏ qua hết. Chúc ông sớm chuyển nghiệp.

=====

Bài viết này trích một đoạn sai lời nói của ông Whitlam ("Thưa quý ông, quý bà, chúng ta có thể hát quốc ca "Chúa Trời cứu giúp Nữ hoàng" vì không có gì có thể cứu giúp được vị Toàn quyền!"). Thật ra, nguyên văn câu nói nổi tiếng của Whitlam khi bị tổng toàn quyền John Kerr truất phế là: "Well may we say, ‘God save the Queen’, because nothing will save the governor-general" (tạm dịch: "Được rồi, có lẽ chúng ta nói 'Thượng đế cứu Nữ Hoàng', nhưng không có gì sẽ cứu được ngài tổng toàn quyền"). Câu "God save the Queen" là bài Quốc ca của Anh và một số nước trong khối Liên hiệp Thịnh vượng.

Read more ...

Kỉ niệm 32 năm trên xứ người

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

Hôm nay là ngày 26/1, ngày Quốc Khánh của Úc, còn gọi là Australia Day. Ba mươi hai năm trước ngày này (1982) tôi đến Sydney trong một chuyến bay 8 tiếng đồng hồ từ Bangkok của hãng Qantas. Thời gian 32 năm là một thế hệ, và có thể xem là gần nửa đời người. Mỗi năm cứ đến ngày này là tôi nhớ về những ngày đầu trên đất Úc.


Rời Thái Lan

Tin chúng tôi được đi định cư thật ra đã được thông báo trước đó 3 ngày. Ngày 22/1/1982, khi còn ở trại tị nạn Panatnikhom (tỉnh Chonburi), tôi nhận được thông báo là sẽ đi Úc. Từ Panatnikhom phải đi Bangkok và ở đó một ngày để làm thủ tục đi Úc. Đối với những người tị nạn, tin đi định cư là một tin mừng. Vì cuộc sống trong trại có quá nhiều khó khăn, tất cả ai ở trại tị nạn đều muốn rời trại càng sớm càng tốt để làm lại cuộc đời. Cảnh sát Thái Lan canh giữ trại không dấu thái độ kì thị của họ đối với người Việt trong trại (nhưng lại có cảm tình với người Kampuchea và Lào, có lẽ hai nhóm người này hiền và “ngoan” hơn người Việt vốn có những tính quả thật khó ưa). Có người ví cuộc sống ở trại tị nạn là một cuộc sống địa ngục. Do đó, đi tị nạn cũng có nghĩa là thoát khỏi cái địa ngục trần gian này, thoát khỏi cái môi trường ngột ngạt và có khi đầy thù hận trong trại.

Đêm đó, chúng tôi – gồm 54 người có trong danh sách đi Bangkok – tổ chức tiệc ăn mừng. Nói “tiệc” là cho oai, chứ thực ra thì chỉ là những món “gà lựu đạn” và món ăn mà trại cung cấp. Gà lựu đạn là cụm từ dùng để chỉ những con gà chỉ còn xương như bị đạp lựu đạn, là món ăn mà trại cung cấp. Đáng lẽ theo qui chế của Liên hiệp quốc thì trại phải cung cấp thịt gà đàng hoàng cho người tị nạn, nhưng vì quan chức Thái Lan cũng có thói ăn chận và tham nhũng nên chỉ cung cấp cho mấy con gà lựu đạn này, còn thịt thì chắc họ bán ra ngoài thị trường. Có lẽ nhiều người khi nghe qua ăn cơm trọng trại tị nạn mà có gà thì ngạc nhiên lắm, nhưng sự thật là họ nấu cho tập thể ăn, cho nên nói "gà lựu đạn" là một đống xương gà được nấu một cách hỗ lốn, mà nhìn vào thì người ta khó phân biệt đó là thức ăn cho heo hay cho người. Tuy nhiên, khi nhận phần cơm về, với những tài chế biến khéo léo của người Việt, cái phần ăn kinh khủng đó trở thành những món ăn tương đối ngon miệng. Chúng tôi đã có một đêm ăn uống vui vẻ, mà cũng có phần lưu luyến, nhất là những người có người yêu chưa có tên trong danh sách đi định cư.


Cảnh người lên đường định cư từ trại Panatnikhom

Sáng sớm ngày 23/1, chúng tôi đã chỉnh tề chờ xe bus đi Bangkok. Theo “truyền thống”, trại thường phát thanh ca khúc Biển nhớ của Trịnh Công Sơn (có đoạn “Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về”) để tiễn đưa chúng tôi lên đường. Chuyến xe khởi hành lúc 6 giờ sáng. Trên đường đi Bangkok, tôi quan sát cảnh nông thôn của Thái Lan và thấy chẳng khác gì Việt Nam mình, nên càng làm cho nỗi nhớ nhà thêm da diết. Nếu có khác biệt thì chỉ có xe cộ nhiều hơn và đường xá ở đây quá tốt so với bên Việt Nam. Còn những cánh đồng, nhà cửa, vườn tược, cây cối, v.v. thì hoàn toàn là cảnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

(Xin mở ngoặc ở đây để nói thêm: Năm 2007 khi tôi đi dự hội nghị ở Pattaya thuộc tỉnh Chonburi, tôi hỏi anh tài xế là Panatnikhom ở đâu, thì ngạc nhiên thay, anh ấy nói ngay tại tỉnh này: tỉnh Chonburi. Anh ta cho biết Panatnikhom là tên của một huyện xa của tỉnh Choburi. Có lẽ đúng là “huyện xa” vì tôi còn nhớ lúc đó ở trong trại cứ như là ở giữa nơi đồng không hiu quạnh, hay “middle of nowhere”. Không ngờ mấy chục năm trước mình ra đi từ đây và nay lại quay về đây. Cuộc đời đúng là “một cõi đi về”! Tôi quyết định đi về nơi mình từng ở (Panatnikhom) nhưng đến nơi thì không thấy bất cứ một dấu vết tị nạn nào cả, mà đã trở thành khu dân cư rất đông đúc và cây xanh).


Trại tị nạn Panatnikhom (Chonburi, Thailand)

Sau khoảng 5 giờ đường, chúng tôi đến thành phố Bangkok. Sau cả năm trời bị giam cầm trong các trại tị nạn ở rừng sâu núi thẳm, tôi đến Bangkok bằng một tâm trạng của một người nhà quê ra tỉnh. Lần đầu tiên trong đời thấy xa lộ chồng chéo lên nhau và xe ôtô chạy như mắc cửi, tôi mới thấy “Hòn ngọc Viễn Đông” Sài Gòn của Việt Nam quá ư là lạc hậu và thậm chí bé nhỏ! Xe chở chúng tôi vào một trung tâm tạm trú mà sau này tôi mới biết đó là một nhà tù dành cho người nước ngoài. Tuy là nhà tù, nhưng tôi thấy tiện nghi thì khá hơn gấp trăm lần so với trại tị nạn Panatnikhom. Trại có nước tắm đầy đủ (chứ không phải 20 lít nước/ngày như ở Panatnikhom), ăn uống cũng đầy đủ hơn, và cảnh sát Thái ở đây cũng lịch sự hơn nhiều so với mấy người ở trại tị nạn. Tuy nhiên, chúng tôi không được phép ra ngoài trại. Trong thời gian ở đây, nhân viên sứ quán Úc vào làm thủ tục định cư cho chúng tôi.

Đến ngày 25/1 thì chúng tôi lên một chiếc xe bus khác để ra phi trường. Một lần nữa, tôi ngạc nhiên về sự trù phú của Bangkok, mà trong lòng thì buồn cho Sài Gòn của mình. Tôi tự hỏi chẳng biết bao giờ Sài Gòn mới được như Bangkok, và cũng không có câu trả lời, vì chút nữa đây tôi sẽ càng xa quê hương. Ngồi trong phòng chờ đợi ở phi trường, trong lòng tôi lúc đó buồn vui lẫn lộn. Tôi không bao giờ có cảm tình (nếu không muốn nói là ghét) chính phủ Thái Lan, vì thái độ làm ngơ và bất nhẫn của họ trước thảm nạn trên biển Đông, nhưng dù sao đi nữa, đất Thái cũng đã cưu mang tôi trong thời gian khó khăn nhất, và vì đã có một sự gắn bó như vậy, tôi cảm thấy buồn buồn khi phải chia tay Thái Lan. Cuộc chia tay nào mà chẳng buồn! Vui là vì tôi biết sắp tới đây mình sẽ được tự do, được sang một xứ sở “văn minh”, và nhất là không còn bị giam cầm trong các trại tị nạn nữa. Tôi mường tượng ra vài giờ nữa đây, tôi sẽ đặt chân lên một nước rất đẹp, nơi có những thắng cảnh như nhà con sò và cầu cảng Sydney. Tôi sẽ làm gì ở đất nước đó vẫn là một câu hỏi lớn …

Đang miên man nghĩ chuyện tương lai thì nhân viên ICM cắt dòng suy nghĩ của tôi. Họ lùa chúng tôi lên chiếc máy bay khổng lồ (mà sau này tôi biết là Boeing 747) thuộc hãng hàng không QANTAS của Úc, và được sắp xếp ngồi ở những hàng ghế sau cùng trong máy bay. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được đi máy bay to lớn như thế. Đang loay hoat tìm cái thắt dây an toàn thì tiếp viên đem đến cho chúng tôi khăn lau mặt thơm phức và li nước cam vàng tươi vô cùng mát mắt. Sau nhiều tháng bị đối xử như tù nhân, đây là lần tôi được phục vụ và đối xử tốt. Tôi đã thật sự xúc động và ngạc nhiên không hiểu tại sao họ lại tử tế với mình như thế! (Bây giờ tôi mới biết là lúc đó họ đâu có phân biệt khách tị nạn với khách thường đâu, ai họ cũng xem là khách hàng và phục vụ đàng hoàng như nhau). 



Visa đi Úc. Chú ý thời gian là vô thời hạn (indefinite)

Đến Sydney

Sau tám giờ bay, máy bay đang hạ dần cao độ, tôi đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, thành phố Sydney đã hiện ra trong tầm mắt. Tôi sắp tới Úc. Cái ý tưởng đó lại làm cho tôi bồi hồi, xúc động một cách khó tả. Trên máy bay, cô tiếp viên nói trên loa câu “Chào mừng các bạn đến Sydney, Úc Đại Lợi” (Welcome to Sydney, Australia) và thông báo cho chúng tôi biết hôm nay là ngày 26 tháng 1 năm 1982, ngày Quốc khánh của Úc. Cô ta còn cho biết nhiệt độ hôm nay là 42 độ C.

Sau khi làm thủ tục nhập cảnh nhanh chóng, tôi ra ngoài hành lang phi trường. Tôi chưa có khái niệm về nhiệt độ 42oC như thế nào, nhưng khi ra phi trường trong cái nóng hừng hực tôi mới bị sốc. Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra rằng nước Úc đang ở vào mùa hè! Một rừng người Tây đang chờ đón thân nhân. Tôi thấy mình lạc lõng làm sao. Người tị nạn nào cũng ốm tong teo và đen đúa, trong khi ở đây ai cũng có vẻ hồng hào và phương phi. Người ta thì hành lí sang trọng, còn tôi thì chỉ có một cái túi xách trên vai chứa đúng hai bộ quần áo. Tôi chỉ có đôi dép bata và cái áo trắng với cái quần tây màu xanh đen dài lòng thòng, trông chắc như Hai Lúa lên thành. Thật ra, Hai Lúa còn hơn tôi nữa, vì lúc đó tôi chẳng có một đồng xu trong túi.

Trong đám đông người Tây, có một đoàn người Á châu đi đón người thân tị nạn. Trong đoàn người đó, có anh Trường và con anh ấy đi đón tôi. Con gái của anh (lúc đó chắc chỉ 10 tuổi gì đó) cầm một bó hoa đưa cho anh em tôi như là một lời chào mừng đến Sydney. Tôi đang lúng túng chẳng biết làm gì với cái bó hoa đó, thì nhân viên ICM đã hối chúng tôi lên xe bus về hostel. Nghe chữ “hostel” tôi đã ngạc nhiên, vì hồi nào đến giờ chỉ nghe “hotel” chứ có nghe hostel bao giờ đâu. Mãi sau này tôi mới biết hostel là một loại hotel cho “host” (khách) – viết ghép – ở dài hạn.

Chúng tôi lên xe bus đi về một trung tâm tạm cư ở vùng ngoại ô phía Tây Nam Sydney có tên là Cabramatta. Trên đường từ phi trường đến vùng ngoại ô Cabramatta, tôi để ý không thấy nhà cửa cao vút trời như ở Bangkok, mà chỉ toàn là nhà gạch đỏ ao, không sơn phết phía ngoài như nhà ở Việt Nam. Có lúc xe chạy ngang qua những khu cây cối um tùm mà tôi tưởng như đang đi trong rừng. Lúc đó, tôi đã hơi thất vọng, vì nước Úc không như mình nghĩ trong tâm tưởng là một xứ với nhà lầu cao trọc trời, văn minh, hiện đại. Xe bus đổ bến Cabramatta Hostel, tôi đã thấy vài anh chị đang nằm trên bãi cỏ xanh rì đọc sách hay ngắm nhìn trời xanh. Tôi để ý thấy đủ sắc dân ở đó mà sau này tôi được biết là họ đi từ Campuchea, Lào, Hồng Kông, Nam Dương, Ba Lan, Nam Tư, Tiệp Khắc, Liên Xô, v.v.

Nhìn hostel từ phía ngoài qua màu gạch có vẻ cũ kĩ, nhưng phía trong phòng lại đầy đủ tiện nghi như phòng trong khách sạn. Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra rằng người Úc không chú trọng bề ngoài nhưng lại rất quan tâm đến phía trong. Theo qui định của hostel, chúng tôi không được nấu nướng trong phòng mà phải ăn ở phòng ăn của nhà bếp. Phòng ăn và nhà bếp rất lớn, có khả năng phục vụ cả vài trăm người. Vì mới tới trại, chưa đủ thời gian để chính phủ trợ cấp an sinh xã hội, nên Hội St Vincent de Paul lúc đó cấp cho chúng tôi mỗi người 20 đô-la và một vé đi mua quần áo cũ ở tiệm của Hội. Tôi mừng lắm, lần đầu tiên cầm trên tay 20 đô và cũng chẳng biết phải làm gì với số tiền này. Việc đầu tiên là đi bộ đến cửa hàng của Hội để lãnh hai bộ đồ cũ và một đôi giày cũ để thay đổi. Tất cả chỉ tốn chỉ 2 đô-la! Nói là đồ cũ nhưng thực ra thì chất lượng còn rất tốt đối với tôi. Tôi còn dư đến 18 đô-la. Thời đó 18 đôla là khá nhiều, vì xăng chỉ 20-25 cent một lít (so với bây giờ là 1.5 đôla), và giá nhà chỉ khoảng 30-50 ngàn đôla (ngày nay là 500 ngàn đôla).

Lần đầu tiên vào phòng ăn, tôi bị choáng ngộp trước lượng thức ăn và sự dư thừa của thịt cá và trái cây ở đây. Tất cả món ăn đều được bày đặt một cách cực kì ngăn nắp và sạch sẽ. Tất cả món ăn đều do người Úc nấu theo kiểu [dĩ nhiên là] Úc. Mỗi ngày nhà bếp phục vụ ba buổi ăn: ăn sáng, ăn trưa và ăn tối. Mặc dù thức ăn đầy rẩy, tôi vẫn không ăn được gì nhiều, một phần do nhớ nhà, một phần vì thức ăn không hợp khẩu vị (không có nước mắm hay các món như kho). Mà cũng chẳng riêng tôi, hầu như người Á châu nào cũng có cùng cảm tưởng. Cứ mỗi lần họ phục vụ món thịt trừu thì phòng ăn có đầy người Tây phương và vắng mặt người Á châu; nhưng nếu bữa ăn có món thịt gà thì lại thấy hiện diện của nhiều "đầu đen". Sau này, nhà bếp họ biết khẩu vị của người Á châu, nên họ thuê hẳn đầu bếp Việt Nam vào nấu, và thế là chúng ta có những bữa ăn ngon.

Sau vài ngày quen nước quen cái, tôi tìm đường cuốc bộ ra phố và thấy có một tiệm thực phẩm có tên là Hồ Vị An và một tiệm phở Quê Hương. Tôi mừng húm vì có thể vào mua mì gói về "nhà" nấu ăn (dĩ nhiên là dấu ban quản trị hostel) mà không phải ăn thịt trừu nữa. Nhưng tôi vẫn chưa dám vào quán phở ăn, vì thấy một tô phở giá tới 2 đô-la, tức tương đương giá hai bộ quần áo và đôi giày của tôi!

Tôi đã có những ngày sung sướng nhất ở đây, những ngày thực sự tự do, không còn phải lo âu vì những lần chuyển trại, chẳng ai quấy rầy hay khủng bố tinh thần. Tôi viết thư về nhà báo cho Ba Má và các em biết là đã đến bến bờ tự do, nhưng ở nhà chỉ nhận một ít thư của tôi do chế độ kiểm duyệt khắc nghiệt lúc đó. Sau này tôi mới biết là sau lần anh em tôi vượt biên, Ba tôi đã phải trình diện hàng ngày trong sáu tháng liền với công an xã để nghe họ giảng giải về chính sách của cách mạng. Tất cả thư từ tôi gửi về nhà hoặc bị tịch thu, hoặc Ba tôi phải đọc trước các ông công an xã. Có lần Ba tôi nổi nóng không đi đọc thư cho họ nghe nữa, và thế là họ buông.

Học tiếng Anh 

Tôi ghi danh đi học tiếng Anh. Nhưng tôi lại thất vọng về cách dạy ê a của thầy cô ở đây, và chỉ một tuần sau tôi lại nghỉ học. Tôi quyết định tự học tiếng Anh. Nhưng tôi cần một cuốn từ điển. Tôi mạo hiểm đón xe điện ra thành phố (downtown) Sydney, ghé một nhà sách khổng lồ có tên là Dymock nằm trên đường George. Tôi bước vào nhà sách tìm mua cuốn từ điển Oxford và cuốn sách văn phạm tiếng Anh Practical English Usage của tác giả Michael Swan (mà tôi đã từng dùng tự học hồi ở trại tị nạn). Tôi đinh ninh là chữ Ford (đọc là "fo.d"), vậy thì Oxford phải đọc là "ox.fo.d". Nghĩ thế, tôi nói với anh bán hàng là tôi tìm mua cuốn từ điển "ox.fo.d"; anh ta trố mắt nhìn tôi không hiểu tôi nói từ điển gì, và lịch sự kêu tôi đánh vần cụ thể. Tôi bèn viết ra trên giấy chữ "Oxford"; anh ta ồ lên một tiếng rồi vui vẻ chỉ tôi cách đọc là "ox.fớd". Nhớ suốt đời! Ôi! Tiếng Anh sao mà rắc rối quá!

Tôi tự học tiếng Anh từ đó. Cách học tiếng Anh của tôi rất đơn giản: Mỗi ngày tôi học chỉ một chữ. Nhưng tôi học cẩn thận, ngoài nghĩa của chữ, tôi còn tìm hiểu nguồn gốc của chữ này đến từ đâu, những biến thể của nó, và cách sử dụng những biến thể này như thế nào. Chẳng hạn như chữ produce, tôi phải tìm hiểu produce (động từ và danh từ), biến thể production, product, productive, v.v. phải học cho thật kĩ và biết tận ngọn ngành của chữ. Mỗi ngày tôi tìm báo để đọc, và chữ nào không biết thì xem từ điển, chữ nào chưa biết cách phát âm thì chờ đến chiều khi đài truyền hình họ truyền đi những bản tin tức này và để ý họ phát âm mấy chữ mình chưa rành ra sao. Tôi thấy học như thế có hiệu quả rất cao về từ vựng. Còn về văn phạm thì cuốn Practical English Usage của Swan đúng là cuốn sách gối đầu giường của tôi. Tôi học văn phạm bằng cách … dịch sách. Để phân biệt cách chia và sử dụng động từ, tôi dịch những phần liên quan trong cuốn sách sang tiếng Việt. Tôi phát hiện rằng cách học hay nhất là mình phải viết xuống những gì mình học (chứ đọc hay nhập tâm vẫn chưa đủ), và dịch sang tiếng Việt là cách học tuyệt vời nhất.

Làm phụ bếp 

Sau vài tuần ở trong hostel, tôi bắt đầu tìm việc làm. Mỗi ngày tôi dò đọc mục “Employment” trong báo để tìm việc. Nhưng không may cho tôi, mỗi lần đi phỏng vấn là mỗi lần bị thất bại, vì tôi thành thật nói là chưa có kinh nghiệm làm hãng xưởng bao giờ. Một hôm, trên đường về nhà sau một lần nữa thất bại trong một cuộc phỏng vấn ở một hãng điện, tôi ngẫu nhiên để ý đến một khách sạn có kiến trúc hơi lạ có tên là “Belmore Hotel”. Tôi lại quay sang tờ báo và lần này, tôi để ý thấy Bệnh viện St Vincent's đang cần một phụ bếp (kitchen hand). Tôi nghĩ tại sao mình không xin làm phụ bếp mà lại phải loay hoay tìm việc trong các hãng xưởng? Nghĩ thế, tôi vội xuống ga và đón xe điện khác đi ngược về hướng Đông thành phố Sydney, nơi bệnh viện St Vincent's toạ lạc, để xin việc. Sau khi điền xong đơn, tôi được bà giám đốc nhà bếp có tên là Georgina Ramsey phỏng vấn. Bà hỏi tôi về lí lịch cá nhân, về kinh nghiệm làm trong nhà bếp. Vì đã thất bại quá nhiều lần trong các kì phỏng vấn trước đây do thành thật, kì này tôi làm gan nói dối là có kinh nghiệm làm trong nhà bếp. "Làm ở đâu?" Tôi nhớ ngay đến cái tên Belmore Hotel và trả lời Belmore Hotel! “Làm ở đó bao lâu?” “Dạ, ba năm.” Bà ta nhìn tôi mỉm cười một cách khó hiểu, nhưng quyết định nhận tôi ngay ngày đó, và hẹn tôi ngày mai sẽ bắt đầu đi làm. Tôi mừng quá và trên đường về nhà, tự đãi cho mình một tô phở!

Công việc tôi được giao phó là rửa nồi niêu, chén bát, và đặc biệt là thái củ hành Tây. Chao ôi, lần đầu tiên trong đời tôi thấy cái gì cũng lớn và cũng nhiều. Số lượng nồi và chén bát nhiều đến nổi không đếm hết. Nói là rửa chén, nhưng thật ra là tất cả đều làm bằng máy. Cái máy rửa chén dài khoảng 10 mét, máy có ba đường băng để chén và nồi nui xoong chảo trên đó, và có một bộ phận tự động chuyển những chén và nồi niêu xoong chảo sang một khu nước nóng để rửa. Đến đầu bên kia, có người chất đồ sạch xuống. Do đó, trên thực tế, suốt ngày tôi chỉ sắp xếp nồi chén chứ chẳng đụng tay rửa gì cả. Ngoài việc đó, tôi phải làm hành tây và cắt rau cải cho phụ bếp. Khi hết việc thì phải tìm việc làm, như lau chùi nhà bếp cho sạch, nhìn cái gì thấy không vừa mắt là phải sửa. Nói chung là không có nghỉ. Mỗi ngày có 3 lần nghỉ giải lao: lần thứ nhất là khoảng 10 giờ sáng, được nghỉ 15 phút để uống cà phê; lần thứ hai là 1 giờ trưa, được 30 phút để ăn trưa; và lần sau cùng là 3 giờ chiều, 15 phút uống cà phê. Mỗi lần nghỉ là phải bấm card để quản lí xem mình có nghỉ quá giờ hay không; nếu nghỉ quá giờ, cho dù 5 phút quá giờ, thì sẽ bị trừ lương. Con người ở đây như là cái máy. Tuy nhiên, tôi thấy rất vui, vì trong thời kì khủng hoảng kinh tế mà có việc làm là may mắn lắm rồi, vả lại còn có tiền gửi về Việt Nam để giúp nhà.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất là khi tôi thấy quá nhiều hành tây (trong hai bao bố rất to, loại bao mà thời dưới quê tôi thấy họ dùng làm bao gạo trong mấy nhà máy xay lúa), tôi hơi nao núng và hỏi: “Tao phải lột hết hai bao này à?” Anh chàng giám thị người Tân Tây Lan tên là Gerry nhún vai nói: “Dĩ nhiên, đó là công việc của mày mà!” Tôi cảm thấy mình ngây ngô làm sao! Dĩ nhiên, người ta mướn tôi vào làm việc đó, chứ còn việc nào khác! Chỉ lột được hai ba củ hành, là nước mắt tôi dàn dụa vì cay mắt. Gerry lại thấy tôi “khóc” bèn đến hỏi: “Mày có sao không?” Tôi trả lời “Không” và dần dần làm xong công việc một cách tốt đẹp. Nhưng chỉ hai ngày sau, sau vài lần thử nghiệm, tôi đã tìm được qui luật lột củ hành mà không rơi nước mắt. Mặc dù đó là một công việc khá nặng nhọc, nhưng tôi vẫn làm việc một cách vui vẻ, và qua đó tôi học được tính tập trung trong khi làm việc cho dù là việc lớn hay nhỏ.

Tuy nhiên, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh vì tôi đã khai từng làm trong nhà bếp ở Belmore Hotel 3 năm. Một hôm, tôi gõ cửa văn phòng bà giám đốc Georgina Ramsey và thú nhận là tôi chưa bao giờ có kinh nghiệm nhà bếp. Tôi cứ tưởng bà ta sẽ cho tôi nghỉ việc vì cái tội tày trời đó (nói dối ở đây là tội nặng), nhưng bà ta mỉm cười và nói với tôi rằng bà ta đã biết ngay từ ngày đầu là tôi không có kinh nghiệm gì trong nhà bếp (vì tôi khai chỉ mới đến Úc có 2 tháng!), nhưng thấy hoàn cảnh khó khăn của tôi nên cho tôi cái công việc đó và nghĩ tôi có thể sẽ học hỏi từ từ cho quen việc. Bà ta còn nói cho tôi biết rằng trong nhà bếp này có rất nhiều người có bằng cấp cao từ các nước Đông Âu khác chứ chẳng riêng gì tôi. Bà khuyên tôi nên yên tâm làm việc và cuộc sống sẽ ổn định thôi. Trong thời gian này, tôi lân la tìm hiểu, và đúng như bà Ramsey nói, có rất nhiều người tị nạn và di dân từ các nước như Nga, Ba Lan, Hi Lạp, Nam Tư, Hồng Kông, Trung Quốc, v.v. cũng có cùng số phận như tôi. Tôi càng nao núng hơn khi được biết là phần đông họ đã làm việc cả 10 năm trở lên!

Sau khoảng ba tháng làm nghề này, tôi được thăng chức làm phụ bếp. Bệnh viện St Vincent’s có khoảng 600 giường, với độ 400 bệnh nhân. Nhà bếp có 5 đầu bếp chính (chief), và mỗi bếp chính có một phụ bếp (cook assistant) như tôi. Nhiệm vụ của tôi lúc này “nhàn” và oai hơn nhiều so với chức vụ trước. Tôi được cấp đồng phục gồm áo trắng, quần tây carô, cái khăn chef quấn ngang cổ, còn đầu đội nón cao vút như nón của bếp trưởng. Trông rất oai! Nhiệm vụ của tôi là chuẩn bị thịt thà, rau cải cho bếp chính. “Chuẩn bị” ở đây có nghĩa là tôi phải xáo nấu sơ qua và giao cho bếp chính chế biến tiếp. có khi tôi còn được bếp chính giao cho làm luôn khâu thứ hai, tức là khâu chế biến. Tôi học rất nhiều cách chế biến của đầu bếp ở đây: họ dùng bơ sữa rất nhiều trong nấu ăn, họ còn dùng rượu để chế biến thức ăn. Làm việc này có cái “lợi” là tha hồ ăn uống. Thịt bò steak muốn ăn thì tự làm và tự thưởng thức thoải mái, chẳng ai nói gì. Thậm chí có đứa còn năn nỉ nhờ tôi làm cho chúng nó ăn! Nhưng công việc cũng chịu áp lực. Đây là nhà bếp bệnh viện, nên tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm cực kì quan trọng. Mỗi tuần có hai lần thanh tra, và họ đến không báo trước. Thanh tra đi vòng vòng nhà bếp, thấy cái gì không an toàn (như nước nóng chảy mà không có khóa, hay dao để bừa bãi), thiếu vệ sinh (thịt thà không ngăn nắp, rau cải không được xử lí đúng qui trình) là bị phạt ngay. Trước khi thức ăn đem cho bệnh nhân ăn thì có một người kiểm tra nhiệt độ và chất lượng. Tôi còn nhớ họ có cái thước cứ cấm vào soup hay thức ăn để xem nhiệt độ; nếu không đủ nhiệt độ thì tất cả suất ăn phải làm lại. Nếu phạm ba lần thì sẽ bị đuổi. Không có ngoại lệ. Tôi học ngăn nắp nhà bếp từ cách làm việc và tổ chức trong nhà bếp này từ đó. Cho đến nay, mỗi khi đi đâu mà thấy nhà bếp lượm thượm tôi rất bực mình.

Thử nghề ở The Regent

Lúc đó, khách sạn Regent mới mở ở Circular Quay, và họ cần tuyển rất nhiều nhân viên nhà bếp. Lương mà khách sạn trả thì … khỏi chê, gần gấp 2 lần lương của bệnh viện. Thế là tôi đệ đơn xin đi làm ở khách sạn. Tôi được phỏng vấn, và cách họ phỏng vấn cũng rất độc đáo. Họ hỏi đôi ba câu về cá nhân, rồi dẫn xuống nhà bếp, và xem mình làm ra sao. Họ muốn xem tôi có kinh nghiệm như thế nào trong nhà bếp, cách tôi cầm dụng cụ nhà bếp ra sao, cách tôi giữ an toàn vệ sinh thực phẩm, v.v… Đương nhiên, vì tôi có “kinh nghiệm đầy mình” ở bệnh viện St Vincent’s, nên tôi “đánh bại” nhiều ứng viên khác. Thằng Trạng là đứa em đi vượt biên chung với tôi cũng xin vào khách sạn làm nhà bếp, nhưng nó chỉ được nhận là nghề rửa chén. Nó kinh ngạc nhìn tôi trong đồng phục bếp chính (thực là bếp phụ mà thôi) và hỏi: Anh học nghề này hồi nào vậy? Tôi mỉm cười bí hiểm nói: từ 3 tháng trước chứ từ hồi nào, mày làm gì ở đây? Nó nói: em làm bên kia kìa, và chỉ tay về cái máy rửa chén to đùng. Hai anh em “chiến đấu” ở đây một thời gian, thì tôi quay về St Vincent’s vì chịu không nổi làm việc ca đêm. 


(Xin mở ngoặc thêm, khách sạn The Regent nay là Sangri-La, nơi dành cho các khác VIP từ nước ngoài. Ông Nguyễn Phú Trọng từng ở đây. Vài năm trước khi ông còn là Chủ tịch Quốc Hội tôi gặp ông cũng ở đây và có nói cho ông ấy biết tôi từng làm trong nhà bếp của khách sạn này. Hôm đi ăn với anh bạn Nicholas Nguyên ở Sydney Harbour, tôi cũng chỉ qua khách sạn và nhắc kỉ niệm xưa với anh ấy).

Lương của tôi lúc đó là khoảng 200 đô-la một tuần. Sau khi trả tiền phòng, ăn uống, cũng còn khoảng 150 đô-la. Làm một thời gian, tôi có đủ tiền để mua cho mình một chiếc xe ôtô. Tôi và anh bạn tên Sáu Lợi (người cũng từ Thái Lan sang đây trước tôi vài tháng) cầm tiền đi mua xế hộp. Sáu Lợi lái xe đưa tôi đi hết dealer (cửa hàng bán xe) này đến dealer khác, mà tôi vẫn không hài lòng. Đến một dealer ở tận Parramatta, thì tôi thấy một chiếc xe cũ hiệu Toyota Corona đời 1977, giá gần 7000 đô. Tôi ưng ý chiếc xe này lắm lên xe lái thử vài vòng là thấy “êm” rồi, muốn lấy nó về ngay. Nhưng khổ nổi trong túi tôi chỉ có 5000 đô thôi. Tôi và Sáu Lợi kì kèo trả giá, và họ chỉ đồng ý giảm 1000 đô mà thôi, tức tôi vẫn còn thiếu 1000 đô. Sáu Lợi nói “Ông thiếu thì tôi về nhà lấy đưa cho ông mượn”. Sáu Lợi nói thêm: Mua xe là mua loại ngon lành, đừng chơi đồ dỏm mà sau này sửa hoài thì còn tốn tiền hơn. Tôi đồng ý. Trên đường lái xe về nhà, Sáu Lợi đi trước, tôi đi sau. Lần đầu tiên trong đời mình có xe riêng, lại còn tự lái, thong dong trên đường Sydney. Ôi, thú vị làm sao!

Ra toà 

Nhưng tai nạn xảy ra. Sáng sớm hôm đó, như thường lệ, tôi lái xe đi làm ở bệnh viện St Vincent’s. Đến khu Newtown, khu phố cổ với nhiều đường nhỏ tí tẹo vốn thiết kế cho ngựa đi, nên cũng như bao nhiêu người khác tôi lái xe chậm lại. Gần đến một ngã tư có đèn đỏ, khi tôi chạy rất chậm thì một bà đi ngất ngưỡng đâm vào đầu xe tôi. Tôi hoảng quá nên thắng lại ngay, và bà nằm vạ trên đầu xe tôi. Tôi bước xuống xe thì thấy bà là một người thổ dân, hơi rượu nồng nặc. Bà chẳng có thương tích gì, vì không thể có thương tích với một tốc độ 5 km/h như thế. Tôi gọi cảnh sát để làm biên bản, và cảnh sát gọi xe cứu thương đến chở bà đi bệnh viện. Cảnh sát kết tội “negligence” (lơ đễnh) và chờ ngày ra tòa.

Lần đầu ra tòa là cả một kinh nghiệm. Tôi đến tòa án địa phương sáng sớm và lấy số để được xử sớm. Khi vào tòa, tôi đưa mắt nhìn quanh thì thấy rất nhiều người cũng đang chờ được xét xử. Người ta ăn mặct đủ thứ quần áo … chẳng giống ai. Họ cười nói như chẳng có chuyện gì, còn tôi thì bồn chồn lo cho tương lai của mình sẽ mất bằng lái xe. Quan tòa đọc tên tôi và xác nhận có phải là chính tôi. Xác nhận danh tính xong, ông hỏi tôi có luật sư không, thì tôi nói không. Ông hỏi: “Mày có đủ tiếng Anh để trả lời không?” Tôi nói: “Sẽ cố gắng”. Thật ra, trước khi ra tòa, tôi đã tìm hiểu tình trạng của bà nạn nhân. Bà ta không nhập viện, vì chẳng có thương tích gì, và được cho về nhà sau 30 phút khám. Cảnh sát cho tôi biết như thế. Do đó, tôi chuẩn bị những câu nói sẵn như “Sir, I was not negligent, because if that was the case, the woman would be injured. She was not injured and discharged from the hospital within 30 minutes.” (Thưa ngài, tôi không lơ đễnh, vì nếu tôi lơ đễnh thì bà đó đã bị thương rồi. Bà không bị thương và xuất viện trong vòng 30 phút.” Người ta đưa cho tôi một cuốn kinh thánh và bảo phải đọc: “Tôi tuyên bố tôi sẽ nói sự thật, chỉ sự thật, không khác gì hơn là sự thật”. Đọc xong, phía bên cảnh sát họ luận tội tôi và kết luận là lơ đễnh, đề nghị tịch thu bằng lái xe. Tôi cứ một câu mà nói hoài, vì có biết ông tòa nói gì đâu. Đến lần thứ ba, ông quan tòa bật cười và nói “Thằng này không rành tiếng Anh, phải có luật sư mới công bằng”, rồi gõ cái cốp và phán “Hoãn lại! Ra tòa lần sau”! Lần sau, người ta tìm cho tôi một luật sư công (vì tôi không có tiền thuê luật sư tư). Ngày ra tòa gần kề thì tôi lại có việc ở Regent nên không dám lấy giờ đi dự tòa vì sợ mất việc. Thế là tòa xử vắng mặt. Tòa phán quyết rằng tôi lơ đễnh, và hình phạt là tịch thu bằng lái xe trong vòng 1 năm. Thật ra, sau đó, tôi vẫn lái xe đi làm và đi học, vì nếu không lái xe thì lấy gì để đi học cách nhà cả 30 cây số mà không có xe lửa. Cũng may, trong vòng 12 tháng đó chẳng có cảnh sát nào xét bằng lái vì sau một lần tai nạn thì tôi rất cẩn thận trong lái xe.

Nhớ nhà 


Thời đó, bất cứ người tị nạn nào cũng nghĩ rằng sẽ không có ngày quay về Việt Nam, nên ai cũng mang trong lòng tâm trạng nhớ nhà kinh khủng. Mấy năm sau có vài lần đi công tác bên Singapore và Âu châu (tạt ngang qua Thái Lan), tôi cứ nhìn về quê nhà đau đáu nhưng không được về. Có một đêm nằm trong hotel sang trọng ở Bangkok mà ... khóc một mình. Trong cái bối cảnh đó, có người sáng tác nhạc với những ca từ rất ray rức như: Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng / Một ngày qua là một ngày li biệt / Một ngày qua là ta mất nhau rồi / Một ngày qua là muôn kiếp chia phôi. Anh chàng nhạc sĩ Việt Dzũng (mới qua đời) thì có bài "Một chút quà cho quê hương", còn Đức Huy với bài "Khóc một dòng sông"  (Tôi hay nhớ về quê nhà vào buổi chiều / nhất là những buổi chiều mưa rơi / Cũng may Cali trời mưa ít không như Sài Gòn / Nếu không tôi đã khóc một dòng sông ...) mà mỗi lần Ngọc Lan ca là nhiều người khóc một cách tự nhiên. Phải nói, thời đó có những sáng tác về nỗi nhớ Sài Gòn và Việt Nam rất hay vì tác giả viết ra từ cảm xúc rất thật của họ. Phải chi bây giờ có ai đó [dám] làm một luận án về văn học và âm nhạc thời tị nạn đó thì hay biết mấy, vì đó là một giai đoạn rất đáng ghi vào sử sách Việt Nam.

Nhớ quê nên làm cái gì cũng nhớ lại thời còn ở bên nhà. Ra phố đông người mà thấy mình lạc lõng làm sao. Lạc lõng không phải vì tiếng Anh kém, mà vì tâm trạng nhớ nhà. Lúc nào tôi cũng nghĩ phải chi mình mua cái này cái kia để gửi về nhà. Thành ra, có một ca khúc tôi còn nhớ đến nay trong đó có đoạn: Ôi me yêu ơi, con lang thang giữa phố đông người / Tuy phố đông người, nhưng con lạc loài một bóng đơn côi. Ngay cả cái nóng của Sydney vào mùa hè làm tôi nhớ đến cái nóng bên nhà, nên tôi thuộc nằm lòng một bài ca thịnh hành thời đó:

Nắng bên này buồn lắm em ơi!
Một mình anh lê bước trên đời
Nắng nơi đây cũng là nắng ấm
Nhưng ấm sao bằng nắng ấm quê hương

Bây giờ thì người tị nạn đã có thể về quê tương đối bình thường, nên những lời nhạc trên hơi lỗi thời, và ít người còn ca những bài đó nữa. Tuy nhiên, với tôi những lời nhạc trên dù đã được viết ra hơn 30 năm về trước nhưng cho đến nay tôi thấy vẫn phản ảnh đúng tâm trạng của người xa quê, nhất là vào dịp Tết.


Read more ...