Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

Sứ mệnh nghiên cứu của giáo dục đại học

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2015
Nhân dịp đầu năm, tôi muốn chia sẻ cùng các bạn vài suy nghĩ của tôi về sứ mệnh của giáo dục đại học. Thật ra, đây là một bài nói chuyện nhân dịp Trường ĐH Tôn Đức Thắng được cấp 2 bằng sáng chế. Hôm đó, Trường có nhã ý mời tôi nói chuyện với tư cách là một giáo sư thỉnh giảng và giám đốc một lab nghiên cứu ở đây. Tôi vốn quen nói chuyện không có giấy tờ, nhưng lần này Trường nói phải có giấy tờ đàng hoàng (và bản tiếng Anh cho khách nước ngoài nữa) nên tôi phải soạn bài nói chuyện nghiêm chỉnh. Bây giờ thì việc đã xong nên tôi có thể post lên đây để chia sẻ cùng các bạn.
NVT

 *****


Sứ mệnh nghiên cứu của giáo dục đại học
(Bài nói chuyện tại ĐH Tôn Đức Thắng, 8/2/2015)


Kính thưa quí khách,
Kính thưa quí đồng nghiệp,

Tôi rất vinh hạnh có mặt tại đây, ngày hôm nay, để chia sẻ niềm vui và chúc mừng Trường Đại học Tôn Đức Thắng vừa được Cục quản lí bằng sáng chế Hoa Kì (USPTO) cấp bằng sáng chế đầu tiên, và được “gắn sao”. Đây là một thành tựu đáng tự hào của một trường đại học "trẻ" và đang trong thời kì mà nền giáo dục còn nhiều dao động và khó khăn.

Tôi được ban tổ chức mời phát biểu nhân dịp này, với tư cách là một cố vấn của Trường, một giáo sư thỉnh giảng, và một người đang điều hành một nhóm nghiên cứu tại Trường. Tôi suy nghĩ và tự hỏi mình sẽ nói gì nhân ngày vui này, và tôi nghĩ có lẽ đây là dịp để tôi chia sẻ cùng các bạn những suy nghĩ của tôi về sứ mệnh của giáo dục đại học. Đây là một vấn đề không mới, nhưng vẫn còn giá trị thời sự ở nước ta.

Sứ mệnh của giáo dục đại học

Theo tôi, sứ mệnh của giáo dục đại học là theo đuổi 3 lí tưởng: sáng tạo ra tri thức mới, chuyển giao tri thức và kĩ năng đến sinh viên, và phụng sự xã hội. Sáng tạo ra tri thức mới qua nghiên cứu khoa học gần như là một căn cước tính của một thiết chế xã hội có danh xưng "đại học". Chuyển giao tri thức và kĩ năng được thực hiện qua giảng dạy, được xem như là một sứ mệnh mặc định của đại học. Kĩ năng dĩ nhiên không chỉ đơn thuần là kĩ thuật và công nghệ, mà còn là kĩ năng sống. Đại học là một thiết chế xã hội, và không thể đứng ngoài xã hội. Vì thế, một sứ mệnh quan trọng của đại học là phục vụ cho cộng đồng, quốc gia, qua cố vấn, phản biện, và góp phần chuyển giao công nghệ.

Tôi muốn nói thêm về sứ mệnh nghiên cứu của đại học. Nghiên cứu khoa học đã trở thành một lí tưởng cốt yếu, một mục tiêu mang tính mặc định của giáo dục đại học hiện đại. Như tôi nói ở trên, một sứ mệnh quan trọng của đại học là sáng tạo ra tri thức mới, mà tri thức mới chỉ được sáng tạo qua nghiên cứu khoa học. Tri thức dẫn đến cách tân về công nghệ và kĩ nghệ. Do đó, bất cứ nước nào trên thế giới đều nhận thức rằng đại học nghiên cứu là chìa khóa, là tài sản quan trọng của nền kinh tế tri thức trong thế kỉ 21.

Đối với đại học, nghiên cứu khoa học còn có một ý nghĩa rất thực tế: đó là vị trí trên trường quốc tế. Hiện nay, chưa có đại học nào của Việt Nam nằm trong danh sách các đại học hàng đầu thế giới. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào danh sách 100 hoặc 200 đại học hàng đầu thế giới, chúng ta thấy đặc điểm chung là gì? Xin trả lời ngay: là năng lực nghiên cứu khoa học. Tôi đã bỏ công phân tích và đi đến kết luận rằng nghiên cứu khoa học đóng góp 60% vào vị trí của một đại học trong các bảng xếp hạng đại học toàn cầu.

Nghiên cứu khoa học

Năng lực nghiên cứu khoa học thường được thể hiện qua công bố quốc tế. Thật vậy, trên thế giới, người ta dùng số lượng và chất lượng công bố quốc tế để đánh giá và xếp hạng các quốc gia trên trường khoa học. Trong năm 2014, số liệu của Viện thông tin khoa học Hoa Kì (ISI) cho thấy Việt Nam công bố được 2327 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế. Con số này tăng gần gấp 2 so với 5 năm trước. Đó là một tin mừng. Nhưng con số đó chỉ mới so sánh với thời gian trước, chúng ta phải biết mình đang ở đâu trong khu vực. Xin trả lời ngay rằng con số công bố quốc tế của VN chỉ bằng 1/3 của Thái Lan, 1/4 của Malaysia và 1/5 của Singapore. Như vậy, so với các nước trong vùng, năng suất khoa học của VN nói chung còn kém.

Nhưng đó không hẳn là một tin buồn, mà phải xem đó là một cơ hội để phấn đấu. Phấn đấu phải xuất phát từ các đại học. Trường đại học Tôn Đức Thắng sở dĩ được công nhận 3 sao cũng nhờ vào một phần qua công bố quốc tế. Trong 5 năm qua, Trường đã công bố được khoảng 110 công trình khoa học. Điều đáng nói là gần 46% số này được công bố chỉ trong năm 2014. Khoảng 60% công bố quốc tế của đại học Tôn Đức Thắng là do nội lực. Nói như thế để thấy rằng một trường còn “trẻ” nhưng đã có thành tựu như thế là đáng tự hào, và có xu hướng phát triển nhanh.

Nhưng chúng ta không bao giờ được tự mãn. Thành tích về công bố quốc tế chỉ mới là bước đầu, căn bản của một đại học. Khía cạnh quan trọng hơn là chất lượng nghiên cứu. Một trường đại học có thể có hàng ngàn nghiên cứu được công bố hàng năm, nhưng nếu chỉ công bố trên những tập san "làng nhàng", hoặc chẳng ai đề cập đến, hoặc chẳng đóng góp gì đáng kể cho chuyên ngành, thì chỉ là một đống giấy vô nghĩa. Do đó, cần phải quan tâm đến chất lượng nghiên cứu và tác động của nghiên cứu. Khoa học khuyến khích suy nghĩ đến những vấn đề lớn, những tầm nhìn dài và xa. Nên tránh những đề tài tủn mủn, những đề tài "ăn theo" vốn rất phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Việt Nam có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu, nhưng phải là nghiên cứu tốt, nghiên cứu có lí do chính đáng. 

Hợp tác và xây dựng nội lực

Tôi nghĩ có "sao" là một thành tựu quan trọng và đáng kể. Nhưng quan trọng hơn là duy trì được vị trí sao đó. Thật ra, thách thức trong tương lai không chỉ là duy trì, mà còn phát triển và qua đó nâng cao vị trí của trường. Chúng ta cần phải làm nhiều việc để duy trì và phát triển. Nhưng tôi nghĩ ngay đến 2 việc chính: hợp tác nghiên cứu khoa học và xây dựng nội lực.

Hợp tác trong nghiên cứu khoa học có thể ví von như là những dòng chảy khoa học. Khoa học ngày nay là một nỗ lực tập thể. Cái ngày mà khám phá xuất phát từ một cá nhân nhà khoa học đã lùi vào dĩ vãng rất xa xăm. Chúng ta thấy rằng ngày nay, các giải thưởng Nobel thường được trao cho một nhóm nhà khoa học, chứ không phải chỉ một nhà khoa học độc nhất như những năm đầu thế kỉ 20.

André Gide, một nhà văn danh tiếng người Pháp (Giải Nobel Văn học 1947), từng nói rằng nghệ thuật là một sự hợp tác giữa Thượng đế (hay thần thánh) và người nghệ sĩ. Trong khoa học không có thượng đế hay thần thánh, nhưng tôi có thể nói rằng khoa học cũng là một sự hợp tác, nhưng hợp tác giữa người với người.

Khi chúng ta làm việc chung với nhau, chúng ta xây dựng tầm nhìn cho chính mình, nhưng quan trọng hơn là tầm nhìn của người khác sẽ bổ sung vào tri thức của chúng ta, và khi cả hai tầm nhìn được hợp lại chúng ta có một cái nhìn đầy đủ hơn và tốt hơn. Chính nhờ vào hợp tác mà biên cương khoa học mới lúc nào cũng được mở rộng. Ngược lại, không có hợp tác, chúng ta sẽ bị hạn hẹp về tầm nhìn, và khoa học khó có cơ may phát triển.

Nhưng tôi phải mở ngoặc để nói thêm rằng hợp tác nghiên cứu là để chúng ta xây dựng nội lực, chứ không phải lệ thuộc. Tôi nghĩ đây là một khía cạnh quan trọng cần phải lưu ý, đặc biệt đối với các đại học ở Việt Nam. Tại sao tôi nói thế? Trong khoảng 10 năm trở lại đây, khoảng 75-80% các công trình khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học trong danh mục ISI và Scopus là do hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Nói cách khác, các đồng nghiệp nước ngoài đến VN, đề ra ý tưởng, và có thể cả tài trợ cho nghiên cứu, và do đó, không ngạc nhiên họ đóng vai trò chủ đạo trong công bố quốc tế. Nói các khác, nếu không có sự hỗ trợ hay hợp tác với họ, con số công bố quốc tế của VN không đáng kể. Một cách khác để hiểu là: khoa học VN đang trong tình trạng hay có nguy cơ lệ thuộc vào nước ngoài.

Tôi nghĩ quí vị và đồng nghiệp đồng ý với tôi là chúng ta cần hợp tác, và không nên lệ thuộc. Để không lệ thuộc, các đại học VN cần phải xây dựng nội lực. Xây dựng qua năng lực nghiên cứu và hợp tác. Mỗi một dịp hợp tác cần phải biến thành một cơ hội để học hỏi và rút kinh nghiệm. Nếu hợp tác mà không học hỏi được gì thì có thể xem như là một thất bại. Nên xem hợp tác khoa học để không trở thành lệ thuộc vừa là mục tiêu, vừa là thành quả.

Một sự thật đơn giản là: sự thịnh vượng của một quốc gia phụ thuộc vào nhân tài của quốc gia đó. Tương lai của Việt Nam trong thế kỉ này và mai sau tuỳ thuộc vào mỗi công dân được trang bị kiến thức, kĩ năng, và đạo đức cho một cuộc sống phong phú và trọn vẹn trong một xã hội dân chủ, công bằng, và bác ái. Giáo dục đại học đóng vai trò trung tâm cho lí tưởng đó, qua nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức, và phụng sự xã hội.

Thành thật cám ơn quí vị và quí đồng nghiệp đã có mặt ngày hôm nay.


English version 
Research Mission of University Education
 (Talk given at the Ton Duc Thang University, February 8, 2015)


Ladies and gentlemen,
Friends and colleagues,

It is my pleasure to be here today to share the good news with you. As you all know, the Ton Duc Thang University is conferred a 3-star status university. Moreover, the USPTO has granted the first 2 patents to the University for its invention in health technology. It is also the first Vietnamese university that has owned US based patents. These latest  developments represent a significant achievement of a relatively “young” university with so many difficulties and challenges.

For this special occasion, the organizing committee has kindly asked me to speak as an advisor, visiting professor, and director of a research laboratory. I have thought long and hard on what I would say, and I decided to share with you my perspectives on the mission of university education. I must admit that this is not a new theme, but it is highly relevant to the current climate of higher education in Vietnam.

Missions of university education

To me, university education pursues three key missions: creation of new knowledge, student learning, and community engagement. University is where knowledge is created by original research. Student learning, an embedded mission of any university, includes not just acquiring core skills, but also challenging students' approach and view of the world, and sharing experience with other students. University is a social institution, and has the obligation to translate knowledge and learning to improve the welfare of communities and their citizens. Research, learning, and community services are 3 key missions of a university.

I would like to elaborate a little bit more on the research mission. To me, as an academic and a scientist, research is a cardinal value and a purpose of university education. As I mentioned above, research can generate new data which are then transformed into knowledge. Knowledge in turn helps innovate technology and industry. It is thus not surprising that many people would view university as a key asset for success in a knowledge economy in the 21stcentury.   

Research missions of university

For any modern university, research plays a very critical role in university ranking. I myself have spent some time to analyze the ranking data, and found that research output and impact contribute up to 60% of a university's relative position in many league tables. Indeed, a close reading of leading universities in league tables reveals a common denominator: they are all research oriented universities. At present, none of Vietnamese universities is in any list of world's top universities, because research output from Vietnamese universities is still very modest compared with comparable universities in the region.

We all know that the research capacity of a university is commonly assessed in terms of publication output and societal impact. Indeed, most league tables of leading universities use the two metrics for ranking. Data from the Thomson's Institute of Scientific Information indicate that in 2014, Vietnam produced 2327 papers in international peer-reviewed journals. This number represents a 2-fold increase compared with 5 years ago. That is a good news. However, we have to know where we are standing in the region, and I am afraid to say that our position is not that high. Currently, the research output of Vietnam is only 1/3 of Thailand, 1/4 of Malaysia and 1/5 of Singapore. Some may see that position as a bad news, but I would like to see it as an opportunity for further building research capacity.

The recognition of 3-star status for Ton Duc Thang University is also in part based on its research base.  During the past 5 years, the University has published around 1110 original papers in international peer-reviewed journals. Approximately 45% of this output was achieved in 2014 alone – suggesting a rapid upward trajectory. More importantly, about 40% of the output was resulted from national and international collaboration – suggesting an effort of internationalization of the University.

We should never be complacent. A good publication output is only the beginning for a research university. A more important aspect of research is quality / impact. A university can publish thousands of papers in academic journals, but if most of the papers are in mediocre journals and/or have no citations, then those papers are more or less meaningless. We have to pay attention to research quality and impact. We have to think big and think outside the box. We need more research, better research, but research done for the right reasons. 


Collaboration and capacity building

Being conferred 3star status is a significant achievement. However, it is even more important to maintain the status. Actually, one of the University's challenges in the future is to improve the rating. We must work harder to maintain and to advance the University's status in the future. There are many things we can do, but I am thinking of collaboration in research, and capacity building.

Scientific collaboration is commonly seen as a norm, even a virtue in modern research enterprise. Scientific research nowsadays is very much a collaborative endeavor, with many colleagues working on the same project. I myself collaborate with more than 20 colleagues from Asia, Europe, and the US. "Big Science" has arrived, and the image of a lonely genius working in isolation is history. Modern science is increasingly complex, and the complexity calls for collaboration from scientists of multiple disciplines. We have seen that in recent time, Nobel prizes are commonly given to teams of researchers.

There are good reasons to collaborate in scientific research. One of my favorite authors, André Gide, used to say that "Art is a collaboration between God and the artist". In the same vein of thinking, I think we can say that scientific research is a collaboration between men. Research insights can be gained from collaboration, and such insights complements the knowledge of individual scientists. My practical experience suggests that collaboration also enhances research productivity. Scientific collaboration always open a new frontier for research, and lack of collaboration always limits the opportunity for development.

However, I must add that for universities in developing countries, research collaboration is a way to buildresearch capacity. To me, research capacity is an infrastructure of science for a country. A country with strong research capacity is less likely to be dependent on other countries to develop science. During the past 10 years, between 75 and 80% of Vietnamese scientific output have been resulted from international collaboration. While collaboration is a good endeavor, I am concerned that the high level of collaboration puts the country at great risk of scientific dependency.

I think we all agree that Vietnamese universities need to increase national and international collaborations in scientific research. However, collaboration should be done for the purpose of capacity building, not just simply improving research productivity. Acquiring new experience and reducing dependency should be seen as endpoints as well as outcomes in any research collaboration.

A simple fact is that talent matters. The prosperity of Vietnam really comes from her citizens with talent and skill that are equipped by universities. Thus, for a successful knowledge-driven economy, research, learning and community engagement should constitute the key missions of the Vietnamese university education.

Thank you very much for your attention, and thank you all for being here.

Read more ...

Mười nguyên lí để tăng khả năng công bố bài báo khoa học

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013
Đây là một chương mới trong cuốn sách "Từ nghiên cứu đến công bố" của tôi, đang tái bản và sắp "trình làng" nay mai. Nhân lần tái bản này, tôi muốn chia sẻ cùng các bạn 10 nguyên lí để nâng cao khả năng bài báo khoa học được chấp nhận cho công bố. 

Phải nói ngay rằng không có một qui định hay một công thức nào để đảm bảo bài báo khoa học được công bố trên một tập san quốc tế. Tùy theo tập san, xác suất công bố bài báo khoa học có khi chỉ là một sự may mắn. Cùng một công trình và cùng một đề tài, nhưng có công trình được đăng, còn công trình khác thì đành xếp trong ngăn tủ. Tuy nhiên, nếu chúng ta chuẩn bị tốt thì xác suất được công bố vẫn cao hơn là không chuẩn bị. “Chuẩn bị” ở đây có nghĩa là tuân thủ theo một số chỉ dẫn mà những người đi trước hay từng phục vụ trong các ban biên tập vạch ra. Trong thực tế, đã có nhiều bài báo trên các tập san chỉ dẫn cách thức tăng cơ may cho công trình được công bố trên tập san khoa học. Thay vì làm theo kiểu bài bản đó, ở đây tôi chỉ muốn chia sẻ vài kinh nghiệm cá nhân. 

Nguyên lí 1: Cấu trúc bài báo một cách logic

Bài báo khoa học, nhất là trong y học, thường được cấu trúc theo công thức IMRAD (introduction - dẫn nhập, methods - phương pháp, results - kết quả, và discussion - bàn luận). Tuy nhiên cũng có vài tập san có cấu trúc khác với cấu trúc trên, với phần dẫn nhập đến kết quả và bàn luận, còn phần phương pháp thì để sau cùng. Do đó, cần phải xem xét đến qui định của tập san để cấu trúc bài báo cho thích hợp. Nhưng dù là cấu trúc nào, thì tất cả những dữ liệu trong mỗi phần phải được trình bày một cách logic và mang tính liên tục. Nếu phần dẫn nhập đề cập đến 3 mục đích, thì phần phương pháp phải mô tả cách giải quyết 3 mục đích đó ra sao, phần kết quả phải trình bày kết quả cho từng mục đích, và phần bàn luận cũng phải bám sát với 3 mục đích đó.

Nói thì tương đối dễ, nhưng khi bắt đầu viết thì không dễ chút nào, bởi vì một nghiên cứu có rất nhiều dữ liệu, mà trình bày dữ liệu nào để biện minh cho lí giải của mình là một quyết định không dễ dàng. Một qui ước đơn giản là phần kết quả phải ăn khớp với phần phương pháp. Chẳng hạn như nếu phần phương pháp đề cập đến đo đường trong máu, mà phần kết quả không nói gì đến chỉ số sinh hóa này thì đó là điều không chấp nhận được. Do đó, cấu trúc bài báo và dữ liệu trong bài báo đóng vai trò quan trọng số 1 để tăng khả năng bài báo được chấp nhận cho công bố.

Nguyên lí 2: Phát biểu câu hỏi nghiên cứu và lí do nghiên cứu cho rõ ràng

Phần dẫn nhập cần phải trả lời cho được 3 câu hỏi: câu hỏi chung, câu hỏi chuyên biệt, và nghiên cứu này có xứng đáng không?

Một phát biểu về câu hỏi nghiên cứu hay giả thuyết trong phần dẫn nhập rất quan trọng cho người bình duyệt bài báo hiểu được ý định của tác giả là gì và nghiên cứu này nằm ở đâu trong bức tranh tổng thể của chuyên ngành. Cần phải viết bằng cụ thể và đơn giản (không mĩ từ) như "We set out to determine whether condition x produces condition y" để người đọc có thể hiểu dễ dàng. Một phát biểu không rõ ràng, kiểu như "fishing expedition" hay "look-and-see approach" rất “nguy hiểm” vì dễ bị từ chối ngay từ đầu, vì nó cho thấy tác giả không định vị được nghiên cứu của mình nằm ở đâu. Người đọc, cũng như các chuyên gia bình duyệt, thường đặt câu hỏi như tại sao họ làm nghiên cứu này, có câu hỏi nào chưa được trả lời hay không, câu hỏi có đủ tầm quan trọng để mình quan tâm, v.v. Nhưng nếu viết chung chung và không trực tiếp đi vào vấn đề thì rất dễ làm cho chuyên gia bình duyệt bác bỏ bài báo.

Một yếu tố phổ biến trong các lí do từ chối bài báo là tác giả không thuyết phục được tầm quan trọng của nghiên cứu. Ngoài câu hỏi cụ thể mà công trình nghiên cứu muốn trả lời, tác giả cần phải lí giải tầm quan trọng của nghiên cứu, và giúp cho người đọc cũng như người bình duyệt nhận thức được vấn đề và đặt vào bối cảnh của họ. Cách thức để nêu tầm quan trọng là chứng minh rằng vấn đề phổ biến (hay tương đối phổ biến), hệ quả nghiêm trọng về kinh tế và y tế, có ảnh hưởng đến thực hành lâm sàng, v.v.

Nguyên lí 3: Giải thích phương pháp và dữ liệu một cách có hệ thống

Một trong những lí do phổ biến mà chuyên gia bình duyệt từ chối bài báo là họ không hiểu đầy đủ công trình nghiên cứu đã được thực hiện ra sao. Vấn đề này thường do tác giả không mô tả đầy đủ qui trình làm thí nghiệm hay qui trình thu nhập dữ liệu, từ lúc đo lường, công cụ đo lường, đến phân tích dữ liệu, nếu không mô tả đầy đủ thì đồng nghiệp sẽ rất khó lặp lại nghiên cứu.

Một cách viết phần phương pháp là viết theo qui trình … nấu ăn. Qui trình nấu ăn đòi hỏi người thợ nấu phải chuẩn bị nồi niêu, nguyên liệu, gia vị, v.v. và sau đó là làm từng bước một theo một công thức đã được định trước. Tương tự, một nghiên cứu y khoa cũng cần phải mô tả như thế. Chẳng hạn như cách chọn bệnh nhân ra sao, tiêu chuẩn loại trừ và tiêu chuẩn chọn, qui trình theo dõi và xét nghiệm, phương pháp xét nghiệm, v.v. Phải mô tả sao cho người đọc có thể nắm lấy phương pháp và họ có thể lặp lại nghiên cứu - nếu muốn.

Viết phần phương pháp cho đạt là một điều khó khăn cho một tác giả. Điều này đúng vì đối với các công trình có sự hợp tác của nhiều chuyên gia từ nhiều chuyên ngành, thì không ai có thể viết cho thích hợp. Nếu viết quá chi tiết về một phương pháp nào đó (ví dụ như phương pháp xét nghiệm) thì có thể làm cho người đọc chuyên môn về laboratory medicine bắt bẽ, hay nếu viết quá chi tiết phần phân tích dữ liệu sẽ làm cho các người đọc nghi ngờ chắc công trình nghiên cứu có vấn đề. Nếu công trình nghiên cứu được thiết kế tốt thì không cần đến những phương pháp phân tích phức tạp. Do đó, cái khó là làm sao viết không quá sơ đẳng như sinh viên làm bài tập hay trả bài (kiểu như trình bày cả công thức ước tính cỡ mẫu!), nhưng cũng không viết quá chung chung vì sẽ làm cho người đọc nghĩ rằng tác giả chẳng hiểu vấn đề. Chỉ có người trong chuyên ngành có kinh nghiệm mới biết viết như thế nào là đủ. Trong vài trường hợp phức tạp, cách tốt nhất là trình bày một giãn đồ để người đọc dễ theo dõi.

Nguyên lí 4: Cấu trúc phần kết quả và phương pháp ăn khớp nhau

Kinh nghiệm của tôi cho thấy phần lớn những khiếm khuyết trong phần kết quả có thể nằm trong 3 nhóm sau đây: sắp xếp kết quả lộn xộn, trình bày không đầy đủ, kết quả không ăn khớp với phần phương pháp.

Thứ nhất, có những bài báo mà kết quả được trình bày chẳng theo một thứ tự logic nào cả. Tình trạng này dẫn đến lẫn lộn cho người đọc, và họ sẽ rất dễ bỏ cuộc. Thông thường, các nghiên cứu y khoa thường bắt đầu phần kết quả với những thông tin về đối tượng nghiên cứu, sau đó là những kết quả chính, và cuối cùng là những kết quả mang tính củng cố cho phần kết quả chính. Phải có một bảng số liệu, một biểu đồ, hay một bức ảnh “ăn tiền” (còn gọi là money picture) để người đọc biết đó là điểm chính của bài báo.

Thứ hai, có nhiều bài báo mà phần kết quả trình bày không đầy đủ. Không đầy đủ ở đây có nghĩa là tương quan với phần phương pháp. Chẳng hạn như có nghiên cứu viết trong phần phương pháp rằng họ đo lường tỉ trọng mỡ trong cơ thể bằng DXA, nhưng phần kết quả thì chỉ trình bày WHR. Điều này dễ làm cho người đọc nổi giận, vì nói theo người Việt chúng ta là treo đầu dê bán thịt chó. Lại có những bài báo mà tác giả không thấy trình bày kết quả mà họ đã tuyên bố là đã thu thập trong phần phương pháp. Đây là một đại kị, bởi vì nó gây một ấn tượng rằng tác giả có vẻ thiếu thành thật.

Thứ ba, ngược lại trên, có những bài báo mà tác giả trình bày kết quả nhưng không thấy báo cáo trong phần phương pháp! Tôi từng đọc những bài báo tác giả trình bày những kết quả rất phức tạp, nhưng không biết dữ liệu xuất phát từ đâu! Rất nhiều bài báo trình bày kết quả phân tích thống kê nhưng không thấy mô tả trong phần phương pháp phân tích. Tình trạng này làm cho người đọc có cảm giác rằng tác giả chẳng có kế hoạch làm nghiên cứu, mà chỉ là một kiểu tra tấn dữ liệu (data torture) để có kết quả theo ý mình.

Kinh nghiệm cá nhân tôi cho thấy cách viết phần kết quả tốt là cấu trúc theo tiêu đề. Tiêu đề nên bám sát theo phần phương pháp. Cách cấu trúc này cho phép tác giả trình bày kết quả nghiên cứu theo một logic có trước có sau, và người đọc cũng dễ theo dõi. Thông thường một nghiên cứu phải có giả thuyết, và đoạn cuối cùng của phần kết quả nên có dữ liệu yểm trợ hay bác bỏ giả thuyết.

Nguyên lí 5: Viết phần bàn luận gọn và khúc chiết
Kinh nghiệm của tôi cho thấy phần bàn luận (discussion) là phần khó viết nhất. Đây là phần mà tác giả tóm tắt những phát hiện chính, giải thích tầm quan trọng của phát hiện, và chỉ ra những đóng góp vào tri thức cũng như định hướng cho tương lai. Để viết tốt phần bàn luận, tác giả phải tỏ ra am hiểu vấn đề, phải có một tầm nhìn lớn trong một “bức tranh” rộng. Một trong những khiếm khuyết tôi hay thấy là có tác giả viết quá dài (6-10 trang), rất dễ bị xem là nhiều chuyện. Nếu nghiên cứu có kết quả tốt với phương pháp tốt, thì tác giả không cần phải “lí sự” quá nhiều. Ngược lại, có những bài báo mà đọc xong phần bàn luận tôi có cảm giác tác giả chẳng có ý tưởng gì, tất cả chỉ là lặp lại những gì đã trình bày trong phần kết quả. Cả hai cách viết – quá dài và quá ngắn – đều là cách viết không tốt. Cách viết mà tôi đã thí nghiệm và thành công là cấu trúc 6 đoạn như sau:

Đoạn 1: tóm tắt lí do nghiên cứu, giả thuyết, và phát hiện chính.

Đoạn 2: so sánh kết quả với các nghiên cứu trước, và giải thích tại sao có sự khác biệt (hay giống nhau).

Đoạn 3: giải thích “cơ chế” của kết quả; nếu không biết hay không rõ cơ chế, thì đề xuất giả thuyết để giải thích. Đoạn này khó viết nhất.

Đoạn 4: viết về tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn (nếu có) của kết quả nghiên cứu.

Đoạn 5: viết về những ưu điểm và khuyết điểm của nghiên cứu.

Đoạn 6: kết luận.

Nên nhớ rằng trong khi diễn giải kết quả nghiên cứu hay so sánh với các nghiên cứu trước, không được và không nên viết theo kiểu lí luận một chiều. Trong khoa học, bất cứ một kết quả nào cũng phải được giải thích bằng nhiều góc cạnh. Trong nhiều trường hợp, tác giả không ngần ngại nói thẳng rằng kết quả có thể là … ngẫu nhiên.

Nguyên lí 6: Giải thích tại sao kết quả nghiên cứu là quan trọng

Phần lớn các tập san khoa học, nhất là tập san có chỉ số ảnh hưởng cao, không thích công bố những công trình làng nhàng. Họ chỉ muốn công bố những công trình mà kết quả có tầm quan trọng, có ảnh hưởng đến chuyên ngành, có tác động đến chính sách công. Đối với các tập san lớn, họ không thiếu bài, họ chỉ thiếu bài tốt.

Do đó, tác giả cần phải nắm được “tâm lí” trên để viết phần bàn luận, nêu bật được tầm quan trọng của nghiên cứu. Nếu là nghiên cứu có liên quan đến một yếu tố nguy cơ tử vong, tác giả cần phải nêu được giả thuyết nếu can thiệp vào yếu tố này thì sẽ cứu được bao nhiêu người trên thế giới. Nếu nghiên cứu tìm ra được một cơ chế nào đó liên quan đến một bệnh, tác giả có thể giải thích rằng kết quả này mở ra một định hướng mới để theo đuổi. Nên nhớ có 3 loại nghiên cứu: me too (tức lặp lại những gì người khác đã làm và chẳng có gì mới), incremental knowledge (tức có tăng một chút về tri thức), và breakthrough (đột phá). Phải đặt xem nghiên cứu của mình nằm trong loại nào. Có lẽ phần lớn nghiên cứu thuộc vào nhóm incremental knowledge, và vì thế cần phải giải thích sự gia tăng về tri thức có tác động gì đến chuyên ngành và thực hành.

Một trong những mục tiêu của phần bàn luận là dồn người bình duyệt từ vị trí trung dung sang vị trí tích cực. Phần lớn các chuyên gia bình duyệt khi đọc bài báo họ bán tín bán nghi, hay ở vị trí trung dung. Nhưng tác giả muốn tăng khả năng bài báo được chấp nhận, nên cần phải thuyết phục (bằng dữ liệu) để họ chuyển sang vị trí tích cực, tức đứng về giả thuyết của tác giả. Để làm được việc này, tác giả cần phải lí giải được cái phạm vi câu hỏi mà nghiên cứu đã trả lời được, và đã đóng góp vào việc nâng cao tri thức cho chuyên ngành ra sao. Đây là “nhiệm vụ” của đoạn văn số 4 trong phần bàn luận mà tôi đã đề cập trên.

Nguyên lí 7: Tránh “nói quá” kết quả nghiên cứu

Một lỗi hay gặp ở những người mới viết bài báo khoa học là … tham vọng. Những người này thường phát biểu những kết luận “đao to búa lớn” không tương thích với kết quả nghiên cứu. Có lẽ họ quá hào hứng với kết quả đầu tay của mình, cũng có thể họ quen thói quen viết văn theo kiểu … nhà văn, tức là sáo ngữ. Khác với báo chí phổ thông, văn phong khoa học không có chỗ cho sáo ngữ, không có chỗ cho những phát biểu mà không có chứng cứ.

Một cách viết khiêm tốn là dùng những từ bổ nghĩa như probably, possibly, likely, hay ngay cả xác định cũng chỉ highly likely là đủ. Cách dùng từ như thế không phải là thiếu tự tin, mà cho người bình duyệt thấy tác giả là người có cân nhắc. Nên nhớ rằng trong khoa học, đặc biệt là y khoa, không có một cái gì là xác định. Do đó, nếu dùng văn phong xác định là tự chuốc lấy thất bại.

Nguyên lí 8: Giải thích những hạn chế của nghiên cứu

Khoa học thực nghiệm không bao giờ hoàn hảo. Bất cứ một nghiên cứu nào, dù được thiết kế cẩn thận đến cỡ nào, cũng đều có những hạn chế. Nhưng cũng có những thế mạnh. Do đó, tác giả cần phải ghi nhận những điểm yếu, những hạn chế của nghiên cứu. Ghi nhận một cách thành thật, chứ không phải qua loa. Ghi nhận những khiếm khuyết của nghiên cứu không phải là tín hiệu của sự yếu đuối; ngược lại, đó là cách mà tác giả nói cho người bình duyệt biết rằng tôi đã suy nghĩ cẩn thận và có cách trả lời những vấn đề tôi nêu. Ngoài việc nêu những hạn chế, tác giả cũng có thể viết về sự ảnh hưởng của những hạn chế đến kết quả nghiên cứu. Chẳng hạn như nếu số lượng đối tượng quá ít (có lẽ do bệnh hiếm) thì kết quả có thể không đáng tin cậy, và cần phải ghi nhận điều này.

Có một cách nêu những hạn chế nhưng lại là một cách … tự khoe mình! Đây là kiểu lí giải mang tính dựng nên một hình nộm, rồi đánh ngã hình nộm đó và xem như là một chiến tích! Chẳng hạn như trong một nghiên cứu về vitamin D, chúng tôi phải tìm ra một điểm yếu để nói, và cuối cùng chúng tôi nghĩ điểm yếu đó là chúng tôi chỉ phân tích được nồng độ D3 trong máu mà không đo lường được D2. Sau khi nêu sự hạn chế này, chúng tôi trình bày dữ liệu của các nghiên cứu trước cho thấy D2 thật ra chỉ chiếm 1-3% tổng số vitamin D, nên dù không đo được, thì kết quả cũng chẳng bị ảnh hưởng tiêu cực gì! Nhưng cách lí giải này cần phải cẩn thận, vì nếu không thì rất dễ bị cho là self-serving (giống như tự khen, tự sướng).

Nguyên lí 9: Viết về những kết quả ngoài dự kiến

Cũng như bất cứ một công trình nghiên cứu tốt nào cũng có hạn chế, nhiều nghiên cứu cũng cho ra những kết quả ngoài dự kiến. Đó là những kết quả không nhất quán với giả thuyết, những dữ liệu nằm ngoài phạm vi, những quan sát … lạ (nói theo cách nói của báo chí ngày nay). Khi những quan sát lạ này xảy ra, tác giả cần phải ghi nhận chúng và cung cấp một vài lời giải thích khả dĩ. Nếu không giải thích được thì phải thành thật thú nhận là … không biết. Trong khoa học, không biết một điều gì đó không phải là yếu kém, càng không phải là một tội lỗi. Trong vài trường hợp cá biệt, chính những kết quả lạ này lại dẫn đến những khám phá quan trọng. Do đó, tác giả không nên bỏ qua, mà phải ghi nhận và chú giải cẩn thận.

Nguyên lí 10: Tuân thủ theo đề nghị của các chuyên gia bình duyệt

Nhiều tác giả mất bình tĩnh khi đọc bản nhận xét của các chuyên gia bình duyệt. Họ xem các chuyên gia bình duyệt là những kẻ thiếu thiện chí, chỉ gây phiền phức, và cản bước tiến của họ. Nhưng trong thực tế, đại đa số các chuyên gia bình duyệt khá công tâm, họ không phải là người gây phiền phức; họ chỉ muốn làm người gác cổng tốt mà thôi. Dĩ nhiên, cũng có những chuyên gia bình duyệt trẻ con, tỏ thái độ nhỏ mọn, và có thành kiến, nhưng số này rất ít trong cộng đồng khoa học nghiêm chỉnh. (Tôi không nói ở Việt Nam, tôi nói cộng đồng khoa học quốc tế). Do đó, nếu tác giả nghĩ xấu về các chuyên gia bình duyệt thì chính họ đánh mất cơ hội để cải tiến bài báo của họ.

Các chuyên gia bình duyệt là một số nhỏ trong nhóm độc giả. Tuy số nhỏ, nhưng họ là những người có kinh nghiệm và uy tín, đủ để đánh giá một công trình khoa học. Nếu những thông tin trong bài báo làm cho họ lẫn lộn, thì chắc chắn các độc giả khác cũng lẫn lộn. Vì thế, không nên xem thường những nhận xét của các chuyên gia bình duyệt, mà phải đọc kĩ và trả lời họ một cách nghiêm túc. Kinh nghiệm tôi cho thấy sau khi trả lời và chỉnh sửa, bài báo thường tốt hơn.

Không gì bực bội hơn cho các chuyên gia bình duyệt (những người làm việc hoàn toàn tự nguyện, chẳng nhận đồng lương hay thù lao nào) khi những đề nghị của họ bị lờ đi. Phớt lờ những đề nghị của họ là một nguy hiểm, vì họ có thể đề nghị từ chối bài báo. Nếu tác giả không làm theo đề nghị của họ thì cũng phải lí giải cụ thể và lịch sự. Khoa học là môi trường bình đẳng, nếu tác giả bất đồng ý kiến với các chuyên gia bình duyệt thì cũng có thể nói thẳng, chứ không nên e ngại.

Nói tóm lại, viết và công bố một bài báo khoa học là một việc khó khăn, đòi hỏi một kế hoạch tốt, làm việc khó khăn và trong cô đơn. Nhưng nếu các bạn làm theo 10 nguyên lí tôi vừa trình bày, các bạn sẽ có một lợi thế lớn trong sự cạnh tranh công bố quốc tế. Những nguyên lí này cũng đáp ứng phần lớn những khiếm khuyết mà các chuyên gia hay thấy trong các bản thảo. Do đó, tuân thủ theo những nguyên lí trên cũng là một cách giảm thiểu những sai lầm trong quá trình soạn thảo bài báo, và nâng cao xác suất công bố công trình nghiên cứu.

Trích "Từ nghiên cứu đến công bố", tái bản lần thứ nhất (sẽ phát hành nay mai).


Read more ...