Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn đào tạo tiến sĩ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đào tạo tiến sĩ. Hiển thị tất cả bài đăng

Nghiên cứu khoa học ngành kinh tế ở VN: èo uột

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Mới đọc một bài phỏng vấn Gs Lê Văn Cường (Pháp) bàn về việc lập một đại học kinh tế ở VN (1), mà theo cách nói, tôi đoán là kiểu London School of Economics (?) Bài phỏng vấn có nhiều nhận xét tôi thấy đáng chú ý về trình độ nghiên cứu sinh ở trong nước.



Gs LVCường cho biết rằng rất nhiều công trình nghiên cứu của giảng viên các đại học kinh tế ở VN chỉ "ngang tầm những công trình của một sinh viên vừa tốt nghiệp năm thứ nhất (M1), hay năm thứ hai (M2) Master của các đại học kinh tế ở châu Âu." Qua khảo sát các website của trường đại học ông đi đến nhận xét rằng "Số giảng viên làm nghiên cứu có bài đăng tạp chí quốc tế tốt rất nhỏ bé so với số lượng giảng viên những trường ấy. Như thế làm sao có thể đào tạo được nhiều nghiên cứu sinh tốt?"

Tôi thử làm một thống kê nhanh về số bài báo liên quan đến ngành "Business and Economics" trên các tập san trong thư mục ISI trong thời gian 2010-2014 thì kết quả như sau:

Việt Nam: 178 bài
Thái Lan: 483 bài
Mã Lai: 1076 bài
 
Phi Luật Tân: 352 bài
Singapore: 2188 bài.

Đây là vấn đề chưa bao giờ cũ ở VN. Trước đây, Gs Trần Văn Thọ cũng đã vài lần chỉ ra rằng nhiều luận án tiến sĩ kinh tế ở VN không thể xem là “tiến sĩ”, bởi vì phẩm chất khoa học còn kém quá. Đề tài nghiên cứu chẳng có cái mới. Tính khoa học cũng không cao, vì đề tài nghiên cứu chỉ xoay quanh những “giải pháp” mang tính đối phó và cấp địa phương. Hôm nọ, trong một hội thảo ở Sài Gòn, tôi có nghe một báo cáo của một anh phụ trách đào tạo thuộc một đại học lớn ngoài Hà Nội mà trong đó anh cho biết có gần 70% nghiên cứu sinh tiến sĩ là quan chức, kể cả quan chức cấp tỉnh! Anh ấy còn kể nhiều chuyện cười ra nước mắt. Chẳng hạn như anh ấy kể rằng một hôm anh lên trình bày với hiệu trưởng là phải chấn chỉnh lại chương trình đào tạo tiến sĩ, hạn chế mấy ông quan, anh hiệu trưởng nhìn anh rồi nói: P à, anh muốn trường mình bị đóng cửa hay sao chứ? Mình cần họ lắm đó, vì trong tương lai họ sẽ lên Bộ và mình làm ăn dễ hơn. Anh P lắc đầu ngao ngán và nhận ra rằng con đường cải cách còn rất gian nan.

Tôi nghĩ ngành khác, ví dụ như ngành y, thì cũng như Gs LVCường và Gs Trần Văn Thọ nói thôi. Trước đây, tôi cũng có chỉ ra rằng nhiều luận án tiến sĩ y khoa ở VN không thể xem là tiến sĩ, bởi vì đề tài nghiên cứu thiếu cái mới, phương pháp hoặc là sai hoặc là chưa đạt chuẩn khoa học, qui mô thì quá nhỏ và đơn giản, nói chung là phẩm chất khoa học kém quá. Cho dù người ta có tạo ra những qui trình và thủ tục rườm rà (làm như rất chặt chẽ) thì vẫn không thể nào khoả lấp được cái khoảng trống về khoa học.

Ngành y còn có một vấn đề khác nữa: đó là khi họ đã lên bậc thầy cô thì họ bận lo phòng mạch, làm kinh tế, giảng dạy chỉ là phụ, và nghiên cứu thì chỉ là chuyện bên lề. Do đó, nghiên cứu y khoa của VN, cũng như ngành kinh tế, còn rất yếu. Những nghiên cứu công bố trên các tập san trong nước nhìn chung có phẩm chất khoa học rất thấp, đến nỗi chính thầy cô cũng không tin và không dùng những nghiên cứu đó dù chính họ làm hướng dẫn. Phải nói là một tình trạng rất trớ trêu!

Cũng may phước là trong ngành y đang hình thành một số nhóm nhỏ đang có nỗ lực xoay chuyển tình thế. Những nhóm này làm nghiên cứu thật, và có công bố quốc tế đàng hoàng. Nhưng khổ nỗi là họ ít khi nào được hỗ trợ thích đáng từ các cơ quan tài trợ Nhà nước. Họ cũng chẳng được ai ghi nhận, vì các trường/viện họ chạy theo danh xưng "Chiến sĩ thi đua" chứ chẳng ai quan tâm đến nghiên cứu khoa học thứ thiệt và công bố quốc tế. Do đó, tôi phải mở ngoặc ở đây để khen -- phải nói là khen – Hội HOSREM đã có sáng kiến trao giải thưởng cho các nhà nghiên cứu nghiêm chỉnh. Ước gì các hiệp hội lớn có sáng kiến như Hosrem để góp phần vực dậy nền khoa học. Sắp tới, ĐH Tôn Đức Thắng cũng sẽ lập giải thưởng danh giá cho nhà khoa học tài ba theo tiêu chuẩn quốc tế.

Quay lại câu chuyện ngành kinh tế, còn nghiên cứu sinh VN ngành kinh tế ra nước ngoài học thì sao? Gs LVCường tỏ ra thất vọng, và cho biết có nhiều người sang Pháp học về tay trắng (vì học không nổi), hoặc phải học Master thôi. Tại sao? Tại vì, theo Gs Cường: ""rất nhiều người không có đầy đủ kiến thức kinh tế để làm luận án, kiến thức toán yếu, tiếng Anh lẫn tiếng Pháp cũng kém." Tôi nghĩ "toán" ở đây chính là "thống kê học". Nói tóm lại là vấn đề kiến thức, phương pháp nghiên cứu, và kĩ năng mềm. Đó là những kĩ năng mà sinh viên VN nói chung rất yếu so với đồng môn nước ngoài.

Tôi và vài bạn đang cố gắng giúp để nâng cao các kĩ năng đó trong nhiều năm qua. Sẵn dịp, tôi phải nhắc lại là khoa học về phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội (kể cả kinh tế) do Trường ĐH Tôn Đức Thắng tổ chức sắp hết hạn đăng kí. Hôm qua tôi hỏi về con số đăng kí thì biết là người ta gọi điện hỏi thăm thì nhiều, còn đăng kí thì nói … chờ đến gần ngày. Xin nói thêm là đến ngày 20/5 thì khoá sổ, và cũng như lần trước, ban tổ chức sẽ không xét thêm, không nhân nhượng, không "tại, bị, do, bởi, vì" (mấy lí do này nghe quen quá), không đăng kí thêm. Nói như thế không có nghĩa là lớp học thiếu người đâu (đừng nghĩ như thế mà lầm to), mà là tôi sẽ không làm lớp thứ hai trong nhiều năm. Trước đây, Viện Khoa học Xã hội và ĐHQGHN có đề nghị mở lớp học như thế này, nhưng cho đến nay vẫn chưa có động đậy gì, nên tôi nghĩ chắc họ không cần. Dạo này, có tuổi rồi, giảng một lượt vài chục bài là thấm mệt (hồi xưa thì không sao), nên tôi phải hạn chế lớp học và tận dụng công sức để lo cho nhóm nghiên cứu ở trong nước. Cũng không có thu hình như nhiều bạn đề nghị vì Trường không có người làm. Chi tiết lớp học ở đây:


====


Read more ...

Tiến sĩ: xứ người thừa, xứ ta thiếu

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2014
Tôi nhớ nhạc sĩ Từ Công Phụng có lần trả lời phỏng vấn nói rằng ông lúc nào cũng quan tâm đến cái buồn, sau cái vui lúc nào cũng đến cái buồn, thậm chí trong lúc vui ông cũng nghĩ đến cái buồn. Nghĩ về giải Nobel cũng thế. Sau cái vui, hồ hởi, hứng thú, khích lệ khi thấy người ta được trao giải Nobel, là đến lúc nghĩ về thực tại: nỗi buồn thân phận của người postdoc.



Một bài báo trên tờ Boston Globe cung cấp cho chúng ta một bức tranh màu đen về số phận của các nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ (dân trong nghề gọi là "postdoc" – tức "postdoctoral fellow"). Nói một cách ngắn gọn: Mĩ đào tạo quá nhiều tiến sĩ, làm cho các đại học không kịp "tiêu hoá", nên nhiều postdoc phải sống vất vưởng.

Chỉ tính riêng ngành y sinh, mỗi năm các đại học Mĩ ghi danh 16000 nghiên cứu sinh tiến sĩ; trong số này, khoảng 9000 người tốt nghiệp sau 6-7 năm miệt mài nghiên cứu. Trong số 9000 tốt nghiệp, khoảng 5800 có vị trí postdoc, và 30% không làm postdoc. Tính trung bình, mỗi tiến sĩ tiêu ra 4 năm làm nghiên cứu postdoc, trước khi trở thành độc lập (xuống núi hành hiệp). Hiện nay, chỉ tính riêng ngành y sinh học, có khoảng 37000 đến 68000 postdoc, và họ phải cạnh tranh tìm việc làm.

Tuy chẳng ai biết Mĩ hiện đang có bao nhiêu postdoc cho tất cả các bộ môn khoa học, nhưng con số ước tính có thể lên đến 90000, và phân nửa số này là người nước ngoài (2). Theo một chuyên gia kinh tế, trong thời gian 2005-2009, các đại học Mĩ chỉ có 16,000 vị trí giáo sư còn trống. Do đó, mỗi khi một vị trí giáo sư được quảng cáo, có hàng trăm đơn xin việc từ các postdoc. Tình trạng này không chỉ ở Mĩ mà còn ở Canada. Chỉ tính năm 2007, các đại học Canada sản xuất ra 4800 tiến sĩ, nhưng cả nước chỉ có 2616 vị trí cho chức danh giáo sư (3).
Dù may mắn có được vị trí giáo sư (Assistant Professor) rồi, postdoc vẫn phải cạnh tranh để xin tài trợ làm nghiên cứu. Ở các nước như Mĩ, Canada, và Úc, một giáo sư trẻ mà không tìm được tài trợ (grant) thì coi chừng bị mất việc. Một thống kê bên Mĩ cho thấy tuổi trung bình xin được grant R01 (loại grant dành cho nhà khoa học độc lập) là 42 tuổi! Còn nếu học MD-PhD thì con số này là 44 tuổi! Đầu thập niên 1990, tuổi trung bình xin được R01 chỉ 39 tuổi. Nói cách khác, nhà khoa học càng ngày càng lão hoá.

Những con số trên đây cho thấy một bức tranh ảm đạm về sự nghiệp khoa học ở Mĩ. Trớ trêu thay, Mĩ vẫn là nơi thu hút nhân tài khắp nơi trên thế giới, và tình hình cạnh tranh càng ngày càng ác liệt. Mà, trong thực tế, chẳng phải Mĩ, các nước khác ở Âu châu, Úc, Canada cũng có tình trạng như thế. Nhiều người bắt đầu lên tiếng phải làm gì với các postdoc, chẳng lẽ để họ vất vưởng sau bao nhiêu năm đào tạo? Nhưng câu hỏi quan trọng nhất là "tiền đâu" mà mướn họ, trong khi ngân sách dành cho khoa học càng ngày càng eo hẹp.

Ở VN ta và các nước phát triển thì tình hình ngược lại. Việt Nam đang thiếu tiến sĩ thật trầm trọng. Trong số hơn 60,000 giảng viên đại học hiện nay, chỉ có khoảng 15% là có bằng tiến sĩ. Nhà nước định nâng con số này lên 25% trong vòng 5-10 năm nữa, và đó là một mục tiêu khó đạt.

Do đó, tôi nghĩ tại sao mình không nhân dịp này mà thu hút postdoc từ nước ngoài. Họ là những người được đào tạo bài bản, hay nói theo tiếng Việt là "xịn" (chứ không phải dỏm), và là một nguồn nhân lực rất tốt. Thế thì câu hỏi là VN có thể thu hút postdoc từ nước ngoài không? Thật ra, đã có trường như ĐH Tôn Đức Thắng đang ráo riết tuyển postdoc từ nước ngoài, nhưng chưa biết lương họ trả là bao nhiêu vì chỉ thấy để "negotiable" (4).

Tôi nghĩ câu hỏi đúng ra phải là: VN có tiền mướn postdoc hay không. Một postdoc hiện nay lương trung bình khoảng 60,000 đến 70,000 USD một năm. Nếu họ chấp nhận đến VN làm việc, thì đồng lương vẫn phải từ 30,000 USD trở lên (tức 2500 USD/tháng). Số tiền này tính ra Đồng thì chẳng phải là nhỏ, nhưng tôi nghĩ VN có thể trả được. Ở Thái Lan, tôi biết họ trả lương cho postdoc trong nước là khoảng 3000 USD/tháng, còn postdoc nước ngoài là 4000 USD/tháng. VN mình còn nghèo, trả 2500 USD là ok, là quá "đẹp" rồi. Tôi nghĩ một cách khác mình có thể làm trội hơn Thái Lan là đặt chế độ miễn thuế thu nhập cho postdoc từ nước ngoài đến VN, và hỗ trợ nơi ăn ở cho họ. Với chính sách như thế tôi nghĩ có thể giúp VN nhanh chóng "catch-up" các nước trong vùng.

=====

(4) Email: Ton Duc Thang University is inviting applications for a number of full-time research positions based at the Ho Chi Minh City campus. Applicants should have a PhD degree and a good track record of peer-reviewed publications. The University is also looking for candidates with innovative research programs that can contribute to the internationalization of the University. 

While applicants from any research field are welcome, the University gives priority to the following research fields: Information technology, data science and system engineering, electronics and electrical engineering, biotechnology, economics, nuclear physics, mechanics, mathematics, statistics, civil engineering, environmental sciences, healthcare supporting technologies, bones and muscle, pharmacy, law, art and humanity, and social sciences.
Kindly circulate this information among your colleagues that might be interested.

Thank you very much.

Yours sincerely,

Nguyen Thi Mai Huong, MSc
Department for Management of Science and Technology Development
Address: Nguyen Huu Tho St., Tan Phong Ward, Dist. 7, HCM City, Vietnam
Website: www.tdt.edu.vn/
E-mail: nguyenthimaihuong1@tdt.edu.vn;

Read more ...

Đào tạo tiến sĩ: không chỉ là luận án

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

Những ai đã từng hướng dẫn nghiên cứu sinh ở các trường đại học phương Tây nếu đọc qua qui trình bảo vệ luận án tiến sĩ ở VN chắc phải kinh ngạc (1). Kinh ngạc vì thủ tục hành chính quá ư phức tạp, chứ không phải vì nội dung khoa học. Nhĩn kĩ những thủ tục hành chính được đặt ra hình như không phải để nâng cao chất lượng nghiên cứu, mà là xuất phát từ sự thiếu tin tưởng vào nghiên cứu sinh và người hướng dẫn.  Mất hay thiếu niềm tin tưởng trong học thuật và khoa học là một thảm hoạ.



Vì thủ tục hành chính rườm rà nên khi kiểm tra thì vẫn phát hiện “vi phạm” hành chính.  Theo một thống kê do Bộ GDĐT công bố, có đến phân nửa những trường hợp được kiểm tra làm không đúng qui trình (2). Nhưng điều đáng nói là 3% trong số luận án thẩm định không đạt yêu cầu, nên phải thành lập hội đồng thẩm định lại. Như vậy, phải nói rằng qui trình đặt ra là có vấn đề, vì nếu qui trình đơn giản và dễ hiểu thì tại sao có đến phân nửa vi phạm. Cho dù con số 3% là chưa cao về mặt lượng,  nhưng về mặt phẩm chất thì chỉ vài luận án không đạt tiêu chuẩn cũng đủ để gióng tiếng chuông báo động.

Học tiến sĩ không chỉ là luận án

Ở VN, rất nhiều người hướng dẫn và cả nghiên cứu sinh rất quan tâm đến luận án, và tôi nghĩ mối quan tâm đó không hợp lí. Nhiều người hướng dẫn và nghiên cứu sinh có quan điểm cho rằng luận án là một cứu cánh của việc học, đồng thời cũng là phương tiện để có văn bằng tiến sĩ. Ngày xưa khi mới vào học chương trình tiến sĩ, vì chịu ảnh hưởng “quan điểm Việt Nam” nên tôi cũng rất quan tâm đến luận án. Đến khi một buổi, giáo sư hướng dẫn kêu tôi lên văn phòng và nói thẳng: “Tôi thấy anh quá lo cái luận án mà không lo đến việc công bố bài báo khoa học; tôi phải nói thẳng rằng anh rất sai lầm về lựa chọn đó; luận án của anh rồi cũng chỉ tồn tại trên cái giá sách kia [ông đưa tay chỉ về giá sách với hàng chục luận án từ thập niên 1970s] chứ có ai đọc đâu, chính anh cũng không đọc nữa; bài báo khoa học mới có giá trị lâu dài; luận án chỉ là tập hợp những bài báo khoa học.” Sau này, tôi mới thấm thía lời nói đó của vị thầy hướng dẫn.

Bài báo khoa học là một đóng góp quan trọng của nghiên cứu sinh khi học tiến sĩ. Bài báo là một đúc kết những phương pháp và kết quả nghiên cứu về một chủ đề nào đó, và phải trải qua một qui trình bình duyệt của các chuyên gia trong cùng ngành và có chuyên môn về chủ đề nghiên cứu. Khi công bố bài báo khoa học, nghiên cứu sinh có cơ hội hệ thống hoá kiến thức, trao dồi kĩ năng viết báo khoa học, và kinh nghiệm đối phó với các chuyên gia bình duyệt (mà cũng là đồng nghiệp của mình trong tương lai). Nếu bài báo được công bố trên các tập san có chỉ số ảnh hưởng cao, nghiên cứu sinh có cơ hội “thành danh” sớm hơn các nghiên cứu sinh khác. 

Bài báo khoa học còn là một cái “acid test” cho nghiên cứu sinh. Khi bài báo đã qua bình duyệt và được công bố, nó được tất cả các đồng nghiệp trong ngành đọc và săm soi. Nếu bài báo có vấn đề thì sẽ có đồng nghiệp lên tiếng phê bình.  Phần lớn nghiên cứu sinh đều vui mừng khi biết bài báo được tập san chấp nhận cho công bố, nhưng sau đó thì hồi hộp sau khi bài báo được công bố vì e rằng có gì chưa ổn và bị người khác phát hiện. Do đó, có thể nói rằng công bố những gì nghiên cứu đã nghiên cứu qua bài báo khoa học là một hình thức “thử lửa” tốt nhất cho nghiên cứu sinh.

Ở các đại học Úc và Anh, luận án tiến sĩ thực chất là tập hợp những bài báo đã công bố nhưng phải viết lại chi tiết hơn để thành một monograph. Ở các đại học Bắc Âu, các nghiên cứu sinh gộp những bài báo đã công bố kèm theo chương dẫn nhập và kết luận thành một luận án. Nói chung, hai “mô hình luận án” ở Úc và Bắc Âu rất giống nhau. Dĩ nhiên, luận án cũng có thể bao gồm những bài báo chưa công bố kịp.  Thông thường, một nghiên cứu sinh công bố 2-3 bài báo trước khi soạn thảo thành một luận án. Với mô hình này, luận án xem như đã được cộng đồng khoa học trong chuyên ngành trên thế giới thông qua, chứ không phải chỉ vài người xét duyệt.

Qui trình bảo vệ luận án

Như đề cập trên, qui trình bảo vệ luận án ở VN quá phức tạp và nhiêu khê. Hiếm có nơi nào trên thế giới mà nghiên cứu sinh phải bỏ tiền túi ra làm nghiên cứu mà còn phải đứng ra tổ chức buổi lễ bảo vệ luận án, với đầy đủ “thủ tục” bao thư cho người phản biện!

Tôi cho rằng qui trình bảo vệ luận án tiến sĩ ở VN có thể đơn giản hoá cho gọn nhẹ hơn.  Một trong những qui trình mà VN có thể tham khảo là cách làm của các đại học Úc. Tôi thấy các đại học ở Bắc Âu và Bắc Mĩ cũng có mô hình duyệt luận án giống như Úc. Ở Úc, qui trình thẩm định luận án theo mô hình bình duyệt kín, giống như qui trình bình duyệt một bài báo khoa học. Qui trình này có thể mô tả như sau:

Bước 1, chuẩn bị danh sách người bình duyệt. Trước khi nghiên cứu sinh nộp luận án, nhà trường yêu cầu người hướng dẫn cùng nghiên cứu sinh bàn bạc để đề cử 3 người có thể bình duyệt luận án. Trường cũng có một danh sách các chuyên gia khác bình duyệt.

Bước 2, bình duyệt. Sau khi luận án được nộp, trường sẽ gửi cho 2-3 chuyên gia bình duyệt, nhưng cả người hướng dẫn và nghiên cứu sinh không biết trường đại học chọn ai làm người bình duyệt. Chỉ biết rằng trong số các chuyên gia được chọn, phải có ít nhất một người nước ngoài. Sau 3 tháng bình duyệt, các chuyên gia sẽ gửi một bản thẩm định về ý tưởng, phương pháp, kết quả, hình thức trình bày của luận. Kèm theo bản thẩm định là đề nghị chấp nhận luận án, cần chỉnh sửa, và bác bỏ luận án.

Bước 3, chỉnh sửa. Phần lớn luận án sau khi qua bình duyệt đều phải chỉnh sửa vài chi tiết nhỏ. Tôi có một nghiên cứu sinh dù đã công bố 5 bài báo khoa học trên các tập san IF cao, thế mà sau khi qua bình duyệt, nghiên cứu sinh vẫn phải trả lời gần 60 câu hỏi và phê bình. Nghiên cứu sinh sau khi nhận được bản thẩm định sẽ trả lời từng câu hỏi, nhận xét của chuyên gia, và đồng thời chỉnh sửa luận án theo yêu cầu.

Bước 4, hội đồng học thuật ra quyết định. Sau chỉnh sửa luận án, nghiên cứu sinh nộp luận án cho trường. Theo định kì 4 lần mỗi năm, Hội đồng học thuật của trường sẽ họp và xem xét báo cáo thẩm định của các chuyên gia, đối chiếu với phản biện của nghiên cứu sinh, và sẽ ra quyết định sau cùng. Thông thường, hiện nay, thời gian từ lúc nộp luận án đến khi có quyết định sau cùng là khoảng 6 tháng, nhưng cũng có trường hợp kéo dài đến 9 tháng vì có khi các chuyên gia yêu cầu làm thêm thí nghiệm (hiếm xảy ra).

Ở Úc không có buổi lễ bảo vệ luận án như cách làm khá màu mè ở VN. Ở Viện tôi, trong suốt thời gian theo học, mỗi năm nghiên cứu sinh phải trình bày tiến độ và kết quả nghiên cứu trước toàn viện (khoảng 500 nhà khoa học). Ngoài ra, mỗi tuần nghiên cứu sinh phải dự họp lab, và mỗi 2 tháng phải báo cáo kết quả nghiên cứu trước lab. Trước khi trình luận án, nghiên cứu sinh còn có một buổi báo cáo sau cùng trước toàn Viện, và sau đó là một buổi tiệc nhỏ để … mừng nghiên cứu sinh (dù luận án mới được nộp). Nghiên cứu sinh không tốn một đồng nào cho qui trình trên.

Tôi nghĩ rằng một qui trình như thế cũng có thể áp dụng ở VN, với điều kiện nghiên cứu sinh VN phải có công bố quốc tế. Nếu nghiên cứu sinh không có công bố quốc tế, việc thẩm định luận án rất khó khăn, vì có những vấn đề trong luận án mà một chuyên gia có khi không phát hiện. Khi công bố thì luận án được trình bày trước cộng đồng khoa học quốc tế nên khi có vấn đề thì dễ bị phát hiện hơn.

Theo qui định mới của Bộ GDĐT về đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu tiến sĩ phải có một bài báo khoa học đăng trên một tập san quốc tế hay kỉ yếu hội nghị. Nhưng tôi nghĩ qui định này chưa đạt. Bàiđăng trên kỉ yếu hội nghị khó có thể xem là bài báo khoa học, vì rất nhiều hội nghị khoa học không có bình duyệt nghiêm chỉnh. Trong ngành y, các bài trong kỉ yếu hội nghị không được tính trong bảo vệ luận án. Còn nói “tập san quốc tế” cũng chưa đủ, phải nói là tập san có bình duyệt (peer review) và có impact factor.

Một cách lí tưởng, học vị tiến sĩ là một loại “hộ chiếu quốc tế” để tham gia nghiên cứu khoa học. Trong một vài phát biểu trước, tôi có đề nghị rằng, để đảm bảo tính quốc tế của học vị tiến sĩ ở trong nước, mỗi đề án nghiên cứu cấp tiến sĩ ở vài ngành khoa học, nên mời ít nhất là một giáo sư uy tín ở nước ngoài tham gia hướng dẫn nghiên cứu và luận án.  Sự có mặt của các giáo sư quốc tế như thế sẽ giúp cho nghiên cứu sinh có thêm thông tin, học thêm về phương pháp khoa học, và nhất là thiết lập mối bang giao khoa học sau khi tốt nghiệp rất cần thiết cho giai đoạn nghiên cứu hậu tiến sĩ như tôi nói ở phần trên.

Nhưng trong thực tế, luận án chỉ là một phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ, những phần khác còn quan trọng hơn là những kiến thức chuyên ngành và kĩ năng khoa học mà nghiên cứu sinh tiếp thu trước khi trở thành một nhà khoa học chuyên nghiệp và độc lập (3). Do đó, học tiến sĩ không chỉ là làm đẹp luận án. 

Chú thích:

Bài đã đăng trên Tuần Việt Nam dưới tựa đề "Tiến sĩ Việt bao giờ thành hộ chiếu quốc tế".  

(1) Thư của GS Pierre Darriulat gửi Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam

(2) Xem bài “Nhộn nhạo như đào tào tiến sĩ” (Tuổi trẻ), http://tuoitre.vn/Giao-duc/623929/%E2%80%8Bnhon-nhao-nhu-dao-tao-tien-si.html

(3) Trong ngành y sinh học, tổ chức IUBMB đã đề ra 7 tiêu chuẩn cho một học vị tiến sĩ như sau (xem Vella F.  Standards for the Ph.D. degree in the molecular biosciences.  IUBMB Life 1999; 48:567-576)

Bảy tiêu chuẩn chung cho một học vị tiến sĩ về y sinh học

1.    Nắm vững các kiến thức cơ bản về sinh lí y học, di truyền học, vật lí, hóa học, sinh hóa học, và toán học.
2.    Am hiểu y văn về lĩnh vực chuyên môn và cập nhật hóa kiến thức liên quan đến lĩnh vực chuyêm môn.
3.    Kĩ năng phát hiện vấn đề hay nêu câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu.
4.    Làm chủ được kĩ thuật thử nghiệm lâm sàng hay thí nghiệm khoa học cơ bản.
5.    Kĩ năng truyền đạt thông tin bằng viết, nói, và thuyết phục.
6.    Nắm vững kĩ năng thiết kế và tiến hành một công trình nghiên cứu.  
7.    Thí sinh phải chứng tỏ mình am hiểu tiếng Anh, và có khả năng sử dụng hay ứng dụng công nghệ thông tin.





Read more ...